 | Thông tin liên quan: Về những con số đầu tư đường sắt cao tốc13/06/2010 04:28' PM Ngày 4.6.2010 Chính phủ đã có báo cáo giải trình bổ sung về “dự án đường sắt cao tốc Hà Nội - TP.Hồ Chí Minh” gửi Quốc hội. Về cơ bản Chính phủ vẫn giữ nguyên chinh kiến của mình và đưa ra những giải thích thêm cho những lựa chọn đề nghị Quốc hội thông qua vào ngày 16.6 tới... Dân trí và sức phát triển của một dân tộc22/02/2010 11:41' AM Tôi cứ suy nghĩ mãi về lời một người bạn nước ngoài khi anh ta nói với tôi rằng : Ai cũng biết sau Thế chiến thứ hai, Nước Đức ở Phương Tây và nước Nhật ở Phương Đông chỉ còn có hai thứ : đó là những đống đổ nát tro tàn, và còn lại những con người với nền văn hóa vĩ đại của họ... Việt Nam con đường đi tới thành công11/02/2010 09:15' PM “Cần phải làm giàu để giúp mình, giúp gia đình mình, đất nước mình. Việt Nam sẽ trở nên giàu có khi có rất nhiều doanh nhân, rất nhiều người giàu”... Vai trò của bất bình đẳng kinh tế, ghen tị và thiếu thốn tương đối trong phát triển bền vững tại Việt Nam*02/12/2009 07:54' AM Bài viết này tập trung vào góc cạnh phân phối thu nhập của phát triển bền vững. Cụ thể hơn, bài viết xem xét vai trò của chênh lệch/bất bình đẳng kinh tế, lòng ghen tỵ và thiếu thốn tương đối phát triển bền vững tại Việt Nam. Cơ hội của thời kỳ phát triển mới27/11/2009 03:54' PM Ở đời ai cũng luôn có cơ hội được nhận những trách nhiệm và khẳng định mình. Nhưng đồng thời đó là thách thức, vượt qua được nó sẽ có uy tín và vị thế. Nhưng điều xuyên suốt là cách thức và chất lượng của quá trình hội nhập. Những tiền đề và điều kiện hình thành phát triển xã hội dân sự hiện nay ở Việt Nam23/10/2009 08:33' AM Bài viết này tập trung làm rõ các khíạ canh ở góc nhìn triết học, như: 1-Bộ ba trong xã hội hiện đại; 2- Cần hiểu rõ thực chất xã hội dân sự ở VN hiện nay, có số lượng hoành tráng thiếu thực chất. Vấn đề “tổ chức phi chính quyền do chính quyền tổ chức”?; 3-Sự hình thành, phát triển; 4-Những tiền đề, điều kiện cần tạo ra có nhiều nhưng chung quy lại là gì: 5-Đâu là lực cản của các giai đoạn của quá trình hình thành? Không có sự phát triển nào đi trước tự do04/10/2009 10:02' PM Nếu không hiểu bản chất của sự phát triển, chúng ta không thể hiểu được giá trị của tự do và công nghệ sử dụng tự do. Tại sao chúng ta lại cần tự do? Và tự do có phải là một thứ xa xỉ không? Đấy là một vấn đề cần phải được thảo luận rất nghiêm túc. Đôi điều về quy luật phát triển của xã hội26/07/2009 07:08' PM Ai cũng biết trên thế giới ngày nay giàu mạnh nhất là 7 nước tư bản phát triển nhất mà người ta quen gọi là G.7. Vậy các nước ấy đã qua con đường phát triển như thế nào mà họ đạt được trình độ cao như vậy? Liệu các nước khác có hy vọng đuổi kịp trình độ phát triển của họ không? Phát triển đất nước ta khỏi nghèo nàn lạc hậu20/05/2009 05:25' PM Nếu có một trường nghề dạy cho sinh viên hiểu về ba cụm từ "phát triển", "kĩ thuật" và "công nghệ" thì cơ hồ chỉ bằng những máy móc trung bình chúng ta có thể biến đổi tạo tác ra những sản phẩm có chất lượng rất cao, mà lại đạt qui mô rất lớn, số lượng rất nhiều nữa. Đó chính là phát triển nhanh và bền vững. Chứ nhất quyết không thể dùng phép đi tắt đón đầu để phát triển. Và chúng ta sẽ không những đuổi kịp mà còn sánh vai, rồi vượt lên hàng đầu nữa. Nâng trình độ sống để thích nghi - phát triển13/03/2009 10:00' AM Lịch sử ngoại xâm liên miên, người Việt quen sống co lại, ít có khao khát ra với thế giới, hiểu thế giới. Càng co lại ta càng đánh mất đi khả năng phát triển, càng không đủ bản lĩnh để ra với thế giới và hiểu thế giới - nhà văn hoá Vương Trí Nhàn luận giải quá trình phát triển của Việt Nam trong hội nhập dưới góc độ văn hoá. Triết lý của phát triển20/01/2009 01:00' AM Tự do và công bằng là hai giá trị cao cả mà chúng ta hướng tới. Tuy nhiên, có vẻ như giá trị này tồn tại trong tương quan tỷ lệ nghịch với nhau. Chính vì vậy, ở tầm triết lý, hoạch định đường lối phát triển nghĩa là tìm cách cân đối giữa tự do và công bằng. Phát triển bền vững trên nền tảng sự đồng tiến hóa giữa con người và tự nhiên22/07/2007 06:28' PM Hiện nay, khi mà vấn đề môi trường sống đã trở thành một vấn đề toàn cầu, cả hai khuynh hướng hoặc là tuyệt đối hoá yêu cầu bảo vệ môi trường đến mức cực đoan, hoặc là chỉ quan đến tăng trưởng kinh tế đều không đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội hiện đại. Bởi phát triển bền vững, trong đó bảo đảm sự kết hợp hài hoà giữa mục tiêu kinh tế, mục tiêu xã hội mục tiêu bảo vệ môi trường, là sự lựa chọn đúng đắn và phù hợp với quy luật... Tìm kiếm mô hình phát triển 17/04/2007 06:15' PM Trong một thời gian dài, vấn đề lựa chọn các mô hình kinh tế được đặt ra một cách sôi nổi, không chỉ ở Việt Nam mà ở hầu hết các nước đang phát triển và các quốc gia chuyển đổi. Không những thế, việc lựa chọn các mô hình kinh tế sao cho phù hợp với những đặc điểm riêng của từng quốc gia... Phát triển kinh tế tư nhân17/04/2007 09:22' AM Kinh tế tư nhân là một bộ phận quan trọng cấu thành toàn bộ nền kinh tế. Nhiều quốc gia mặc nhiên thừa nhận sự tồn tại của hình thức kinh tế này và tích cực phát triển nó như một công cụ hiệu quả để phát triển kinh tế... Thừa kế và phát triển14/02/2007 08:21' AM Năm 2006 vừa trôi qua. Trong lịch sử hiện đại của Việt Nam, đây là một năm để lại những dấu ấn rất sâu trong quá trình đi lên của đất nước. Đương nhiên, tự thân năm 2006 - Bính Tuất không phải sáng tạo mọi diễn biến, cả tích cực lẫn tiêu cực, mà thừa kế những gì người Việt Nam chúng ta phấn đấu bền bỉ để vươn lên trong quá khứ... |
Lời BBT:
Những năm 60, gần như cả châu Á chìm trong nghèo đói và chậm phát triển. Nhưng chỉ hơn 20 năm sau, nghĩa là chỉ sau khoảng thời gian không dài của thế kỷ XX bộn bề các sự kiện nóng bỏng, thế giới phải “giật mình” khi 4 con rồng châu Á xuất hiện. Đến cuối thế kỷ, “châu Á phục hưng” đã trở thành thuật ngữ quen thuộc với nhiều diễn đàn và các nhà nghiên cứu đã không ngần ngại dự báo những con hổ, hoặc những con hổ trẻ... sẽ tiếp tục xuất hiện. Tâm lý khát khao cháy bỏng vươn tới thịnh vượng, hay nói thực tế hơn, “cơn khát phát triển” đã có mặt ở nhiều nước châu Á, trong đó có Việt Nam.
Đó là một nội dung chính của bài viết. Từ góc độ văn hóa và con người, tác giả phân tích mặt tích cực và chỉ ra một số tiêu cực của cơn khát phát triển.
Ở một nội dung chính khác, bài viết lý giải tại sao một số quốc gia đã từng có thời kỳ tăng trưởng nhanh, đã từng được kỳ vọng như Peru ở Mỹ Latinh hay Indonesia, Malaysia ở Đông Nam Á..., song đến nay vẫn không hoặc chưa “hóa rồng”. Theo tác giả, bẫy thu nhập trung bình, là rào cản đáng sợ nhất ngăn trở bước nhảy vọt của các khát vọng phát triển.
Bài viết dẫn ra quan niệm của của Kenichi Ohno, Viện Nghiên cứu chính sách Quốc gia Tokyo và của Homi Kharas, chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng thế giới để làm rõ bẫy thu nhập trung bình là gì. Theo tác giả, sự ngộ nhận về khả năng đáp ứng yêu cầu cao và rất cao về trình độ chuyên môn hóa của nền kinh tế, trình độ nguồn nhân lực bản địa và trình độ quản lý vĩ mô chính là bẫy thu nhập trung bình ngăn cản sự hóa rồng của nền kinh tế: tưởng là đã đáp ứng được các nhu cầu để tiếp tục phát triển, nhưng hóa ra thế vẫn chưa đủ để “cất cánh”; không còn quá nghèo để phải dồn mọi nguồn lực cho tăng trưởng, song lại chưa đủ giàu về hạ tầng kinh tế - xã hội, về các nguồn lực nội sinh cho “bước nhảy sinh mệnh” của đất nước. Thật đáng ngại nếu hình dung nền kinh tế mắc kẹt trong bẫy thu nhập trung bình 20 năm, 50 năm hay 100 năm.
Bài viết có các tiểu mục: 1/ Bài học kinh nghiệm “hóa rồng”, 2/ Khát vọng phát triển, 3/ “Đi tắt đón đầu” hay là “nóng vội”, “đốt cháy giai đoạn”, 4/ Bẫy thu nhập trung bình.
Xin giới thiệu cùng bạn đọc.
I. Bài học kinh nghiệm “hóa rồng”
1. Những đặc điểm về văn hóa và con người của các nước Đông Á mà nhờ biết sử dụng chúng, một số nước này đã thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình để trở thành “Rồng”, có thể nói về căn bản, người ta đã xác định được. Nói chính xác hơn, vấn đề truy tìm nguyên nhân thuộc về nhân tố văn hóa và con người khiến Hàn Quốc, Đài Loan, Hongkong và Singapore sau một thời gian ngắn trở thành những “con rồng” , về đại thể, đã được giới học thuật và các nhà hoạt động chính trị - xã hội đưa ra cách giải thích tương đối hợp lý. Dẫu không thuyết phục được tất cả, nhưng trên thực tế, đại đa số đã thừa nhận: chính những nét ưu trội của văn hóa truyền thống, mặt tích cực trong tính cách cộng đồng, cùng với phương thức hợp lý trong quản lý nguồn nhân lực... đã là những nguyên nhân, bên cạnh hoặc đằng sau các nguyên nhân khác (chẳng hạn, về dòng chu chuyển vốn, về lợi thế xuất khẩu, hay về hoàn cảnh địa chính trị...) làm cho Đông Á trỗi dậy mạnh mẽ ở những thập niên 60-80 (thế kỷ XX), rút ngắn quá trình công nghiệp hóa từ vài trăm năm, nếu tuần tự phải trải qua mọi chặng của lịch sử công nghiệp hóa như ở châu Âu, xuống còn vài chục năm, trở thành các thực thể công nghiệp hóa mới (NICs - Newly Industrialized Countries, NIEs - Newly Industrialized Economies. Xem: 8, 19, 5, 2, 20, 13).
2. Có rất nhiều thứ thuộc văn hóa và con người Đông Á được coi là kinh nghiệm đáng giá cho những nước đi sau nhắm đến mục tiêu làm cho nền kinh tế “cất cánh”, thúc đẩy xã hội phát triển. Nhưng chung quy lại, những kinh nghiệm liên quan trực tiếp đến việc khai thác đặc điểm con người và văn hóa Đông Á được nhắc nhiều trong các tài liệu lâu nay vẫn là:
- Đề cao văn hóa truyền thống, biết khai thác sức mạnh của giá trị truyền thống, đặc biệt truyền thống văn hóa Nho giáo với các giá trị đã được thử thách qua thời gian.
Quan điểm xuất phát: “Dùng quá khứ phục vụ hiện tại’ (Piter Nolan. Xem 15). Trong xã hội hiện đại, giá trị truyền thống có thể “lột xác” thành sức mạnh mới. Hiếu học, Cần cù, yêu lao động, Cộng đồng và Trách nhiệm xã hội… là những giá trị không bao giờ cũ.
- Đề cao trách nhiệm xã hội, đồng thuận xã hội, và liên kết xã hội tạo ra ý chí phát triển mạnh mẽ.
Quan điểm xuất phát: “Không phải mọi hình thức dân chủ đều có hiệu quả. Tự do dân chủ phải đi đôi với trách nhiệm dân chủ” (Mahathir Mohamad. Xem: 14).
- Chú trọng khai thác và giải phóng nội lực, sử dụng nguồn lực có hiệu quả, đặc biệt nguồn lực con người, vốn con người, vốn xã hội.
Quan điểm xuất phát: Con người là trung tâm của sự phát triển kinh tế - xã hội. Không nhất thiết phải có nguồn lực tự nhiên giàu có, trong xã hội hiện đại, con người của mỗi quốc gia là của cải đích thực, là nguồn lực quan trọng và quyết định của quốc gia đó (HDR 1990. Xem: 21).
- Chú trọng giáo dục, coi giáo dục là nền tảng và là phương thức tạo ra nguồn lực phát triển, tạo ra của cải xã hội.
Quan điểm xuất phát: Giáo dục và đào tạo là chìa khóa của sự phát triển (Xem: 6).
- Quản lý vĩ mô linh hoạt, có tầm nhìn dài hạn. Không bị mắc kẹt trong bẫy thu nhập trung bình.
Quan điểm xuất phát: “Thiện chí thử nghiệm và thay đổi chính sách trong những điều kiện thay đổi liên tục là yếu tố chính dẫn đến thành công” (WB. Xem: 7. tr. 2).
3. Đối với các chính phủ, các chính khách chịu trách nhiệm quản lý vĩ mô và những nhà hoạch định chính sách xã hội… thì việc tìm được những bài học kinh nghiệm vừa nêu, trong phạm vi của việc tìm kiếm những kinh nghiệm chung nhất về nhân tố văn hóa và con người ở Đông Á, có thể nói là rất cơ bản. Trên thực tế, hầu hết những nghiên cứu chuyên sâu, những công trình, bài báo phân tích chi tiết, thường chỉ là những mô tả, minh chứng hoặc đánh giá thêm cho cặn kẽ về những bài học đó. Vấn đề còn lại là liệu có thể ứng dụng và ứng dụng như thế nào những bài học kinh nghiệm ấy cho phù hợp với điều kiện của từng quốc gia.
II. Khát vọng phát triển
1. Bắt đầu từ đầu những năm 90 (thế kỷ XX) đa số các nước đi sau, nhất là những quốc gia ở châu Á, đều không khỏi “giật mình” vì lịch sử “hóa rồng” ấn tượng của các nước công nghiệp hóa mới. Trước sức ép của nhu cầu phát triển, việc ứng dụng những bài học kinh nghiệm để đẩy nhanh sự phát triển đã gieo vào ý thức cộng đồng ở nhiều quốc gia “giấc mơ hóa rồng”. Cùng với điều đó, dư luận quốc tế lại liên tục làm đậm thêm giấc mơ bằng cách dự báo một vài quốc gia sẽ (hoặc chắn chắn sẽ) trở thành “con hổ” nay mai. Tâm thế phát triển (Psychosphere for Development) dần dần được hình thành và ngày càng được kích thích. Thế nhưng đến nay, tất cả những nước đã từng được dự báo hóa rồng, hóa hổ đều vẫn chưa vượt qua được cạm bẫy thu nhập trung bình và khả năng để trở thành những nước công nghiệp mới vẫn còn khá xa.
2. Bước sang thế kỷ XXI, nếu phải nói đến đặc điểm của con người và văn hóa Đông Á, thì ở tầm vĩ mô, một trong các đặc điểm dễ thấy vẫn là tâm thế khát khao cháy bỏng vươn tới thịnh vượng. Gọi cho đúng tính chất của tâm thế này là “Cơn khát phát triển” hay “Khát vọng phát triển”.
Như một số tác giả phương Tây đã nhận xét, ở Đông Á và Đông Nam Á, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, từ tổng thống đến những người dân thường, từ các chính khách đến giới trí thức, gần như tất cả đều có thái độ quan tâm đáng kể đến sự phát triển xã hội; có thể bắt gặp khá thường nhật những người luôn trăn trở và hình dung về một viễn cảnh nền kinh tế sẽ giàu có, đất nước sẽ phồn vinh, thịnh vượng. Nét tâm lý này không có hoặc nếu có thì cũng không hề giản đơn ở nhiều nước châu Âu. Còn ở Đông Á và Đông Nam Á, kể cả nước đã hóa rồng là Hàn Quốc, hay các nước đang phát triển như Malaysia, Thailand, Indonesia, Trung Quốc, Việt Nam..., mức độ có khác nhau, tính thực tế cũng khác nhau, nhưng khắp nơi đều hiện rõ một tâm thế phát triển khá nóng. Riêng Trung Quốc, bên trong cơn khát phát triển còn là khát vọng nước lớn, khát vọng phục hưng dân tộc Trung Hoa - khát vọng của “Con sư tử châu Á đã tỉnh ngủ” (Napoleon nói về Trung Quốc, 1816. Xem thêm: 22).
3. Đó là một thực tế có thể đo được bằng các chứng cớ, chỉ báo, chỉ số. Ở đây, “bóng ma ám ảnh” chính là sự tương đương về các nguồn lực tiềm năng, trong đó có vốn văn hóa truyền thống mà 4 con rồng châu Á đã từng sử dụng. Vấn đề là ở chỗ, đối chiếu với vốn văn hóa mà Hàn quốc, Đài Loan, Hongkong và Singapore đã từng sử dụng để hóa rồng, thì một ở số quốc gia khác, những thứ được gọi là vốn văn hóa ấy, chẳng những không thiếu, mà đôi khi còn trội hơn.
Văn hóa Nho giáo, trên thực tế, không đâu mạnh hơn ở Trung Quốc đại lục. Việt Nam cũng là mảnh đất thấm đẫm văn hóa Nho giáo. Ở Malaysia văn hóa Nho giáo cũng khá rõ nét. Thế nhưng, cho tới nay tính tích cực của loại hình văn hóa này gần như chưa thấy phát huy tác dụng trong việc đẩy nhanh sự tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội ở Trung Quốc, Việt Nam và Malaysia. Ấy là chưa kể có quan điểm vẫn thường coi Nho giáo từ hàng trăm năm nay là một rào cản, kìm hãm khoa học kỹ thuật, ngăn trở phát triển thương mại, hạn chế đổi mới sáng tạo, làm thui chột tự do cá nhân, kéo lùi tiến bộ xã hội.
Về nguồn lực con người, nguồn lực xã hội và ý chí chính trị, xét ở tiềm năng, cũng rất khó khẳng định Hàn quốc, Đài Loan, Hongkong và Singapore có gì ưu thế đến mức các nước khác không thể so bì. Đặc biệt là trong tính cách con người, những phẩm chất như cần cù, hiếu học, khả năng thông minh - năng động, mức độ trách nhiệm cộng đồng… ở phạm vi cộng đồng hay quốc gia, khó có thể khẳng định một cách giản đơn sự hơn kém về giá trị. Ấy là chưa so sánh đến những cá nhân cụ thể với các phẩm chất riêng phong phú và đa dạng của họ. Dễ dàng tìm thấy những chính khách, những nhà hoạt động xã hội, trí thức… ở các nước nghèo vẫn được đánh giá cao về năng lực mà nếu phải so với những người có cùng trọng trách ở 4 con rồng thì những cá nhân đó cũng chẳng hề thua kém.
Dĩ nhiên, điều nói trên không có gì lạ. Nhưng cái đáng quan tâm là ở chỗ, từ khi các nhà lý luận giải thích sự xuất hiện của mấy con rồng bằng các nguyên nhân văn hóa và con người, tức là những nguyên nhân gắn liền với tính cách dân tộc, thì tại những vùng văn hóa tương tự đã nảy sinh tâm lý so sánh và do vậy, bức tranh tương đương của những dân tộc “đồng chủng, đồng văn” (thuật ngữ được sử dụng nhiều hồi đầu thế kỷ XX), có nhiều nét tương đồng về tính cách, nội lực và vốn văn hóa… đã trở thành cơ sở khách quan để “giấc mơ hóa rồng” biến thành “cơn khát phát triển” ở các nước đi sau.
4. Bước sang thế kỷ XXI, khát vọng phát triển càng ngày càng trở thành “sức ép” đối với các chính phủ và những người chịu trách nhiệm vĩ mô. Dư luận xã hội thường đặt ra câu hỏi: Tại sao một quốc gia có dân chúng được tiếng là thông minh, cần cù, hiếu học…, nhiều cá nhân có ý chí chính trị mạnh mẽ, có tâm thế phát triển sáng suốt, có trách nhiệm xã hội cao…, nền văn hóa có nhiều phẩm chất tốt đẹp, tính cách dân tộc có lợi thế phù hợp với xu thế phát triển… mà đất nước vẫn còn kẹt lại ở nhiều vấn đề, chưa vượt qua được cái bẫy của sự thu nhập trung bình, chưa phát triển được như tiềm năng.
Công bằng mà nói, câu hỏi đặt ra ở đây cũng chẳng có gì là mới và thực ra cũng chẳng có gì đến nỗi khó chấp nhận. So sánh với bên ngoài để nhận diện rõ hơn nội tình, xưa nay ở đâu cũng có và bản thân việc so sánh này cũng đã ít nhiều chứa đựng một phần câu trả lời. Nhưng trong khuôn khổ của vấn đề đang bàn, chúng tôi muốn nói rằng, ẩn giấu bên trong sự so sánh với các nước NICs Đông Á, là khát vọng cháy bỏng vươn tới thịnh vượng của người dân vùng địa văn hóa này, một khát vọng có thể sánh ngang với khát vọng giải phóng khỏi chế độ thực dân của các nước thuộc địa hồi đầu thế kỷ XX.
5. Với Việt Nam, như chúng tôi đã có bàn đến trong một bài viết khác (Xem: 18), giấc mơ “hóa rồng” còn ám ảnh hơn so với bất cứ một nước đang phát triển nào khác. Về vốn văn hóa, cho đến tận hôm nay Việt Nam cũng không phải là một xã hội quá xa lạ, hoặc quá khác biệt với Hàn Quốc hoặc Đài Loan. Trong vành đai văn hóa Nho giáo, Nho giáo ở Việt Nam là thứ văn hóa được hình thành và tiếp thu được cái hay từ Tống Nho, không “ngu trung”, không cứng nhắc, không giáo điều như Nho giáo Trung Hoa trước đó. Ấy là chưa kể đến Việt Nho, nếu có , một thứ Nho giáo mà một số nhà nghiên cứu coi là Nho giáo nguyên thủy, có cội nguồn bản địa, mang đặc thù của Việt Nam. Về vốn con người, vốn xã hội, phẩm cách người cầm quyền và ý chí phát triển, xét ở tiềm năng, cũng khó nói Việt Nam có gì thua kém hay thiếu hụt những yếu tố tích cực cần thiết, mà Hàn Quốc và Đài Loan đã từng sử dụng trong giai đoạn 1960-1990. Mấy chục năm gần đây, cùng với nhân tố văn hóa, các nhân tố khác liên quan đến tâm lý của một dân tộc đã chiến thắng trong cuộc chiến chống Mỹ, đã từng duy trì được nền kinh tế tăng trưởng cao trong hơn một thập niên, đã từng hội nhập thành công… lại càng thôi thúc thêm khát vọng “hóa rồng” ở Việt Nam. Khi đặt mình trong tương quan với một số nước trong khu vực, người Việt vẫn không giấu nổi tâm trạng, mới rất gần đây, so với Seoul, Bangkok hoặc Manila, thì Sài Gòn chẳng những không nghèo, mà ngược lại, còn là thành phố phồn vinh hơn.
III. “Đi tắt đón đầu” hay là “nóng vội”, “đốt cháy giai đoạn”
1. Tâm lý khát khao vươn tới thịnh vượng của người Đông Á, trước hết là nhu cầu tự thân, nhu cầu bên trong của một vùng địa văn hóa có nội lực và đã từng có một thời huy hoàng thấy cần phải được phục hưng, cần phải được giải phóng khỏi những “may rủi” ngẫu nhiên (hay tất yếu) của lịch sử. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là tâm lý ấy cũng còn được cháy bỏng thêm do dư luận của cộng đồng thế giới, được một số học giả bên ngoài, chủ yếu là phương Tây, liên tục bàn luận theo cách nhìn “Orientalism ” về phương Đông.
Dễ thấy là, khi chứng kiến sự trỗi dậy của Đông Á làm biến đổi đáng kể môi trường địa chính trị thế giới, nhiều nhà nghiên cứu phương Tây đã không tiếc lời ca ngợi văn hóa Đông Á, văn hóa phương Đông, và làm cho không ít người tin rằng, đã tới thời “Phục hưng” của phương Đông và “một kỷ nguyên châu Á” (cũng là buổi “hoàng hôn”của Mỹ và phương Tây) đã bắt đầu (Xem: 17). Về phương diện văn hóa và con người, hơn lúc nào hết, những đặc điểm của phương Đông được liên tục bàn luận và nhấn mạnh như là một thứ văn minh - văn hóa cao hơn: phương Tây thiên về kiểu tư duy triết học, phương Đông thiên về kiểu tư duy minh triết (Wisdom, Мудрость. Xem: 11, 10); ở phương Đông, con người và vũ trụ gắn kết với nhau trong thể thống nhất Thiên - Địa - Nhân, con người là một tiểu vũ trụ; con người hòa hợp với tự nhiên, còn ở phương Tây, con người chỉ biết chinh phục tự nhiên; Con người phương Tây là con người cá nhân, cá thể, cá tính, con người ở phương Đông là con người cộng đồng, con người của trách nhiệm xã hội… Về phương diện chính trị - xã hội, không ít tác giả nghiêng về nhận định: Quyền lực thế giới đang dịch chuyển từ Tây sang Đông; “Điều thần kỳ châu Á” đã xuất hiện và chủ nghĩa tư bản châu Á sẽ năng động hơn, châu Á sẽ đi đầu thế giới trong lĩnh vực phát minh, sáng chế; Ở châu Á, ngay cả chế độ chuyên quyền cũng được coi là một giá trị, một ưu thế; Và Mỹ đang mất dần ảnh hưởng ở châu Á… Cụ thể hơn, một số nhà nghiên cứu còn gọi những nước châu Á mới nổi như Indonesia, Malaysia, Philipines, Thailand và đôi khi cả Trung Quốc là “hổ” trong sự phân biệt (không thật chặt chẽ) với những “con rồng” đã được khẳng định từ trước (NICs/NIEs). Việt Nam cũng đã từng được gọi là “con hổ trẻ” (Young tiger. Xem: 1) và cũng không ít lần được dự báo là con hổ của tương lai. Cách nói bóng bảy “Sự thần kỳ Đông Á” nếu trước kia chỉ dùng để nói về những nước công nghiệp hóa mới, thì lâu nay lại thường dùng để gọi chung cho hiện tượng phát triển nhanh ở cả các nước NICs và cả các nước có tốc độ tăng trưởng cao ở khu vực này.
2. Dù những nhận định học thuật nói trên có chứa đựng bao nhiêu phần trăm sự thật đi nữa, thì với những người ít chuyên sâu về văn hóa phương Tây, những nhận định đó cũng dễ gây ngộ nhận. Sự thực là không ít người ở một vài nước châu Á trong đó có Việt Nam đã và vẫn đang đinh ninh rằng, sở dĩ các học giả phương Tây từ lâu đã có xu hướng “quay về” với phương Đông là bởi vì họ đang lệch lạc, cực đoan hay có gì đó thấp kém so với phương Đông, nơi có nhiều giá trị tinh thần cao hơn, sâu sắc hơn, ưu việt hơn… Người ta quên mất hay không hiểu rằng, khi những người châu Âu theo Orientalism “quay về” với phương Đông, là khi họ đã được trang bị đầy đủ đến mức chán ngắt chủ nghĩa duy lý và các khuôn thước kinh điển châu Âu. Dễ hiểu tại sao lại có nhiều người, nhất là vào giai đoạn trước khủng hoảng tài chính năm 2008, lại lạc quan, ảo tưởng về sự phát triển của châu Á đến thế. Với quan niệm coi “đuổi kịp rồi vượt lên” là lộ trình đương nhiên, nên phương thức “đi tắt đón đầu”, hệ quả của điều đó, đã trở thành tâm lý phổ biến chi phối nhiều hoạt động. Tất nhiên, cũng đã có những thành công đáng kể trong hoạt động kinh tế, tiếp thu khoa học, chuyển giao công nghệ… khi biết đi tắt đón đầu hợp lý. Nhưng tâm lý “nóng vội”, “đốt cháy giai đoạn” cũng đã hình thành, đặc biệt trong kinh doanh, đầu tư, làm ăn kinh tế... Tâm lý ấy in dấu ấn không khó nhận ra không chỉ ở các nhà doanh nghiệp lớn và nhỏ, hay những người lao động cao cấp và bình thường, mà thậm chí còn cả ở một số nhà quản lý ở tầm vĩ mô. Sự thành công hay thất bại của những người đầu cơ trong lĩnh vực thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán, hay đơn giản hơn trong các “phi vụ môi giới”… là chất men kích thích và nuôi dưỡng tâm lý này. Tưởng rằng, với tốc độ tăng trưởng 8-9% năm, chẳng mấy chốc đất nước sẽ hóa rồng, tưởng rằng với nền kinh tế chuyển đổi năng động, chẳng mấy chốc nhiều người sẽ giàu có, “thay vì khích lệ người dân cần kiệm đầu tư với tầm nhìn dài hạn và trách nhiệm với tương lai, chúng ta lại tạo nên cơ chế để mọi người ảo tưởng với những cơ hội chụp giật ngắn hạn, hoang phí trong tiêu dùng, phô trương trong hình thức” (12). Một vài bài báo đã chỉ ra tính nguy hiểm của căn bệnh muốn làm giầu một cách mau chóng, muốn tăng trưởng một cách đột biến, muốn phát triển theo cách đi tắt. Rất tiếc lại thật hiếm hoi những bài báo, những chỉ dẫn, những phân tích triết lý chỉ ra vai trò và giá trị của sự căn cơ, tích lũy, làm ăn bài bản, trung thực… để sinh lời.
3. Nếu như ở châu Âu, chủ nghĩa tư bản sở dĩ có thể hình thành và phát triển được là do nền đạo đức xã hội biết chú trọng đến “tính sinh lợi” chứ không phải “lợi nhuận”, thì ở phương Đông, lợi nhuận chứ không không phải tính sinh lợi, đúng như sự phân tích gần 100 năm trước của Max Weber (Xem: 24), đã không được khống chế một cách duy lý, trở thành cạm bẫy ngăn cản lịch sử tiến bộ.
Hiện nay, lợi nhuận cũng vẫn đang là cạm bẫy khi nó lộng hành đến mức là cái duy nhất đóng vai trò động lực cho nhiều hoạt động ở Việt Nam, thậm chí kể cả trong giáo dục. Trên thực tế, tính sinh lợi, cái có thể tạo ra lợi nhuận bền vững, không được quan tâm như nó đáng phải quan tâm. Lợi nhuận và lợi nhuận tức thì, lợi nhuận với khối lượng lớn, lợi nhuận cả trong các hoạt động ngoài kinh tế... lại là cái được chú trọng, chú trọng quá mức. Dư luận xã hội đã bóng gió nói đến các nhóm lợi ích; lợi nhuận cục bộ của các nhóm lợi ích đôi khi đã làm thay đổi các mục tiêu tốt đẹp, làm méo mó các hoạt động kinh tế - xã hội.
4. Thực tế là cơn khát phát triển đã góp phần làm nảy sinh và duy trì những hiện tượng tiêu cực, những điều bất bình thường trong các hoạt động kinh tế - xã hội ở thời toàn cầu hóa. Toàn cầu hóa một mặt mở ra cho châu Á những cơ hội có một không hai, nhưng mặt khác, cũng lại là mảnh đất tốt để những mặt trái, những cạm bẫy của nền kinh tế thế giới xuất hiện nhanh hơn ở châu Á. Trước sự thâm nhập ồ ạt của toàn cầu hóa, những giá trị tốt đẹp của văn hóa phương Đông hóa ra cũng không đủ sức để đề kháng trước các hiện tượng tiêu cực. Điều này, khác với Tây Âu; có nhiều hiện tượng tiêu cực của toàn cầu hóa, Mỹ hóa hay phương Tây hóa… không thể thâm nhập được vào vùng văn hóa Tây Âu. Trong khi đó, hầu hết những gì được coi là xấu xa trong đời sống kinh tế - xã hội phương Tây, thì ở châu Á này người ta đều có thể tìm thấy, thậm chí ở mức tệ hại, và đáng tiếc là, không ít nét tích cực, văn minh của phương Tây thì châu Á lại vẫn chưa học được.
Chẳng hạn, tham nhũng, ở đâu cũng có, đương nhiên là mức độ có khác nhau. Nhưng ở châu Á, theo Mahathir Mohamad, nguyên Thủ tướng Malaysia, tham nhũng lại đi đôi với “làm ngơ trước tham nhũng” (14). Đó là điều tệ hại đáng sợ, bắt gặp cả ở Trung Quốc, và Singapore, nơi luật pháp được coi là khá mạnh tay với tham nhũng. Cũng là do dựa vào tình trạng này mà cái gọi là chủ nghĩa tư bản thân hữu (Crony Capitalism) có thêm lý do để tồn tại. Còn ở các xã hội có các thiết chế dân sự đủ hiệu lực thì không thể nói xã hội có thể làm ngơ trước tham nhũng; ở đó, vấn đề chỉ là có bằng chứng pháp lý để vạch trần tham nhũng hay không mà thôi.
5. Tại sao văn hóa Á Đông lại dung dưỡng cho những hiện tượng dường như trái với bản chất của nó như vậy? Về điều này, có thể giải thích bằng định kiến đã có từ thế kỷ XIX về châu Á của một số học giả phương Tây, nếu như định kiến này có những điểm hợp lý nào đó: xưa nay văn hóa Á Đông chưa bao giờ là triệt để cả, nó vẫn có tính nhị nguyên (Dualism) và thực dụng (Pragmatism) như thế . Châu Á giàu có về tiềm năng, đa dạng về thế mạnh và cũng đã đi trước nhân loại trong nhiều phát minh, sáng chế… nhưng đến nay vẫn chưa phục hưng được như khát vọng của người châu Á. Phải chăng tính nhị nguyên và thực dụng của văn hóa khu vực này đã cản trở người châu Á đi đến tận cùng quan điểm của mình.
6. Ngày nay, thái độ “nóng vội”, “đốt cháy giai đoạn” ở những nền kinh tế mới nổi liệu có thể là cái gì đó chấp nhận được nếu xem đó chỉ là sự “quá trớn” của giải pháp “đi tắt đón đầu” nhằm khắc phục những sai lầm nhị nguyên và thực dụng xưa cũ, hay thái độ này lại cũng chính là một kiểu thực dụng và nhị nguyên tệ hại nào khác?
Câu hỏi này quả thực là khó. Xin được đặt vấn đề để cùng suy ngẫm và trao đổi.
Nguồn:
Tạp chí Thông tin khoa học số 12/2009 Số lượt đọc:
779
-
Cập nhật lần cuối:
07/02/2010 05:40:09 PM
Ý kiến của bạn về bài viết:Nhà nước và thông điệp Vedan31/07/2010 08:10' AM Chủ tịch Invest Consult Group Nguyễn Trần Bạt trao đổi với Sài Gòn Tiếp Thị góc nhìn của ông về vụ Vedan trong bối cảnh đơn kiện công ty này đang chuẩn bị được nông dân nộp lên toà án. Khi vay nợ nước ngoài không được quản lý28/07/2010 08:44' AM Tại sao chính phủ Indonesia lại có thể để cho tình trạng tư nhân vay nợ trở nên tệ hại đến như vậy? Nói chung tất cả đều bắt nguồn từ những năm đầu của thập niên 1980 khi chính phủ Indonesia thay đổi chính sách và khuyến khích thành phần kinh tế tư nhân nắm vai trò chủ động trong guồng máy kinh tế quốc gia... Ra ngõ gặp công trình27/07/2010 09:36' AM Nếu tham nhũng là trộm cắp tiền dân, thì đầu tư sai mang lại hậu họa lớn gấp bội; chúng đẩy nền kinh tế quốc gia lún sâu vào lạc hậu và tước đoạt cơ hội phát triển của con cháu. Ngàn vạn tỷ đồng đã bay theo gió cát trong hơn 12.000 dự án đầu tư lớn nhỏ trên khắp đất nước này; từ đánh bắt xa bờ, mía đường, xi măng lò đứng, cho tới đại công trường vỡ nợ ở Hà Giang. Vậy có cách nào quy trách nhiệm cho người làm quan khi họ hoặc do thiếu năng lực, hoặc vô trách nhiệm, hoặc vì lợi tư mà làm thất thoát tiền dân? Nói gì về Vinashin lúc này?24/07/2010 08:39' AM Trước tình hình Vinashin hiện nay, các nhà quản lý đất nước cần có những quyết định dứt khoát: đóng cửa các cơ sở, dự án chỉ cốt chơi trội; tập trung mọi nguồn lực cho các cơ sở, dự án gắn liền với yêu cầu vận tải, đánh bắt, bảo vệ chủ quyền trên biển; cố cứu giữ các thành quả công nghệ vừa thu lượm được dù với giá rất đắt do đầu tư dàn trải, thiếu bài bản, đặc biệt là các lớp kỹ sư và công nhân vừa được chạm tay tới nhiều công nghệ mới; duy trì và phát huy các thiết bị công nghệ mới rất đắt tiền, kể cả cần bố trí, phân phối lại, bổ sung cho phù hợp. Quan hệ Việt Nam - ASEAN20/07/2010 09:10' AM Các bạn biết rằng để trở thành thành viên của ASEAN, Việt Nam phải đi qua một con đường rất dài. Chiều dài thời gian để Việt Nam trở thành thành viên của ASEAN là chiều dài của cuộc Chiến tranh Lạnh. Và bây giờ, Việt Nam đã là một thành viên chính thức, một thành viên chủ động, một thành viên tích cực, một thành viên rất thực lòng đối với ASEAN... Vì sao ít trí thức Việt kiều về nước làm việc?17/07/2010 02:08' PM Việt Nam có một lợi thế hơn hẳn so với các nước láng giềng là có khoảng gần 4 triệu người đang sinh sống khắp năm châu mà trong đó khoảng 300,000 người đã tốt nghiệp đại học và sau đại học. Trong số những trí thức Việt Nam này, có nhiều người là những nhà khoa học tên tuổi, chuyên gia đầu ngành hiện đang làm việc tại các đại học, viện nghiên cứu và công ty nổi tiếng ở Mỹ, Úc, Canada, Anh, Hà Lan, Nhật như các đại học Harvard, Standford, Yale, Tokyo, Sydney… các công ty Microsoft, Monsanto, Mitsubishi... Tập quyền hay phân quyền?14/07/2010 12:21' PM Cần có một tổ chức để làm công việc biên soạn và tổ chức thảo luận và xin phúc quyết của dân. Thảo luận phải là thảo luận rộng rãi, công khai, người dân phải được tham gia vào các cuộc thảo luận đó và cần một khoảng thời gian đủ cho thảo luận. Đấy thường là công việc của Quốc hội lập hiến. Cuối cùng người dân phải quyết định bằng cách trực tiếp thông qua Hiến pháp trong một cuộc trưng cầu dân ý. Khi Hiến pháp được nhân dân thông qua thì quốc hội lập hiến hết nhiệm vụ. Dân trí và quan trí14/07/2010 12:18' PM Lâu nay, chúng ta vẫn hô hào phải nâng cao dân trí, thậm chí đã có nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được đưa ra nhằm mục đích nâng cao dân trí. Tuy nhiên, ít ai bàn đến việc phải nâng cao quan trí. Nhân chuyện Quốc hội sôi nổi bàn luận trách nhiệm của bộ trưởng này, đề cập việc bỏ phiếu tín nhiệm, có người đặt vấn đề đã đến lúc phải nâng cao cả quan trí... Bài khác: Hình tượng anh hùng trong thời đại phát triển04/02/2010 10:09' AM Mong rằng hai ba mươi năm nữa, những quan chức, những vị lãnh đạo đầu đã bạc ngồi ở quán cà phê bên Hồ Hoàn Kiếm trò chuyện mãi về những ngày mà thời trung niên của họ đã hết lòng vì nước vì dân nên Việt Nam đã vượt qua cái bẫy của nước thu nhập trung bình, chen chân được vào hàng ngũ những nước giàu mạnh... Văn hóa chính trị ở phương Tây ngày nay01/02/2010 11:44' AM Văn hóa chính trị là những dấu hiệu phân biệt, đặc trưng cho nhận thức chính trị, cũng như mọi hoạt động chính trị - xã hội của con người trong một xã hội. Trung tâm của văn hóa chính trị không chỉ là tổng số những tri thức của con người về chính trị, mà còn là những định hướng tự do và ý thức hệ của cá nhân, khả năng hoạt động chính trị, kể cả những ứng xử theo thói quen của họ. Khái niệm văn hóa chính trị nói lên trình độ nhất định của sự phát triển cá nhân... "Cố là tiếng nói độc lập"29/01/2010 02:16' PM Một vài cơ quan truyền thông nước ngoài hỏi tôi có nghĩ rằng mình là "đối lập" không? Tôi trả lời tôi chỉ cố là một tiếng nói "độc lập" để đóng góp cho lợi ích chung thôi. Nâng cao dân khí25/01/2010 04:24' PM Trong lịch sử vẻ vang của dân tộc ta, sức mạnh tinh thần của nhân dân, ở những thời điểm cụ thể, khi được phát huy cao độ, đã trở thành lực lượng vật chất vô song, làm nên những thành tự huy hoàng, trong điều kiện khó khăn tưởng chừng không làm nổi. Nhật Bản khác ta những gì ?18/01/2010 02:23' PM Nước ta có 85 triệu người, đứng thứ 13 trong 200 nước trên thế giới, nếu kể cả Việt kiều là 88 triệu người. Chúng ta có một lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, đã đánh bại chiến tranh xâm lược của hầu hết các cường quốc trên thế giới. Chắc chắn trí tuệ dân mình chẳng chịu thua ai khi có điều kiện phát huy... Vươn ra thế giới để trở lại phục vụ dân tộc mình tốt hơn!07/01/2010 07:30' AM Tìm hiểu về Việt Nam là nguyện vọng tự nhiên của bạn bè quốc tế. Không nên chỉ đặt vấn đề tự giới thiệu. Mà trước tiên nên hiểu rằng văn học Việt Nam chưa được quan tâm, lý do chính là chúng ta chưa có những tác phẩm đạt tới cái mà họ quan tâm, hơn thế nữa cần cho người ta, buộc người ta phải tìm, phải chú ý, phải dịch. Hãy lắng nghe tiếng nói chân thành của chính họ. Chỉ tinh thần đối thoại mới làm nên khả năng tiếp xúc lâu dài. Thời của báo cáo, tổng kết & bình chọn31/12/2009 08:27' AM Cơ quan ban ngành Nhà nước, cuối năm có cái việc khó thiếu là ngồi làm báo cáo tổng kết. Rằng thì là theo thống kê Công ty A đạt sản lượng tăng so với cùng kỳ năm ngoái, mà thì là... Công ty B đạt sản lượng xuất khẩu gấp vài ba lần gì đó so với năm trước, nhưng thì là... Công ty C lại ghi được những dấu mốc quan trọng trong việc x, y, z nào đó... Còn các cơ quan ban ngành tổng kết theo kiểu khác, cố gắng tổng kết những báo cáo cấp dưới, cơ sở và cộng lại, chia ra, gộp đủ coi như là chưa kẻ bảng tính toán đã biết là đáng phấn khởi... An ninh29/12/2009 01:46' PM Bàn về an ninh trong quan hệ quốc tế, cho mãi đến gần đây khuynh hướng có phần chiếm ưu thế là đồng hóa an ninh với quốc phòng, định nghĩa an ninh như là khả năng có thể ngăn chận được các cuộc xâm lược vũ trang đến từ bên ngoài. |