 | Thông tin liên quan: Cái ao rau muống07/01/2010 04:21' PM Những câu hỏi thôi thúc tôi xách máy ảnh đi miết các vùng ven thị, với hy vọng muốn góp một bức ảnh, một mẩu tin để tìm câu trả lời thiết thực giải quyết tình trạng không còn ruộng, ao cho người nông dân vùng đang đô thị hóa! "Tôi sợ nhất tư duy bảo sao làm vậy"01/06/2009 04:54' PM Ở góc độ người trực tiếp tham gia, điều hành các chính sách Nông Nghiệp-Nông thôn, nguyên Bộ trưởng, Phó thủ tướng phụ trách Nông nghiệp-nông thôn, Nguyễn Công Tạn, thẳng thắn: “Tư duy hồi đó của lãnh đạo ta chỉ có như vậy tôi cũng không hơn…”. Với mười năm ở cương vị cao nhất của ngành nông nghiệp (1987-1997), và là người chứng kiến, khởi động, điều hành nhiều chương trình lớn: 5 triệu hecta rừng, 1 triệu tấn mía đường, cấp 1 hóa giống lúa lai… Những chương trình ấy được gì, mất gì và tại sao thành công vẫn còn khiêm tốn? "Dù muộn cũng phải nói..."25/03/2009 01:05' PM Thế là sau ba mươi năm kể từ ngày mất, "cha đẻ của khoán hộ" - ông Kim Ngọc (1917-1979) - đã được truy tặng huân chương cao quý bậc nhất của Nhà nước ta, mang tên một con người vĩ đại - lãnh tụ Hồ Chí Minh, người mà ông Kim Ngọc đã có vinh dự tháp tùng trên nhiều nẻo đường, thửa ruộng miền trung du đất Tổ... 7 nỗi khổ của người nông dân12/03/2009 02:01' PM Nông dân còn quá nghèo, việc giải quyết giảm nghèo chưa gắn liền với việc phát triển kinh tế nông thôn nên chưa bền vững, vẫn còn có thể tái nghèo. Giáo sư Amartya Sen, người Mỹ gốc Ấn Độ, được giải Nobel chỉ ra rằng cái người nghèo cần không phải giúp họ tiền mà là các điều kiện để phát triển kinh tế (đất đai, công cụ, trâu bò và kỹ năng) và quyền được hoạt động để thoát khỏi cảnh nghèo, tức là cần “cần câu” chứ không phải “con cá”. Đừng để người dân lẻ loi05/03/2009 11:40' AM Nếu như các cơ quan chức năng đã tốn không biết bao nhiêu công sức, khó khăn để đưa vụ việc xả nước thải trái phép của Vedan ra ánh sáng thì nhiệm vụ tiếp theo có ý nghĩa không kém phần quan trọng cả về pháp luật lẫn đạo lý là buộc công ty này phải khắc phục hậu quả do hành vi phạm pháp của họ gây ra. Hoang vắng như nhau03/03/2009 11:02' AM Làng tôi chỉ có hai, ba ngàn nhân khẩu nhưng có một cái đình to thuộc loại to nhất xứ Đoài, to đẹp hơn bất kỳ nhà văn hóa huyện, tỉnh nào bây giờ. Nó được dựng vào đầu những năm 1840. Và dĩ nhiên, niềm tự hào lớn nhất của dân bất cứ làng nào cũng là cái đình làng mình. Cần phát động chương trình quốc gia: Mỗi xã một giá trị tạo ra sản phẩm quốc gia17/02/2009 09:03' AM Sự thật Việt Nam là đất nước muộn phát triển kinh tế phải chú trọng tập trung khai thác các lợi thế từ nông nghiệp ở nông thôn và bởi nông dân... ở quy mô và sự quan tâm mạnh mẽ tầm Quốc gia, nghĩa là từ sự chỉ đạo của Chính phủ cho đến sự tham gia của mọi người dân... Con trâu và chuyện “Tam nông”16/01/2009 10:37' AM Nhắc đến con trâu lại nhớ đến những ngày sôi nổi chuẩn bị cho SEAGAME tổ chức tại Việt Nam. Cuộc tranh luận để tìm chọn “vật linh” biểu tượng cho giải thi đấu này “gút lại” là con Trâu và chú Tễu. Rốt cuộc con trâu đã được chọn... Chuyện hỉ, nộ, ái, ố về kiến trúc nông thôn16/01/2009 10:11' AM Chuyện về kiến trúc nông thôn trong thời kỳ mới là câu chuyện dài, nó có đủ cả hỉ, nộ, ái, ố như đời người vậy. Đi tìm một mô hình kiến trúc nông thôn mới đòi hỏi không chỉ tài năng, mà hơn cả là cái tâm, lòng yêu quê hương của các nhà quản lý, quy hoạch, kiến trúc sư, cùng sự tham gia, sẻ chia của toàn xã hội. Nông dân cần được đối xử công bằng26/07/2008 12:54' PM “Tam nông” là thuật ngữ du nhập từ Trung Quốc, còn “Chính sách về tam nông” là ta đang học tập kinh nghiệm từ nước bạn, song như lời ông Lê Huy Ngọ- Nguyên Bộ trưởng Bộ NN&PTNT đã nói: “Không phải kinh nghiệm nào của nước ngoài áp dụng vào nông nghiệp Việt Nam đều tốt, nếu như ta không vận dụng nó phù hợp với thực tiễn của nước mình”... Mấu chốt “tam nông”10/07/2008 11:29' AM Đất nước hơn 80% là nông dân, phần lớn người thành phố cũng từ nông thôn, nông dân mà ra. Nếu đời sống của hơn 80% dân số không được cải thiện, công cuộc mưu sinh còn trắc trở thì đất nước chưa thể nào “cất cánh“... Nông dân nghèo - mối nguy của xã hội05/06/2008 08:42' AM Sau hơn 20 năm đổi mới, lần đầu tiên hiện tượng đầu cơ gạo xuất hiện không chỉ làm giá gạo tăng vọt mà còn tạo nên cú sốc toàn xã hội. Bờ xôi ruộng mật chính là hồn Việt06/05/2008 08:33' AM Từ chỗ không đủ ăn đến chỗ là nước đứng thứ nhì về xuất khẩu gạo, vào loại xuất khẩu hàng đầu về nhiều nông phẩm nhiệt đới như cao su cà phê, tiêu, điều và gần đây thủy sản cũng chiếm vị trí rất cao trong xuất khẩu... thì rõ ràng là nông nghiệp, nông thôn Việt Nam đã có một bước chuyển mình rất lớn... Mắc nợ nông thôn22/04/2008 08:45' AM Mình còn mắc nợ nông thôn những gì và phải làm gì để bù đắp cho những mất mát của làng quê Việt Nam trước những đổi thay của thời cuộc... Toàn cầu hóa chênh lệch giàu nghèo16/04/2008 07:44' PM Trên các phương tiện thông tin đại chúng, không chỉ ở Việt Nam mà hầu như trên toàn thế giới, người ta nói rất nhiều về sự nghèo đói và hiện tượng chênh lệch giàu nghèo. Tuy nhiên, ở đây có một điểm cần làm rõ, đó là phải phân biệt sự nghèo đối với khoảng cách chênh lệch giàu nghèo, sự nghèo đói và chênh lệch giàu nghèo với nhận thức về chúng... |
Vấn đề tam nông đến thời điểm này, khi mà công cuộc đổi mới đã đi được chặng đường 22 năm ta mới đặt ra cấp thiết, theo tôi là quá muộn. Song dù muộn vẫn còn hơn không và tôi với cương vị một công dân lâu nay trăn trở với nó, xin góp một đôi lời.
Thực tế cho thấy, nếu lấy mốc Đại hội Đảng VI mà xét thì trong 5 năm đầu đổi mới kinh tế đất nước (1986- 1991) ta chỉ thắng lợi ở lĩnh vực nông nghiệp từ chỗ thiếu ăn Việt Nam đã vươn lên là nước xuất khẩu gạo hàng đầu của thế giới; còn ở các lĩnh vực kinh tế khác dường như chúng ta đã gặp nhiều thất bại:
Thứ nhất, ta đổi mới vấn đề phân phối lưu thông dẫn đến lạm phát phi mã, đổ vỡ tín dụng và đặc biệt hỗn loạn là phong trào đục tường, phá rào để mở cửa hàng buôn bán vòng vo trốn lậu thuế (nhà nhà đục tường chiếm lấy mặt tiền, các cơ quan công sở, trường học cũng phá tường rào xây ki-ốt cho thuê khiến bộ mặt đô thị trở nên nhếch nhác, vô chính phủ).
Thứ hai, ở lĩnh vực công nghiệp, đặc biệt là các ngành cơ khí, khai thác mỏ ta càng đổi mới càng bung bét, dẫn tới kiệt quệ bằng công thức “BAD” nghĩa là các công ty, xí nghiệp đua nhau bán ăn dần vật tư, thiết bị, nguyên nhiên liệu còn sót lại của thời bao cấp để mà tồn tại qua ngày. Trong 5 năm ấy, xã hội xuất hiện một phong trào “Chi chô mếch” khiến công nhân viên chức đua nhau bỏ việc cơ quan đi làm nghề chỉ chỏ mối hàng cho đám “con phe”mua bán vòng vo kiếm hoa hồng… Nhắc lại những sự thật không thể quên thời kỳ đó để ta càng thấm thía một điều đau lòng: Nông dân là người có công đầu đổi mới, nhưng ít được thụ hưởng kết quả đổi mới, thậm chí phải gánh chịu nhiều sự thua thiệt. Có thể nói, từ năm 1992, nhất là từ sau Đại hội Đảng VIII (1996), sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đạt nhiều thành công có phần đóng góp đáng kể của chính sách mở cửa và nguồn vốn đầu tư nước ngoài, nhưng không thể phủ nhận nguồn vốn tích lũy ban đầu cho sự nghiệp ấy (cả về tiền ngoại tệ mạnh và uy tín quốc tế) lại nhờ vào thắng lợi của 5 năm đầu đổi mới trong nông nghiệp mang lại. Lẽ ra trên đà thắng lợi của nông nghiệp, ngay từ năm 1992, chúng ta phải nghĩ ngay đến vấn đề tam nông, hoàn thiện hàng loạt chính sách đối với nông nghiệp, nông thôn và nông dân.
Nhìn lại vai trò nông dân trong lịch sử
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lê đều đã từng nói, khâu yếu nhất của chính quyền cai trị ở mọi thời đại, mọi thể chế chính trị đều là nông thôn. Điều này càng đúng với lịch sử Việt Nam ta suốt 2000 năm qua. Thời kỳ 1000 năm Bắc thuộc, mọi biến động chính trị dẫn đến khởi nghĩa nông dân giành độc lập đều xảy ra ở thời điểm và địa bàn nông thôn mà thế lực cai trị phương Bắc áp dụng những chính sách sai lầm hà khắc nhất, điển hình là cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan (Mai Hắc Đế) được châm ngòi nổ bởi sự đối xử dã man của lũ quan áp tải đồ cống nạp về nước đối với những người vận chuyển hàng, trong đó có chàng trai nông dân lực điền họ Mai. Thời kỳ độc lập tự chủ dưới các triều đại phong kiến khoảng 900 năm thuộc thiên niên kỷ thứ hai, Việt Nam rất hiếm thấy sự biến động chính trị lớn khởi nguồn từ mâu thuẫn giữa các thế lực chính trị cung đình hay ở kinh đô, ngoại trừ 2 cuộc thoán ngôi của Hồ Quý Ly thời Trần và Mạc Đăng Dung thời Lê. Giai đoạn lịch sử hỗn tạp, chứa nhiều bất ổn định về an ninh chính trị nhất là khoảng gần 100 năm cuối thời vua Lê- chúa Trịnh thì cũng chỉ có vài cuộc bạo loạn nhỏ và tức thì ở Đông Đô, do đám kiêu binh gốc quê xứ Thanh gây rối kiểu lưu manh chính trị, còn chủ yếu và cực kỳ gay cấn, đe dọa triền miên sự tồn vong của chính thể là 6 cuộc khởi nghĩa và hơn 20 vụ bạo động lớn nhỏ của nông dân, trong đó có tới 9 vụ liên quan đến đất đai bị quan lại, cường hào cưỡng chiếm. Nếu chỉ xét trong giai đoạn lịch sử cận hiện đại ở Việt Nam, Trung Quốc và nhiều quốc gia nông nghiệp khác, tôi lại nhớ nhà cách mạng Đặng Diễn Đạt (TQ) năm 1924 đã bị phê phán, khai trừ ra khỏi quốc tế cộng sản vì bất đồng quan điểm, khi ông cho rằng ở phương Đông không hề có khái niệm cách mạng vô sản mà chỉ có khái niệm về cuộc đại cách mạng nhân dân, lấy nòng cốt là những nông dân nghèo không có ruộng hoặc mất ruộng mà thôi. (Tuyển tập Đặng Diễn Đạt- Nxb Bắc Kinh 1991). Lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng ta trong gần 80 năm qua cũng đã chứng minh các bậc tiền bối cộng sản luôn khôn khéo nắm lấy phong trào nông dân, tuyên truyền tổ chức họ thành đội quân chủ lực của cách mạng nên đã đạt được những thành công rực rỡ, xứng đáng được cả dân tộc thời đó ghi nhận là chính đảng duy nhất nắm quyền lãnh đạo đất nước đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong hai cuộc kháng chiến của dân tộc vào nửa cuối thế kỷ XX, tư tưởng chiến lược lấy nông thôn bao vây thành thị là một sáng tạo tuyệt vời của nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh cách mạng do Đảng cộng sản phát động và lãnh đạo. Thế nhưng thực tế chiến tranh ở Việt Nam là lấy yếu đánh mạnh nên chiến tranh kéo dài, sự hy sinh của nông dân là vô cùng to lớn, bất cứ người lãnh đạo nào khi điều hành đất nước mà quên đi sự hy sinh ấy là có tội với lịch sử. Theo tìm hiểu của tôi, 30 năm sau cuộc chống Mỹ, hiện chúng ta có 1,1 triệu liệt sĩ, trong đó 500 ngàn có mộ chí quy tập rõ danh tính, 300 ngàn được quy tập nhưng khuyết danh và 300 ngàn chưa tìm thấy hài cốt để quy tập. Đây là một thực tế đau lòng làm âm ỉ nỗi đau, chua xót trong các gia đình nông dân bấy lâu lang thang khắp nơi tìm mộ người thân. Việc chăm sóc phần mộ người đã khuất là tập quán lâu đời và thiêng liêng của dân tộc ta. Vậy mà khi tham gia cộng tác với nhóm trí thức trẻ chủ trương lập trang Web “Nhắn tìm đồng đội”, tôi đã từng chứng kiến nhiều gia đình nông dân tuy người thân có mộ đã quy tập về nghĩa trang liệt sĩ nào đó, ghi rõ danh tính, quê quán mà bản thân gia đình không hề biết, vẫn lang thang tìm kiếm?!
Từ thực tế lịch sử về vai trò người nông dân trong xã hội Việt Nam như vừa điểm trích theo thư tịch cổ và các tộc phả vùng đồng bằng Bắc Bộ, kết hợp tham khảo một số công trình nghiên cứu về văn hóa, xã hội học, lịch sử của Nguyễn Đổng Chi, Đoàn Văn Chúc, Tô Duy Hợp, Trần Ngọc Vương, Nguyễn Quang Ngoc…, tôi thiết nghĩ, ta có thể tóm lược thân phận người nông dân Việt Nam trong tiến trình lịch sử ở 3 cấp độ dân quyền: Thời phong kiến tập quyền (Lý- Trần- Lê- Nguyễn), họ cam chịu thân phận con người Thần dân, chỉ biết ngoan ngoãn chấp nhận quyền lực của vua chúa, còn bản thân không hề được vua ban phát một thứ quyền gì. Thời nô lệ mất nước, họ tình nguyện tự chuyển hóa thành thân phận con người Quốc dân, dám chấp nhận mọi sự hy sinh để giành độc lập cho đất nước, bản thân không hề đòi hỏi một thứ gì về quyền và lợi. Sau Cách mạng mùa thu năm Ất Dậu, lẽ ra người nông dân đã có thể được hưởng thân phận con người Công dân một cách đầy đủ như mọi dân tộc ở các nước văn minh trên thế giới, nhưng vì hoàn cảnh chiến tranh hết chống Pháp rồi chống Mỹ nên người nông dân một lần nữa vẫn sẵn lòng hy sinh, chấp nhận thêm 30 năm trong thân phận con người Quốc dân. Đáng tiếc, đã 30 năm kể từ ngày thống nhất đất nước, trong tư tưởng một số người vì nhiều lý do kém thuyết phục cứ muốn níu kéo người nông dân ở mãi thân phận con người Quốc dân, chỉ biết yêu cầu họ hy sinh và đóng góp cho công cuộc phát triển mà đôi khi phớt lờ những đòi hỏi chính đáng về quyền tư hữu, một thứ quyền rất cơ bản của con người Công dân trong xã hội hiện đại. Và đó chính là nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn đến sai lầm trong chính sách tam nông suốt một thời gian dài.
Sơ lược về hiện trạng nông nghiệp- nông thôn và nông dân 20 năm gần đây
Trước hết nói về nông nghiệp, từ năm 1992, sau thắng lợi của 5 năm đầu đổi mới, nông nghiệp Việt Nam hầu như không có sự phát triển mang tính bứt phá nào đáng kể, thậm chí ở nhiều nơi, nhiều lúc đã có sự sa sút. Đó là thực tế không thể không lo ngại ở một nước vẫn đang còn chiếm 70% dân số làm nông nghiệp. Cần phải nói rõ hơn về cái gọi là thắng lợi trong nông nghiệp giai đoạn 5 năm đầu đổi mới tuy rất to lớn, nhưng thực chất chỉ nhờ vào thay đổi cơ chế quản lý, giải phóng sức lao động ở nông thôn chứ chưa hề có sự tham gia đầu tư bài bản của Nhà nước và cũng rất ít hàm lượng khoa học kỹ thuật đóng góp vào quá trình sản xuất. Vì không nhìn thấy rõ bản chất của vấn đề như vậy nên ta đã sớm ngủ quên trong thắng lợi, lơ là quản lý, thiếu đầu tư cho thủy lợi và nghiên cứu khoa học để cải tạo giống cây trồng, vật nuôi, công nghệ chế biến. Năm 2005, tôi cùng nhà văn Minh Chuyên về Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long làm phim tài liệu, rất xúc động trước tài năng và nhiệt huyết của đội ngũ cán bộ khoa học nơi đây. Họ đã làm hết sức mình cho nền nông nghiệp nước nhà, song lẽ ra họ còn làm được nhiều hơn thế nếu Nhà nước quan tâm đầu tư thỏa đáng. Làm sao ta có thể yên lòng khi miền Tây Nam Bộ so với Thái Lan có cùng điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu nhưng họ chỉ trồng 1- 2 vụ/năm, còn ta trồng 3 thậm chí 4 vụ trong năm; giá thành 1 tấn thóc của ta cao hơn họ song chất lượng gạo họ cao hơn, giá trị xuất khẩu 1 tấn gạo của họ cũng cao hơn ta rất nhiều! (giá gạo Thái Lan trước năm 2006 có loại đạt tới 750 USD/tấn so với 260- 280 USD/tấn của Việt Nam) Làm sao ta có thể chấp nhận một thực tế là đội ngũ khoa học về cơ khí nông nghiệp rất đông đảo, nhiều người có học hàm học vị cao lại thua một anh Hai Lúa trong thiết kế máy gặt, máy hút bùn… cho nông dân! Lỗi này ở nhà khoa học 1 phần thì ở Nhà nước 10 phần nặng hơn…
Nông nghiệp bấp bênh thể hiện rõ nhất ở khả năng chống chịu với thiên tai, dịch bệnh còn yếu kém. Cơ sở hạ tầng cho nông nghiệp phát triển bền vững chưa bảo đảm, từ hệ thống đê sông, đê biển, hệ thống thủy lợi từ công trình đầu mối đến kênh mương, hệ thống giống, bảo vệ động thực vật, thu hoạch bảo quản, cơ sở chế biến. Thiệt hại vật chất do thiên tai, dịch bệnh hằng năm rất lớn, lên đến trên dưới 1% GDP, tác động chủ yếu đối với nhóm ngành nông, lâm nghiệp - thủy sản, trong khi nhóm ngành này hiện chỉ còn chiếm 20% GDP. Tốc độ tăng giá trị sản xuất nhóm ngành nông, lâm nghiệp - thủy sản mấy năm nay có xu hướng giảm dần (năm 2000 tăng 7,3%, năm 2005 tăng 4,9%, năm 2007 tăng 4,6%), trong đó nông nghiệp còn giảm mạnh hơn (tương ứng là 5,4%, 3,2% và 2,9%); còn tốc độ tăng giá trị sản xuất chăn nuôi giảm mạnh liên tục trong ba năm nay (năm 2005 tăng 11,4%, năm 2006 tăng 7,3%, năm 2007 tăng 4,6%) và liên tục bị dịch cúm gia cầm, dịch lở mồm long móng, dịch lợn tai xanh đe dọa. Sản lượng lương thực bình quân đầu người đang giảm dần. Diện tích đất trồng lúa đang giảm mạnh trong khi dân số cả nước vẫn còn tăng lớn. Theo kết quả điều tra tại 16 tỉnh, thành phố về tình trạng đất nông nghiệp bị thu hồi để xây dựng khu công nghiệp, khu đô thị (KCN, KĐT) vừa được Bộ NN&PTNT công bố, trong vòng 5 năm qua, cả nước đã có hơn 366.000 ha đất nông nghiệp bị thu hồi. Trong khi dân số và nhu cầu lương thực đang ngày một gia tăng, đất nông nghiệp lại đang bị nhiều địa phương thu hồi một cách vô tội vạ. Tình trạng này đã diễn ra trong một thời gian dài đã khiến cho người nông dân nhiều địa phương trong cả nước rơi vào tình trạng không có đất canh tác. Phần lớn số tiền đền bù đất mà người nông dân nhận được, chủ yếu được dùng vào việc mua sắm, xây dựng nhà ở; rất ít người dùng tiền đền bù để đầu tư chuyển sang ngành nghề khác. Điều này đã dẫn đến tình trạng, số lao động dôi dư (nhất là lứa tuổi từ 35-60) tại các địa phương trong cả nước chiếm số lượng rất lớn. Tài liệu nghiên cứu ở Vụ Lao động - việc làm (Bộ LĐ-TB&XH) năm 2007 cho biết, trung bình mỗi hộ nơi bị thu hồi đất có 1,5 lao động mất việc làm; trong đó, đứng đầu là Hà Tây (35.703 người), Vĩnh Phúc (22.800 người), Đồng Nai (12.295 người)... Theo giải thích của những người có trách nhiệm ở địa phương thì sở dĩ xảy ra tình trạng này là vì số nông dân tại các nơi đó được tuyển dụng vào làm việc tại các KCN chiếm tỷ lệ rất ít do trình độ lao động, tay nghề không đáp ứng được nhu cầu. Tuy nhiên gần đây, khi về Phù Chẩn- Bắc Ninh viết bài về những tiêu cực trong thu hồi đất, tôi đã có cơ hội tìm hiểu rõ hơn thực trạng này ở một tỉnh sát kề thủ đô Hà Nội. Từ năm 2001 đến nay, tỉnh Bắc Ninh đã thu hồi hơn 3.000ha đất nông nghiệp. Theo kế hoạch, đến năm 2010, Bắc Ninh sẽ có tổng số 8 KCN tập trung và việc thu hồi đất chắc chắn sẽ không dừng ở con số trên. Cũng theo dự kiến, đến năm 2015, Bắc Ninh sẽ có 14-15 KCN tập trung và phải thu hồi diện tích gần 8.700ha. Số đất này đã chiếm tới hơn 10% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh. Thế nhưng chỉ tiếp cận một dự án liên quan đến điểm nóng Phù Chẩn đã thấy ở Bắc Ninh tồn tại nhiều vấn đề sai lầm nghiêm trọng về chính sách tam nông. (Xem bài trên Văn Nghệ Trẻ số 14 và 17+ 18, bộ số năm 2008). Chúng ta không thể công nghiệp hóa bằng mọi giá, thu hồi đất vô tội vạ, bất chấp mọi phản ứng của nông dân như ở Phù Chẩn bởi vì rõ ràng chính quyền cơ sở ở đây đã coi trọng lợi ích nhà đầu tư hơn cả sự sống còn của hơn 8000 nông dân! Mở rộng việc khảo sát ra vài tỉnh khác tôi cũng thấy tình trạng tương tự. Tỉnh Hưng Yên có 53.000 ha đất nông nghiệp. So với năm 2003, giảm khoảng 5.000 ha. Đất nông nghiệp giảm mạnh là do bị thu hồi để làm các KCN, đường giao thông, nhưng nông dân bị thu hồi đất không được đền bù thỏa đáng dẫn đến khiếu kiện vượt cấp triền miên... Thanh Hóa, dù quá trình đô thị hóa công nghiệp hóa tại đây chưa thực sự mạnh mẽ, nhưng hiện tượng thu hồi đất nông nghiệp chuyển sang mục đích sử dụng khác là vấn đề rất đáng quan tâm. Ở các vùng ven đô TP Thanh Hóa, các thị xã như Bỉm Sơn, Sầm Sơn, có rất nhiều hộ dân bị thu hồi hết đất nông nghiệp. Ngay tại làng Tạnh, phường Đông Vệ, TP Thanh Hoá, Nhà nước cũng thu hồi mất 1/2 diện tích đất nông nghiệp. Khi thu hồi, Nhà nước và doanh nghiệp có hỗ trợ cho các hộ dân mấy chục triệu đồng/ sào Trung Bộ để tìm việc làm, nhưng gần như chẳng có ai tìm được việc làm bằng số tiền hỗ trợ đó. Cũng vì thế, các tệ nạn xã hội phát triển mạnh hơn, ảnh hưởng không nhỏ đến an ninh trật tự địa phương. Đảng bộ và chính quyền tỉnh Thanh đã phê duyệt quy hoạch chi tiết 8 khu công nghiệp phục vụ chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa xứ Thanh bao gồm: Lễ Môn, Lam Sơn, Hà Trung, Bỉm Sơn, Vân Du- Thạch Thành, Như Thanh, Hậu Lộc và đặc biệt là khu kinh tế trọng điểm Nghi Sơn. Riêng khu công nghiệp hóa dầu Nghi Sơn đã chiếm hết 1,8 ngàn ha ruộng đất của 12 xã thuần nông, song khi tôi cộng tác với VTV làm phim tài liệu về dự án này chỉ thấy lãnh đạo tỉnh hồ hởi phát biểu về tầm quan trọng của dự án được đầu tư nhiều tỷ USD mà không thấy nói gì về an ninh lương thực và ổn định đời sống cho nông dân 12 xã này sau khi bị thu hồi hết đất nông nghiệp.
Khoảng 3-4 năm lại đây, trong việc thu hồi đất giao cho chủ đầu tư nước ngoài, đáng quan ngại nhất là nhiều vị lãnh đạo địa phương bị mê hoặc bởi mối lợi trước mắt đã dấy lên phong trào ký duyệt vô tội vạ dự án làm sân golf nằm gần thành phố, thị xã làm mất đi diện tích lớn trồng lúa nước tốt nhất. Ai cũng biết sân golf có đặc điểm chiếm đất nhiều, thu hút lao động rất ít và là lao động không có tay nghề. Đối tượng phục vụ của sân golf là những ông chủ nước ngoài đang sinh sống ở Việt Nam và những cư dân đô thị giàu có. Nhìn ra các nước ta thấy họ đầu tư sân golf ở những nơi đất trống đồi trọc, vừa để cải tạo môi trường, vừa thu lợi từ lớp người giàu. Còn ở ta, số ông chủ nước ngoài không nhiều, khách đến sân golf là lớp người mới giàu phất lên, học làm “dân quý tộc” nên mới chỉ tập chơi golf là nhiều. Họ muốn có chỗ chơi ở gần đô thị lớn nên chỉ một tỉnh Long An đã có đến 34 dự án sân golf, đa phần là ruộng tốt trồng lúa. Mới đây dư luận lại xôn xao phản ứng ông Phó chủ tịch Long An vừa ký thêm một dự án cho người Hàn Quốc xây dựng nghĩa trang sinh thái Vĩnh Hằng trên diện tích 25 ha đất trồng lúa cao sản nổi tiếng một thời.
Một hiện tượng mất ruộng canh tác tốt ở các tỉnh, huyện miền núi ít được các nhà quản lý quan tâm và dư luận báo chí đề cập, nhưng với cách nhìn của tôi cũng rất đáng lo ngại. Đó là tình trạng xây dựng các công trình thủy điện vừa và nhỏ tràn lan như hiện nay. Mỗi công trình hồ chứa thủy điện dù nhỏ cũng đều lấy đi hàng chục đến hàng trăm ha ruộng trồng lúa nước ở thung lũng giữa núi và trước núi. Ở các nơi đó, diện tích trồng lúa vốn đã rất khan hiếm, nếu mất đi ngần ấy diện tích là tỷ lệ không nhỏ, ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh lương thực của đồng bào các dân tộc trong vùng. Mặt khác, nếu không có sự nghiên cứu, tính toán kỹ lưỡng thì việc có quá nhiều công trình thủy điện vừa và nhỏ sẽ tác động tiêu cực trở lại đối với động thái dòng chảy của các lưu vực sông lớn, đe dọa cả các hồ chứa nước ở các công trình thủy điện lớn quốc gia…
Tôi luôn cảm thấy ray rứt trước lời của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, khi còn sống có lần ông phải thốt lên: “Nông dân của ta đang bị gạt ra rìa khỏi sự phát triển đất nước!” Nói như vậy vẫn còn nhẹ bởi thực tế nhiều địa phương qua tham vọng phát triển công nghiệp và đô thị hóa đã vô tình đẩy nông dân vào chỗ bị bần cùng hóa. Thử hỏi nếu một địa phương chưa hội đủ các yếu tố về nhân lực, vật lực và các yếu tố cần thiết để có thể phát triển công nghiệp, chưa có bài toán cho lối ra của nông dân khi bị thu hồi đất thì liệu có phát triển công nghiệp được không? Và qui hoạch để xây dựng các khu công nghiệp làm gì khi mà vẫn chưa có thể giải quyết được hậu quả từ việc thu đất của nông dân? Với nông dân, có đất coi như là đã sống vì ít nhất họ cũng đủ cơm ăn từ những thửa ruộng của mình. Giờ đây, khi đất canh tác của nông dân bị qui hoạch để làm công nghiệp, trong khi chính quyền địa phương lúng túng và không có hướng đi rõ ràng nào cho người nông dân mất ruộng, những người này ngoài việc chỉ biết cày cấy ra không biết làm gì cả! Không nghề nghiệp, không trình độ! Trong một cuộc hội thảo gần đây ở Tp Hồ Chí Minh, GS Tương Lai dẫn kết quả điều tra vào năm 2006 cho biết, trong 8 xã được khảo sát ở đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ và ĐBSCL thì lao động dưới 40 tuổi không còn, hầu hết lao động đều bỏ lên các đô thị để kiếm việc làm. Riêng tại Thái Bình, 45% lao động đã chuyển khỏi nông nghiệp, 200.000 người phải đi làm ăn xa. Lao động trẻ bỏ đi cầu thực nơi xa, chỉ có những người thất thế và phụ nữ phải ở lại. Đó là những lao động không còn cách nào khác nên phải bám lấy nông nghiệp... Nông dân phải rời xa nông nghiệp, nông thôn không chỉ vì nghèo đói mà còn do vấn nạn mất đất nông nghiệp. VN hiện có 4,1 triệu ha trồng lúa, trong đó có 3,4 triệu ha được đầu tư thủy lợi hoàn chỉnh, nhưng mỗi năm có hơn 70.000ha đất trồng lúa đã đầu tư thủy lợi bị mất đi với lý do chuyển mục đích sử dụng. Với việc chuyển đổi mục đích sử dụng này, chưa kể số tiền đã đầu tư thủy lợi bị mất xấp xỉ 7.000 tỉ đồng cho diện tích bị thu hồi đó, hàng loạt nông dân vốn sống nhờ vào nông nghiệp cũng bị mất việc làm. Chẳng hạn tại Bắc Ninh, sau khi ruộng đất bị thu hồi để làm khu công nghiệp, chỉ có 5-6% nông dân dôi dư tìm được việc làm, 94% còn lại chẳng biết xoay xở như thế nào. Trong một đợt kiểm tra mới đây ở Đồng Tháp, các cơ quan chức năng phát hiện có đến 70% sản lượng phân bón bán ra của các đại lý là phân bón giả, được sản xuất bằng cách lấy... đất sét rồi nhuộm màu. Thế nhưng, các địa chỉ bị phát hiện bán phân giả chỉ bị phạt 2 triệu đồng, vô cùng nhỏ so với thiệt hại của nông dân! Vấn đề cá ba sa, cá tra hiện nay như một điển hình về sự bất cập trong qui hoạch, làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất nông nghiệp. Ngay cả những nông dân bậc trung hoặc giàu chỉ vì năng động, táo bạo trong sản xuất cũng phải gánh chịu nhiều rủi ro bởi khi được mùa, xuất khẩu thuận lợi thì họ bị các doanh nghiệp và tư thương làm cho rớt giá để tước đoạt lợi nhuận; còn khi mất mùa hoặc hợp đồng xuất khẩu gặp trục trặc thì họ bị người ta bội tín, bỏ rơi cho đến lúc phá sản, nhưng Nhà nước không hề có chế tài hay động thái gì bảo hộ cho nông dân. Thế nên mới xảy ra hiện tượng nông dân ở Ban Mê Thuật phá café trồng hồ tiêu rồi lại phá hồ tiêu trồng café, xoay như đèn cù mà dở khóc dở cười!…
Lại bàn tiếp về thực trạng xã hội nông thôn hiện nay.
Vấn nạn nhìn thấy rõ nhất là tình trạng thất học, cờ bạc, lô đề, nghiện hút đang phát triển tràn lan ở các làng quê từ miền xuôi lên cả miền ngược. Điều này xét cho cùng là hệ quả của nền giáo dục ở nông thôn đang bị xuống cấp nghiêm trọng. Những thành quả rực rỡ về giáo dục trước năm 1975 của đất nước đang bị xói mòn bởi cơ chế kinh tế thị trường và sai lầm trong cải cách giáo dục diễn ra ở thành thị tác hại 1 phần thì ở nông thôn nặng gấp10 lần.
Một vấn nạn thứ hai cũng khá nghiêm trọng và rõ nét là môi trường ở nông thôn đang bị ô nhiễm nặng nề. Tôi không thể hiểu được vì sao với các ông chủ đầu tư nước ngoài thì ta quá dễ dàng cho họ chuyển đổi mục đích sử dụng một diện tích lớn đất canh tác, nhưng với nông dân ở các làng xã ta lại quá chặt chẽ, hà khắc trong việc xét duyệt nới rộng diện tích thổ cư từ đất thổ canh theo từng chu kỳ thời gian hợp lý để giãn dân cho từng hộ có đủ quỹ đất thực hiện mô hình VAC truyền thống. Hơn 30 năm sau chiến tranh, mỗi hộ gia đình cũ nay đã sinh thêm ít nhất 2 thế hệ, có nhu cầu tách hộ, nhưng qũy đất có hạn nên sân, vườn bị thu hẹp, thậm chí mất hẳn, phá vỡ cân bằng sinh thái. Tôi có dịp về làm phim tài liệu ở làng Thổ Hà- Bắc Ninh cảm thấy sững sờ vì nông dân ở đây sống chen chúc đến nghẹt thở trong không gian tù túng, chật hẹp không khác gì phố cổ giữa lòng Hà Nội. Đi khắp các làng quê đồng bằng Bắc Bộ giờ đây tôi khó tìm thấy nhà có sân rộng, vườn cây đủ lớn, ao hồ bị san lấp gần hết và đặc biệt là hình ảnh lũy tre Việt Nam cứ thưa vắng dần. Rác thải và nước thải sinh hoạt không có chỗ tiêu thoát. Ở các làng nghề còn thêm nguy cơ ô nhiễm nguồn nước sạch và khói bụi thải ra từ các lò than…
Vấn nạn thứ ba, chưa bao giờ trong lịch sử nước ta kể từ Cách mạng mùa thu năm Ất Dậu các tệ nạn mê tín dị đoan, buôn thần bán thánh, lừa bịp tâm linh và các sinh hoạt phản văn hóa khác lại lan tràn phổ biến, hoạt động công khai ở nông thôn như hiện nay. Đi viết bài hoặc làm phim tài liệu ở nhiều nơi, tôi đã tận mắt chứng kiến vài hiện tượng mất dân chủ trong bầu cử HĐND xã, bầu các chức vụ lãnh đạo cấp thôn, cấp xã diễn ra trắng trợn bằng gian lận phiếu, thủ đoạn đe dọa hoặc mua chuộc cả bằng tiền làm nhức nhối tâm thế cộng đồng làng xã…
Nguồn:
Báo Văn Nghệ Trẻ Số lượt đọc:
1892
-
Cập nhật lần cuối:
02/07/2008 11:14:19 AM
Ý kiến của bạn về bài viết:Để không còn một Vinashin04/09/2010 08:44' AM Vượt qua những sự xúc động khác nhau đối với Vinashin, tôi xin giải thích tình trạng của nó theo quan điểm quản trị kinh doanh hay quản trị xí nghiệp (business management) để hy vọng trong tương lai sẽ không còn một vụ như thế... Chợt nghe Tiến sĩ từ quan01/09/2010 02:59' PM Tin trên các báo, ông Trần Đăng Tuấn, Phó Tổng Giám đốc thường trực Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) vừa gửi đơn từ chức lên Thủ tướng Chính phủ. Trước đó, tại Đại hội Đảng bộ Đài Truyền hình Việt Nam khóa IX, ngày 24 đến 25 - 8, ông Tuấn đã xin rút không tham gia cấp ủy khóa mới, với lý do sẽ đệ đơn lên Thủ tướng Chính phủ xin chuyển công tác khỏi Đài truyền hình Việt Nam... Ngày Quốc khánh ngẫm về bản tuyên ngôn lập quốc01/09/2010 12:46' PM Những ngày này, mỗi người Việt Nam chúng ta thường bồi hồi nhớ về chặng đường đã qua, và nghĩ tới tương lai của dân tộc, nghĩ đến những gì còn trăn trở, còn phải làm tốt hơn để tương lai Việt Nam đạt được những di nguyện của Bác Hồ, xây dựng một nước Việt Nam Độc lập - Tự do - Hạnh phúc... Cuộc giải phóng thứ hai01/09/2010 12:30' PM “… Có thể coi cuộc giải phóng con người như là một cuộc cách mạng. Và cuộc cách mạng thứ hai này còn khó khăn hơn nhiều so với cuộc cách mạng lần thứ nhất. Bởi vì trước đây ai cũng trông thấy sự hiện diện của ngoại bang và đó là lý do hiển nhiên để tập hợp lực lượng. Còn giải phóng con người là một bước thay đổi căn bản nhưng vô hình về nhận thức, về tất cả các cấu trúc xã hội. " Đặt câu hỏi để hiểu thêm một vấn đề01/09/2010 10:58' AM Cách đặt câu hỏi dựa trên đối chứng với những điều hiển nhiên, hoặc được xã hội cho là đúng, hoặc dựa trên những hiểu biết đã được xác định của chính Bạn sẽ củng cố cho Bạn câu trả lời về một số điều Bạn có quan tâm. Là Công Dân không ai không quan tâm đến những vấn đề lớn của Quốc Gia. Như ông Trương Đình Tuyển gần đây phát biểu: cần mạnh mẽ xã hội hóa tinh thần phản biện và đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng đất nước… Phản biện xã hội01/09/2010 10:23' AM Người xưa nói “Một người lo bằng kho người làm”, cũng lại nói “Ba ông thợ bằng một ông Gia Cát”, khẳng định việc nghĩ không phải đặc quyền của một số ít người... Khi kinh tế Trung Quốc vượt qua Nhật Bản30/08/2010 08:36' AM Sau ba thập niên tăng trưởng ngoạn mục, đến quý 2 năm nay kinh tế Trung Quốc đã vượt qua Nhật Bản trở thành nền kinh tế nhất ở châu Á, thứ hai thế giới, sau Mỹ. Sự kiện này sẽ có ảnh hưởng như thế nào đến kinh tế toàn cầu, đến các quan hệ trong vùng Đông Á và Đông Nam Á? Cải cách Hiến Pháp ở Trung Quốc28/08/2010 11:46' AM Trong đời sống
quốc tế hiện đại, tự do không còn là quyền chính trị mà đã trở thành
quyền phát triển và nó gắn liền với các cuộc cạnh tranh toàn cầu. Nếu
không có tự do thì năng lực cá nhân, năng lực xã hội không được giải
phóng và do đó, năng lực phát triển của dân tộc cũng không được giải
phóng. Khi năng lực phát triển không được giải phóng thì năng lực cạnh
tranh sẽ giảm... Bài khác: Vượt qua khủng hoảng tài chính & suy thoái kinh tế25/06/2008 04:09' PM Làm thế nào để vượt qua khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế, như đã từng xảy ra ở các nước Châu Á thời điểm 1997-1999 và hiện đang xảy ra tại Mỹ? Trong phạm vi bài báo này người viết sẽ điểm qua bài học kinh nghiệm của một số quốc gia trong việc vượt qua khủng hoảng và suy thoái trên con đường phục hồi kinh tế... Hiện đại & hại điện!23/06/2008 09:31' PM Xu hướng phát triển tất yếu của xã hội phải là văn minh, hiện đại nhưng đi kèm với nó đương nhiên vẫn là hệ lụy tốn kém điện, vấn đề này khỏi cần bàn vì cứ nhìn nhu cầu điện và sự thiếu hụt điện năng càng trầm trọng vào mùa khô sẽ rõ mức độ hiện đại. Cho nên, cụm từ này được nâng cấp phù hợp với nhận thức xã hội, một cách nói lái để nêu lên hai mặt của một bàn tay, một đồng xu sấp ngửa hay thuyết nhị nguyên luận đen trắng... Nhà báo… nói thêm22/06/2008 06:32' PM Nhân dân ta vốn trọng văn chương và luôn đặt niềm tin vào báo chí. Nếu dân gian nói “nhà văn nói láo, nhà báo nói thêm” thì chưa hẳn chỉ là chê bai, cảnh báo mà còn là bày tỏ sự thông cảm cái nghề “quyền rơm vạ đá” này... Trách nhiệm18/06/2008 06:43' PM Chưa có bao giờ chữ ‘trách nhiệm’ được nhắc nhiều như bây giờ và cũng chưa bao giờ xã hội cần đến tinh thần đó như hiện nay. Tưởng như là nghịch lý, nhưng chỉ cần lướt qua những vụ việc xảy ra hàng ngày và chỉ trên phương tiện thông báo chí thôi, ai cũng có thể thấy được điều đó... Thiếu thông tin13/06/2008 09:01' PM Chỉ tại thiếu thông tin, ông chủ nhà tôi bảo thế, nên dân tình cứ hành xử theo lối tự vệ, mạnh ai nấy chạy. Giá gạo, giá vàng, giá xăng rồi giá đôla không kiểm soát được, cứ ào tào tăng lên, trong khi thực ra lượng gạo không thiếu, USD dự trữ cũng vậy. Chẳng qua do một số kẻ đầu cơ xấu bụng tranh thủ lướt sóng kiếm lời… Công nghiệp hóa = Đô thị hóa?05/06/2008 06:51' PM Mười năm tăng tốc phát triển liên tục. GDP trên đầu người tiến tới sát mức 1000 USD cái ngưỡng mà nhiều chuyên gia dự báo sẽ xuất hiện những vần đề nan giải mới, sẽ bộc lộ các khía cạnh không bền vững do tăng trưởng quá nóng. Một trong các biểu hiện rõ nhất là vấn đề của các đô thị... Nông dân nghèo - mối nguy của xã hội05/06/2008 08:42' AM Sau hơn 20 năm đổi mới, lần đầu tiên hiện tượng đầu cơ gạo xuất hiện không chỉ làm giá gạo tăng vọt mà còn tạo nên cú sốc toàn xã hội. Truyền thông đại chúng trong xã hội hiện đại30/05/2008 11:35' AM Không gian công cộng đóng vai trò trung gian giữa xã hội công dân và Nhà nước, buộc Nhà nước phải chịu trách nhiệm trước xã hội do “tính công cộng” của nó. Không gian công cộng tự nó mang tính chất phê phán bởi lẽ nó giả định rằng phải có những thông tin về các hoạt động của Nhà nước để công luận có thể xem xét và phê phán các loại hoạt động này... |