Bài viết này thử nhìn kinh tế thị trường và xã hội công dân như một hệ thống và điểm lại tình hình Việt Nam qua một số kết qủa nghiên cứu của tác giả về kinh tế Việt Nam đã xuất bản hoặc mới chỉ phổ biến hạn hẹp trong vòng bạn bè. Trong bài này, nguồn tài liệu trực tiếp có thể tìm ở các bài của tác giả đánh số để trong [] để ở phần tham khảo cuối bài này.
Những ý chính của bài này như sau:
• Xã hội công dân cần có thể chế bảo đảm con người tự do phát huy khả năng của mình mà vẫn giữ được sự đồng thuận xã hội về lý tưởng cao cả nhất là: bình đẳng, quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc ghi trong Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Việt Nam (1945).
• Về mặt kinh tế, kinh tế thị trường và sở hữu tư nhân, dù với những hạn chế của nó, vẫn có thể là thể chế xã hội hữu hiệu nhất để công dân có thể tự do phát huy khả năng nếu như nhà nước thực hiện trách nhiệm bổ sung những gì mà kinh thị trường và sở hữu tư nhân không thể giải quyết đuợc nhằm đưa xã hội tiến gần tới những lý tưởng trên.
• Trên bình diện thế giới, hoạt động kinh tế ngày càng được toàn cầu hoá ở mức cao hơn, tư bản quốc tế chỉ có một mục đích duy nhất là lợi nhuận, các thể chế toàn cầu hiện nay cũng chỉ nhằm mục đích duy nhất là xác định và bảo vệ quyền tự do kinh doanh, đặc biệt là tăng cường bảo vệ sở hữu trí thức, mà họ có ưu thế tuyệt đối nhằm tạo độc quyền. Việt Nam và các nước đang phát triển cần tham dự tích cực đấu tranh cho một thể chế quốc tế mà lý tưởng về con người ở trên có thể thực hiện được.
Kinh tế học là một khoa học xã hội. Đã là khoa học xã hội, tất nó phải dựa trên một số nguyên tắc triết học hoặc chính trị nào đó. Ngay cả đến thống kê đo lường để đánh giá nền một nền kinh tế cũng không thoát khỏi nguyên tắc này. Thí dụ như khái niệm "tổng sản phẩm quốc nội (GDP)" của Liên Hợp Quốc dựa trên nguyên tắc kinh tế thị trường, dùng giá thị trường, coi dịch vụ trên thị trường cũng nằm trong phạm trù sản xuất. Chính vì thế, khi đưa ý kiến cá nhân trong một số bài viết về kinh tế Việt Nam, tác giả cũng dựa trên quan điểm kinh tế thị trường và một cách nhìn về xã hội công dân, mà vào những năm đầu thập kỷ 80, không thể nói thẳng ra, nhưng rồi do chính sách mở cửa và sự đồng thuận xã hội, kinh tế thị trường được chấp nhận và các tranh luận về quan điểm xã hội ngày càng được mở rộng hơn, như Báo cáo Chính trị của Đảng trong đại hội 9 năm 2001 đã viết về mục tiêu xây dựng đất nước trong đó có quan điểm "chấp nhận những điểm
khác nhau không trái với lợi ích dân tộc, xoá bỏ mặc cảm, định kiến, kỳ thị về quá khứ, giai cấp thành phần, xây dựng tinh thần cởi mở và tin cậy lẫn nhau, hướng về tương lai." Bài này được viết ra trên tinh thần đó.
1. Bàn Về Một Xã Hội Công Dân Tự Do
Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc..
Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.
Bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói:
.Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.. Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được..
Bình đẳng, tự do, sự sống, mưu cầu hạnh phúc đã trở thành nguyên lý trong bản Tuyên bố Độc lập của Việt Nam (1945). Đó là lý tưởng của con người của thời đại đặt con người là trung tâm của một chế độ chính trị, một xã hội công dân.
Nghĩ kỹ, những câu văn đẹp đẽ trên là một lý tưởng hơn là những sự thật hiển nhiên. Chắc chắn con người sinh ra không bình đẳng vì có người thông minh có người không, có người có sức khỏe có người không, có người gặp may mắn có người gặp rủi ro, có người có thừa kế về vật chất và tinh thần đáng kể của cha mẹ có người không, có người làm lãnh đạo chính quyền có người không. Bình đẳng phải hiểu theo hai vế:
(1) bình đẳng trước pháp luật, bình đẳng về cơ hội, và
(2) bù lại những thiệt thòi cho những người phải chịu đựng sự bất bình đẳng do "tạo hoá" mang đến.
Tự do như ta hiểu ngày nay cũng không phải là điều hiển nhiên. Người thượng cổ chưa chắc đã đặt vấn đề này. Suy nghĩ về tự do chỉ xuất hiện khi con người phải đối phó với quyền lực chính trị đặt trên cơ sở bất bình đẳng. Khi quyền lực rơi vào tay kẻ mạnh và độc đoán, các hành động cưỡng chế của họ áp đặt lên kẻ khác đã khiến con người suy nghĩ đến ý niệm tự do, và cuối cùng là độc lập dân tộc. Sự tiến hoá của loài người là quá trình mà cuộc sống bắt con người phải chung đụng nhau, tạo thành các tập thể người, nhất là khi họ phải chia sẻ một vùng địa lý hoặc những quan điểm gần gũi về cuộc sống, về thiên nhiên, về thế giới sau khi chết.
Những tập thể người nào tồn tại cho đến nay là do nhiều lý do, nhưng có lẽ lý do quan trọng nhất là họ duy trì được sự đồng thuận xã hội (social concensus), mặc dù những gì đồng thuận thì luôn thay đổi. Địa lý khác nhau, phương thức sản xuất khác nhau và lại thay đổi, ảnh hưởng qua lại của giao lưu văn hoá giữa các xã hội tạo nên sự thay đổi về nội dung đồng thuận. Tự do là một trong những nhân tố tạo ra đồng thuận.
Đồng thuận xã hội không phải là kết qủa của đạo đức hay tư duy thuần lý. Đạo đức hay tư duy thuần lý giúp tạo ra sự đồng thuận xã hội nhưng sẽ gây nhiều tai hại và rồi sẽ thất bại nếu có tính áp đặt. Tư duy thuần lý thường hàm ý đạo đức (đúng sai) do đó dễ có tính áp đặt. Tư duy thuần lý trên thực tế có lẽ chỉ áp dụng được trong toán học. Khách quan thay đổi và do đó tư duy thay đổi. Không một xã hội nào tiếp tục chạm mặt với cùng một thực tế khách quan. Khách quan thì muôn mầu muôn vẻ, thay đổi liên tục, và tri thức con người về khách quan xã hội lại luôn luôn hạn chế, không bao giờ toàn bích, do đó không có một luận thuyết thuần lý nào có thể đứng vững mãi với thời gian. Không thể có ai tài ba, kể cả thượng đế, có thể vẽ ra một hệ thống toàn bích đầy lý tưởng vì con người mà thành công khi áp đặt nó trên xã hội.
Văn minh hiện đại cho thấy thể chế xã hội cần có những nguyên tắc cơ bản để con người biểu hiện tính tự do, đồng thời bổn phận và trách nhiệm của họ. Sự đồng thuận xã hội đạt được khi con người thành viên được đặt ở vị trí trung tâm của xã hội. Lúc đó con người vừa là tự do, vừa có trách nhiệm và bổn phận.
Tự do cá nhân chỉ có ý nghĩa khi đặt trong một môi trường xã hội, do đó tự do đi liền với bổn phận và trách nhiệm. ở đây, tác giả muốn dùng từ bổn phận theo nghĩa hoàn toàn không có tính cưỡng bách như bổn phận của con cái đối với cha mẹ. Bổn phận hàm nghĩa tự nguyện cho dù dựa trên ý chí cá nhân tự thân, hay do ảnh hưởng của đạo đức, văn hoá. Trách nhiệm có tính chất cưỡng bách như trách nhiệm đóng thuế, đi quân dịch, tôn trọng luật pháp quốc gia.
Trách nhiệm có tính cưỡng bách nhưng xã hội không thể chỉ tồn tại bằng cưỡng bách dù chúng đã được minh bạch hoá bằng luật pháp. Do đó xã hội cần có những nhân tố vượt trên sự cưỡng bách, đó là bổn phận trên cơ sở đạo đức cá nhân về đúng, sai, tốt xấu, tình người, ý thức cộng đồng, nói tóm lại là một nền văn hoá lấy con người làm trung tâm. Tính chất cưỡng bách của xã hội dù là bằng luật pháp cũng chỉ nên ở mức không thể không có với mục đích bảo đảm tự do và bình đẳng cho mọi người trong xã hội. Nói tóm lại, một xã hội coi con người là trung tâm, nếu như:
• Thành viên là những con người tự do, nguồn gốc của động lực phát triển của xã hội và có quyền tham gia một cách dân chủ vào việc xây dựng nền tảng của môi trường xã hội;
• Thành viên không chỉ là những con người tự do độc lập mà là một bộ phận của xã hội, do đó cần một môi trường thể chế vừa hạn chế các hành vi ứng xử có hại cho thành viên khác, vừa bảo đảm được tính công lý của nó (thể hiện rõ nhất là nguyên tắc không phân biệt đối xử, bình đẳng).
• Bình đẳng không hẳn là điều tự nhiên nhưng những bất bình đẳng do "tạo hoá" và xã hội tạo ra (như có người lãnh đạo có người bị lãnh đạo) phải thoả mãn được hai điều kiện: bình đẳng về cơ hội tham gia và tạo ra lợi ích lớn nhất cho những người không may mắn nhất.
Thế chế (institutions) chính là môi trường xã hội con người sinh hoạt trong đó dù nhỏ như gia đình, một hiệp hội hay lớn như một quốc gia. Nó bao gồm năm khía cạnh khác nhau:
(1) tập tục, tập quán được chấp nhận rộng rãi, hoặc luật chơi (luật lệ) được xã hội chấp nhận;
(2) cách thức tục cần thiết để tập thể quyết định luật chơi cho tập thể đó;
(3) cách thức cần thiết để thực thi luật chơi;
(4) cách thức cần thiết để giải quyết tranh chấp khi có sự hiểu biết khác nhau về luật chơi; và cuối cùng là
(5) cách thức cần thiết để xử lý khi có thành viên vi phạm luật chơi.
Tập thể nào, dù nhỏ như gia đình, cũng cần đến một hệ thống thể chế thành văn hay không thành văn để bảo đảm sự tồn tại của tập thể đó. Thể chế có thể dựa chủ yếu trên áp đặt hoặc được xây dựng trên tinh thần tự nguyện. Sự tồn tại lâu dài của một tập thể xã hội chứng tỏ rằng tập thể đó chấp nhận thể chế đó và đã đóng góp vào qúa trình hình thành cũng như thay đổi thể chế cho phù hợp với sự phát triển của xã hội. Nhìn rộng ra cho một quốc gia, cuộc cách mạng dân chủ từ đầu thế kỷ thứ 18 cho thấy những tiêu chí cần thiết sau cho một xã hội tự do và bình đẳng:
• Lý tưởng của con người và xã hội được thể hiện bằng hiến pháp;
• Việc thực hiện lý tưởng trên được thể hiện một cách cụ thể và minh bạch bằng pháp luật, qui định, chính sách của nhà nước và được quyết định trên cơ sở dân chủ;
• Pháp luật là tối thượng, áp dụng không có phân biệt đối xử đối với mọi công dân;
• Con người tự do hành động và quyết định trong phạm vi những gì mà pháp luật không cấm hoặc bắt buộc làm;
• Có định chế cân bằng và kiểm soát lẫn nhau giữa cơ quan quyền lực nhà nước: hành pháp, lập pháp và tư pháp.
Đây là những tiêu chí cần thiết để xã hội tiến tới đồng thuận, cơ sở của sự ổn định xã hội.
Về mặt kinh tế, kinh tế thị trường và tư hữu là hai quan điểm về thể chế kinh tế giúp bảo đảm và phát huy tự do cá nhân. Kinh tế thị trường là thể chế bảo đảm con người có quyền tự do kinh doanh, mà muốn vậy nó phải có thể chế bảo đảm tư hữu do chính con người tạo ra một cách hợp pháp. Nhưng ngay cả trong phạm vi mà tự do và sáng kiến cá nhân được đề cao như trong kinh tế thị trường, sự can thiệp của nhà nước vẫn tỏ ra cần thiết trong một số lãnh vực mà nội dung của chúng là những vần đề cần bàn sau đây.
2 Tự do Kinh Doanh: quá trình chuyển biến ở Việt Nam
Quá trình cải cách ở Việt Nam đã tạo ra những chuyển đổi quan trọng trong quan điểm về quyền kinh doanh của công dân. Quan trọng nhất có lẽ là sự chấp nhận kinh tế thị rường, tức là việc xoá bỏ kinh tế hoạch định tập trung, qua đó "vài người nghĩ cho mọi người", để tiến tới quyền cá nhân tự chủ kinh doanh. Tiến trình cải cách kéo dài đã trên 10 năm, và còn tiếp tục và đó là điều bình thường nếu như xã hội muốn tránh trả giá cho việc áp đặt một hệ thống thuần lý mới. Cải cách vững chắc là một quá trình cần sự đồng thuận xã hội như đã bàn đến ở trên. Dưới đây là tóm tắt những chuyển đổi quan trọng đã xảy ra và cần xảy ra nhằm xác lập quyền tự do của con người Việt Nam, đặc biệt là nguyên tắc: cái gì luật pháp không cấm thì được quyền làm. Có thể nhiều vấn đề sẽ dễ tiến tới đồng thuận trong cải cách sắp tới nếu chúng được xem xét trên quan điểm quyền tự do tự nhiên của con người.
2.1 Nông nghiệp
. Tự chủ về sản xuất năm 1989 (tự chi phí và tự phân phối sản phẩm) của nông dân trên mảnh ruộng họ được giao đã tháo gỡ những cản trở tính năng động của họ. Nó biến Việt Nam từ một nước nhập khẩu gạo mỗi năm gần nửa triệu tấn từ sau khi thống nhất đến năm 1988 sang một nước thừa ăn, xuất khẩu trên 1,4 triệu tấn chỉ một năm sau đó. Có lẽ không có gì có thể phản ánh khả năng tự vận động của người nông dân Việt Nam hơn kỳ tích này. Rồi mới đây Việt Nam trở thành một trong vài nước đứng hàng đầu thế giới về xuất khẩu hạt điều, cà phê, hạt tiêu sau khi đất đai nông trường được giao lại cho nông dân. Kỳ tích của người nông dân giúp cho Việt Nam tự túc về lương thực, đời sống họ được nâng cao. Tuy vậy nếu so sánh với thành thị, thì đời sống họ ngày càng thấp kém tương đối. Nghiên cứu của tác giả về nông thôn trong khoảng 1990ư1995 [3] cho thấy thu nhập bình quân đầu người ở nông thôn so với thành phố giảm từ 25% năm 1990 xuống 17% năm 1995 và hiện nay có thể còn thấp hơn nữa. Tại sao vậy? Lý do đơn giản là nông nghiệp tập trung ở nông thôn không có khả năng phát triển cao hơn 4ư5% một năm, trong khi công nghiệp, dịch vụ ở thành phố phát triển trên 10% một năm là thường, hơn nữa nông thôn lại có tốc độ phát triển dân số cao hơn thành thị.
. Muốn giải quyết vấn đề nông thôn, tính tự chủ của người dân Việt Nam hay nói riêng của nông dân phải được mở rộng hơn. Quyền tư hữu cần được xác lập. Nhà nước lo ngại sự trở lại của tình trạng điền chủ bóc lột nông dân khi những người giầu có thể thâu tóm ruộng đất vào trong tay. Lo ngại này có thể giải quyết bằng chính sách hạn điền. Quyền tư hữu sẽ xác định quyền tự quyết về mục tiêu sử dụng sản xuất những gì họ thấy có lợi nhất. Không thể tiếp tục chính sách quy hoạch ruộng đất của nông dân vào trồng cây lương thực. Dư thừa lúa gạo ngày càng nhiều và do đó xuất khẩu lúa gạo ngày càng lớn. Cung nhiều hơn cầu khiến giá lúa gạo ngày càng giảm. (Giá thóc năm 1995 trên 2.000 đồn/kg nhưng hiện nay (10/2000) chỉ khoảng 1.400đồng/kg.) Đó là chưa kể đến ảnh hưởng của lạm phát. Bảo đảm an ninh lương thực cả nước là điều cần quan tâm nhưng tác giả đã tính toán cho rằng Việt Nam hoàn toàn có khả năng bảo đảm an ninh lương thực quốc gia mà không cần áp dụng chính sách phi lý trên. Khả năng khai hoang ruộng đất vẫn còn và khả năng tăng năng suất đất còn rất lớn (đất ở Việt Nam tốt hơn Trung Quốc nhưng năng suất đất chưa được 2/3). Bài nghiên cứu [3] đã hoàn thành 5 năm trước và đến nay thì kết luận lại càng được thực tế chứng tỏ là đúng.
. Và cũng không thể tiếp tục chính sách hộ khẩu như hiện nay. Chính sách hộ khẩu không cho phép người từ nông thôn lên sống và làm việc ở thành phố nếu không được phép. Họ chỉ có thể có hộ khẩu nếu có nơi ở ổn định và có quyết định tiếp nhận của cơ quan có thẩm quyền (chẳng hạn như sau khi xin được việc làm). Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay có 520 ngàn người tạm trú có thời hạn (tức là có phép) và 300 ngàn thời vụ (tức là không có phép) trong tổng số hơn 5 triệu dân. Trước kia thì các thành phố đã bắt xúc đuổi họ về nông thôn, nhưng nay thì đành chịu. Tuy vậy người tạm trú bị mất rất nhiều quyền lợi, chẳng hạn nếu sinh con thì không được đăng ký hộ khẩu cho con, đưa đến việc con cái không được hưởng những quyền lợi xã hội tối thiểu như giáo dục, y tế miễn phí. (Coi báo Lao Động 3/10/2000). Tại sao nhà nước Việt Nam lại có chính sách như trên?
Trả lời: đó là những gì còn sót lại của thời kỳ mà mọi vấn đề đều phải do nhà nước hoạch định, vì nhà nước sợ nông dân đổ xô lên thành thị gây những vấn đề xã hội (chỗ ở, điện nước, môi trường, v.v.) mà không có khả năng giải quyết, cũng như nhu cầu kiểm soát chính trị thời chiến. Vậy thì giải pháp như thế nào? Trước tiên cần phải nói giải pháp phải dựa trên cơ sở quyền tự do đi lại của công dân đã được khẳng định trong hiến pháp (mặc dù còn một câu thòng .do luật pháp qui định. để tước bỏ quyền tự do này). Sau nữa, cần phải xác định một số qui luật kinh tế đã xảy ra trong lịch sử phát triển của thế giới như sau:
• Thành thị hoá là quá trình tất yếu của phát triển. Việc dân tập trung dân ở thành thị là quá trình kinh tế tự nhiên nhằm sử dụng hiệu qủa sản xuất lớn, tăng hiệu quả và giảm giá cung cấp các dịch vụ thiết yếu cho hoạt động sản xuất (giao thông phân phối, thị trường cung ứng và tiêu thụ, điện, nước, điện thoại, lao động trí óc, thông tin, tiếp nhận những ảnh hưởng ngoại vi khác.)
• Phát triển thành phố cùng với công nghiệp và dịch vụ, giảm dân nông thôn là con đường duy nhất để nâng cao đời sống của trên 75% dân số là nông dân. Khi khả năng tăng thu nhập bằng nông nghiệp thấp thì việc giảm dân là cách duy nhất để nâng cao thu nhập đầu người của những người còn lại.
• Thành thị hoá là vừa là kết qủa của phát triển vừa là động lực đẩy mạnh phát triển, nhưng ở một nước đông dân và địa lý trải dài như Việt Nam, không thể chỉ tập trung phát triển một hai thành phố mà phải chủ động trải rộng sự phát triển ra nhiều vùng, tạo động lực phát triển cả nước, đồng thời tránh thu hút nông dân vào một vài thành phố.
Việc này cần chính sách của nhà nước, đòi hỏi chuyển thuế thu ở vùng giầu sang vùng nghèo để xây dựng hạ tầng cơ sở. Tốc độ phát triển của cả nền kinh tế có thể thấp xuống nhưng đó là cái giá phải trả, dựa trên công lý tạo ra lợi ích lớn nhất cho những người không may mắn nhất đã bàn ở trên. Quan điểm này khác xa quan điểm của Lý Quang Diệu khuyên Việt Nam tập trung phát triển thành phố Hồ Chí Minh thành đầu tầu.
2.2 Sản xuất tư nhân
. Chính sách chấp nhận kinh tế tư nhân (gồm hai loại: hộ gia đình và công ty doanh nghiệp) đã ra đời từ Hiến pháp năm 1992 nhưng vẫn còn đang trải qua quá trình "gian khổ" trong thực hiện. Gian khổ bởi vì cách hiểu về chính sách còn chưa thống nhất trong lãnh đạo. Dự thảo Đại hội 8 (năm 1995) định nghĩa kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trên cơ sở lấy kinh tế quốc doanh làm chủ đạo, do đó đưa ra chỉ tiêu, kinh tế quốc doanh phải tạo ra 60% GDP.
Tranh luận trong Đảng đã bỏ được tiêu chí này, đưa đến quan điểm "lấy kinh tế nhà nước" làm chủ đạo. Kinh tế nhà nước được hiểu là bao gồm chính sách kinh tế nhà nước và dĩ nhiên là cả công ty quốc doanh, hoặc hiểu theo một nghĩa nào đó cũng được, nhưng đó đã là bước tiến mới về tư tưởng. Dự thảo Đại hội 9 (2001) định nghĩa kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa là lấy "sở hữu công cộng (toàn dân và tập thể) làm nền tảng" và "kinh tế nhà nước làm chủ đạo." Một bước lùi về sở hữu? Vấn đề sở hữu sẽ được bàn ở một mục riêng trong bài này, nhưng cần thấy kinh tế tư nhân không thể phát triển nếu quan điểm về sở hữu không được giải quyết.
. Phát triển kinh tế hộ gia đình sau năm 1989 là lý do chính đưa tới sự thành công của công cuộc đổi mới, vì nó giúp cho việc cải cách quốc doanh mà không để xảy ra bất ổn xã hội. Cải cách quốc doanh, một cái thùng không đáy đòi hỏi bù lỗ từ ngân sách nhà nước, đã cho thôi việc gần một triệu lao động trong khi đó chính khu vực kinh tế hộ gia đình phi nông nghiệp đã tạo ra thêm 2,3 triệu việc làm trong thời gian 1985ư1995. Doanh nghiệp tư nhân (tức là công ty) vẫn không phát triển (chiếm 3,1% GDP năm 1993 và 3,4% năm 2000). Đó là vì quyền tự do kinh doanh cho đến mới đây không được thực sự công nhận. (Coi phân tích kinh tế tư nhân ở [1, 6].)
. Quyết định về đăng ký của Thủ Tướng đầu năm 2000 là một quyết định quan trọng nhằm tự do hoá quyền kinh doanh của dân chúng trên cơ sở: những gì luật pháp không cấm thì người dân được làm. Quyết định này được mệnh danh là xoá bỏ quan hệ "xin cho." Cho đến mới đây, dân phải xin được nhiều giấy phép của rất nhiều cửa công quyền với đủ mọi điều kiện khó khăn trước khi được giấy phép kinh doanh. Dân được quyền xin, và chính quyền được quyền cho. Hệ thống trên tạo ra hối lộ và kìm kẹp phát triển. Quyết định về đăng ký này tách việc xin giấy kinh doanh ra khỏi trách nhiệm kiểm tra của nhà nước về điều kiện cần có để kinh doanh như biện pháp bảo vệ môi trường hay chứng nhận chuyên môn trong một số ngành như chữa bệnh, cố vấn pháp luật, xây dựng, kiểm toán, v.v. Giấy phép kinh doanh là chứng nhận công ty đã đăng ký hoạt động. Chỉ với quyết định trên, đã có 7.664 doanh nghiệp đăng ký với số vốn 7 ngàn tỷ, gấp ba số doanh nghiệp đăng ký cùng kỳ năm 1999 và 1,7 lần về vốn. (Thời Báo Kinh tế Sài Gòn, số 36-2000, 31/8/2000). Việc thực hiện cũng không dễ dàng vì gặp sự chống đối của nhiều cơ quan chính quyền với nhiều lý do khác nhau, thí dụ Bộ Văn hoá Thông tin ngay sau đó ra lệnh đòi có giấy kiểm tra chuyên môn trước khi nghệ sĩ được đăng ký hành nghề.
. Nền kinh tế tư nhân không giải quyết được nạn hối lộ công quyền nhằm tránh áp dụng các qui định nhà nước đặt ra mà cần thêm các yếu tố khác trong đó có nền tư pháp minh bạch, hữu hiệu và các qui chế, qui định không có tính chất bóp nghẹt doanh nghiệp. Nhưng nền kinh tế tư nhân không tạo ra cơ hội cho tham nhũng của công mà doanh nghiệp nhà nước tạo ra vì tính chính của chung không ai khóc của doanh nghiệp nhà nước.
Số lượt đọc:
13763
-
Cập nhật lần cuối:
05/02/2009 03:23:09 PM
Ý kiến của bạn về bài viết: |  |
Thông tin liên quan: Di chúc Hồ Chí Minh với mục tiêu phát triển đất nước và các mô hình về CNXH07/09/2009 11:52' AM Bài viết này, nhân nhận thức sâu sắc thêm mô hình mục tiêu về CNXH ở nước ta từ trong Di chúc Hồ Chí Minh, suy nghĩ về mô hình CNXH hiện nay ở nước ta, mà theo tác giả là loại mô hình CNXH thứ 3, khi tham khảo về mô hình Thụy Điển qua “Báo cáo khảo sát” của chuyên gia Trung Quốc, đã dịch đăng/ trích đăng trên tạp chí nước ta gần đây... Tính hiệu quả của mô tả09/08/2009 01:20' PM Trong mô tả một hiện tượng, một sự vật hay một hệ thống nào đó, tính hiệu quả của một mô tả có thể được định nghĩa bằng so sánh độ dài của mô tả đó và độ dài của mô tả ngắn nhất có thể có trong số tất cả các mô tả khả dĩ... Tây Nguyên, những vấn đề trong phát triển kinh tế11/07/2009 04:48' PM Tây Nguyên là khu vực cần đặc biệt quan tâm đến vấn đề an ninh, quốc phòng cho cả trước mắt và lâu dài, đến môi trường tự nhiên và môi trường văn hoá. Trong bài này tôi chỉ xin đưa ra thêm những nét chính, trên cơ sở sự tổng hợp những quan sát như các trí thức khác trong xã hội về chủ đề lớn của đất nước là Góp phần phát triển kinh tế - xã hội cho vùng Tây Nguyên nhằm chia sẻ với bạn đọc chungta.com. Quan niệm của Hêghen về xã hội công dân26/06/2009 10:00' AM Trong bài viết này, tác giả đã phân tích một cách khái quát quan niệm của G.V.Ph.Hêghen về xã hội công dân (xã hội dân sự), về các mối quan hệ kinh tế của xã hội công dân cũng như cơ cấu đẳng cấp và biện chứng của xã hội công dân. Theo tác giả, Hêghen đã đứng trên cơ sở của chủ nghĩa duy tâm khách quan, thần bí để xem xét mối quan hệ giữa xã hội công dân và nhà nước, coi nhà nước là cái có trước, là cơ sở và động lực của xã hội công dân. Vì vậy, có thể nói, quan niệm của Hêghen về xã hội công dân nói riêng và triết học của ông nói chung có tính chất mâu thuẫn. Báo chí và quyền Nhà nước pháp quyền20/06/2009 08:23' PM Bảo là cánh cửa dân chủ đã mở cũng đúng. Nói cho có vẻ "văn hoa", bảo là "cuộc chơi" dân chủ bắt đầu cũng quá đúng. Nếu ai đó chịu khó quan sát, chịu khó thống kê các sự kiện báo chí Việt nam từ thời đổi mới, từ thời mở cửa... Xã hội công dân và xã hội dân sự: từ Arixtot đến Hêghen08/05/2009 10:50' AM Bài viết phân tích tư tưởng của Arixtốt về cộng đồng chính trị - một khái niệm được coi là khởi thuỷ của khái niệm xã hội công dân/xã hội dân sự sau này. Đồng thời, phân tích tư tưởng về xã hội dân sự trong thời cận đại qua một số đại biểu điển hình. Đặc biệt, tác giả đã làm rõ sự kế thừa và phát triển của Hêghen đối với quan điểm của Arixtốt về xã hội công dân. Bàn về lao động01/05/2009 10:00' AM Gần đây người ta hay nói: Người Nhật làm việc quá nhiều. Nhưng theo tôi, lao động là thứ mà thời đại nào cũng quý, cũng quan trọng. Lấy một ví dụ có thể là hơi cực đoan, nhưng nếu không một ai lao động thì cũng sẽ không có sự tiến bộ nào và không thể hình thành nên thế giới con người. Khơi dậy sức mạnh mềm21/01/2009 01:31' AM Cho dù trọng tâm cuộc mưu sinh của người đời luôn gắn liền với chuyện cơm áo gạo tiền, nhất là trong thời kỳ kinh tế đang trên đà suy thoái, nhưng không ai trong chúng ta có thể phủ nhận các giá trị văn hóa vẫn chiếm một chỗ đứng quan trọng trong cuộc sống, không chỉ trên bình diện quốc gia mà cả quốc tế. Thị trường và con người05/01/2009 10:51' AM Những khủng hoảng gần đây đều do đạo đức. Lòng tham đã tạo ra những hành động phi đạo đức, dẫn đến khủng hoảng. Kết hợp ba cơ chế đối với trách nhiệm thực thi Công vụ31/12/2008 01:04' PM Những tiêu cực trong lĩnh vực quản lí kinh tế xã hội ở mức độ khác nhau xảy ra ở nước ta trong những năm gần đây cho thấy sự suy đồi về tinh thần thực thi công vụ, thoái hóa về nhân cách của nhiều Quan chức và Công chức có nguyên nhân nằm sâu trong cơ chế... Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền của Liên Hợp Quốc (*)08/12/2008 03:38' PM Ngày 10 – 12 – 1948, Liên Hợp quốc công bố bản Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền. Bản Tuyên Ngôn thể hiện các khát vọng và mục tiêu hướng tới của toàn nhân loại đã được nhà nước Việt Nam long trọng cam kết thực hiện. Phát triển kinh tế tư nhân - xu thế tất yếu trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay06/09/2008 12:50' PM Phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một xu hướng tất yếu, một chủ trương đúng đắn và nhất quán của Đảng ta... Kinh tế thị trường và trách nhiệm xã hội23/07/2008 08:24' AM Ý thức về trách nhiệm xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường hiện đại giúp cho người ta thấy rằng, thị trường thế giới rộng lớn, đầy tiềm năng trên phạm vi toàn cầu là môi trường vô cùng thuận lợi để tìm kiếm lợi nhuận không chỉ cho riêng mình, mà còn cho cả quê hương, đất nước và cho sự phát triển, sự tiến bộ chung của xã hội. Luận bàn về quản lý: Nhà nước, mô hình tập đoàn và cổ phần hóa27/04/2008 10:29' AM Sau một năm gia nhập WTO, bên cạnh những thành tựu thu được, Việt Nam phải đối mặt với hàng loạt vấn đề lớn có xuất phát điểm từ điều hành quản lý kinh tế. Giới doanh nghiệp, người dân tiếp tục trông đợi sự chèo lái của Nhà nước nhằm giảm thiểu những rủi ro tiềm ẩn ở phía trước. Bàn về vấn đề này, các chuyên gia kinh tế khẳng định, để đáp ứng sự trông đợi đó, đã đến lúc cần một sự đổi mới về quản lý Nhà nước... Nguyên tắc kế toán và chính sách xã hội29/07/2007 09:47' AM Có người sẽ hỏi, chính sách xã hội liên quan gì đến các nguyên tắc kế toán? Nếu giả như không có các công cụ đo lường như cân, đồng hồ và thước để đo khối lượng, thời gian, độ dài..., thì đời sống xã hội sẽ ra sao? Chắc hẳn xã hội không văn minh nếu thiếu các công cụ đo lường vật lý ấy. Giáo dục trong sự song hành giữa Nhà nước và thị trường05/07/2007 07:21' PM Toàn cầu hoá đặt quyền lực kinh tế đáng kể vào các tập đoàn lớn, song lại nảy sinh đòi hỏi Nhà nước phải chi phối mạnh mẽ hơn về chính trị giáo dục và công nghệ. Giáo dục cho phép tăng cường liên kết xã hội nhằm giữ gìn bản sắc dân tộc trước áp lực toàn cầu hóa... Về thực chất của bước chuyển sang kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay21/06/2007 08:43' PM Nền kinh tế nước ta hiện đang ở giai đoạn quá độ, chuyển tiếp từ nền kinh tế tập trung, hành chính - bao cấp sang nền kinh tế thị trường. Do vậy, thực chất của giai đoạn quá độ, chuyển tiếp từ nền kinh tế tập trung, hành chính - bao cấp sang nền kinh tế thị trường. Do vậy, thực chất của giai đoạn quá độ trong nền kinh tế nước ta, đương nhiên là một vấn đề đặc biệt có ý nghĩa, rất cần phải được nghiên cứu, xem xét... Thời đại ngày nay vẫn là thời đại quá độ từ Chủ nghĩa tư bản lên Chủ nghĩa xã hội22/05/2007 10:53' AM Quan niệm đầy đủ về một thời đại mang tính quá độ đòi hỏi chúng ta phải có sự nhận thức đúng đắn về địa vị của cả CHXH lẫn CNTB trong thế giới thực tại. Điều đó không hề làm mất đi trong nhận thức và quan điểm của chúng ta sự cần thiết phải phê phán tính chất phản động về chính trị của các thế lực tư bản, đế quốc. Về quan hệ sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay14/05/2007 04:36' PM Quan hệ sở hữu xã hội chủ nghĩa, cũng như quan hệ sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là vấn đề luôn thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu lý luận, song ở đây, vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau. Khi thị trường hắt hơi, sổ mũi11/05/2007 11:29' AM Vài tháng trước, tôi được mời tham gia tư vấn chiến lược phát triển thị trường cho một Công ty lớn của Việt Nam. Với một thương hiệu mạnh đã được người tiêu dùng chấp nhận qua hơn 20 năm, cùng với mức doanh thu hàng năm lên tới gần 200 tỷ đồng, doanh nghiệp này thực sự đã khẳng định một vị thế đáng ghen tị tại thị trường nội địa. Tuổi trẻ là không ngủ yên17/03/2010 10:30' AM Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, ví tuổi trẻ như một kho báu quốc gia cần được khai thác đúng cách. SVVN đã có cuộc trò chuyện với ông Không khách quan, không khoa học, không có giá trị pháp lý15/03/2010 10:14' AM Sự kiện tổ chức National Geographic Maps thuộc Hội địa lý Quốc gia Mỹ (National Geographic Society – NGS) thể hiện quần đảo Hoàng Sa (có tên quốc tế là Paracel) là Tây Sa thuộc Trung Quốc trên dịch vụ bản đồ trực tuyến của tổ chức này tiếp tục gây nhiều phản ứng trong giới học giả Việt Nam. Vấn đề đặt ra là trước sự kiện xâm phạm nghiêm trọng đến chủ quyền của Việt Nam, chúng ta phải đối phó ra sao? Xã hội khôn ngoan biết khai thác tốt tài nguyên tinh thần10/03/2010 10:12' AM Xã hội khôn ngoan, sáng suốt, nhân văn thì biết bảo tồn, nâng niu, khai thác triệt để nguồn tài nguyên vô giá của dân tộc mình và của cả nhân loại để làm giàu cho tâm hồn và cuộc sống của mình. Nếu không, thì mỗi con người, thậm chí là cả dân tộc chỉ tồn tại vơ váo đứt đoạn trên thế gian này. Một thế kỷ nhìn lại06/03/2010 01:45' PM Vào những năm 80, 90 của thế kỷ 19, trung tâm công nghiệp Chicago (Mỹ) tập trung hàng vạn lao động phụ nữ và trê em. Họ luôn phải làm việc trong điều kiện thiếu thốn, bị coi rẻ, đồng lương thấp kém. Ngày 8/3/1899, nữ công nhân ngành dệt và ngành may. Ở Chicago đã tiến hành bãi công, đòi tăng lương, giảm giờ làm. Họ buộc chủ lao động phải chấp nhận yêu sách nhằm cải thiện đều kiện lao động và sinh hoạt. Từ Chicago, phong trào đấu tranh đòi quyền bình đẳng của phụ nữ đã lan rộng khắp nơi, ngày càng mở rộng trên nhiều lĩnh vực. Đó chính là tiền đề cho sự ra đời của Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3. “Chúng tôi đã để lại cho chính mình một gánh nặng!”05/03/2010 07:43' AM Từ năm 2005, GS.TS. Chu Hảo và Nhà xuất bản (NXB) Tri Thức đã bắt tay xây dựng một kế hoạch tham vọng: xây dựng tủ sách Tinh hoa Tri thức thế giới với mục tiêu dịch và xuất bản 500-1.000 đầu sách trong 10 năm. Ý tưởng táo bạo này được hoan nghênh, nhưng ngay GS.TS. Chu Hảo, Giám đốc NXB Tri Thức, cũng phải thừa nhận dịch và in sách “tinh hoa” ở Việt Nam là con đường gian nan… Để phát huy sức mạnh mềm Việt Nam03/03/2010 08:09' AM Sức mạnh mềm giúp một quốc gia nhận được nhiều cảm tình và sự hợp tác từ bên ngoài. Khi cần sự hỗ trợ, họ cũng dễ dàng hơn trong việc tiếp cận với những quốc gia khác. Tướng Đồng Sỹ Nguyên cảnh báo việc cho nước ngoài thuê rừng02/03/2010 09:25' AM Tướng Đồng Sĩ Nguyên lên tiếng về việc một số địa phương cho người nước ngoài thuê dài hạn đất rừng đầu nguồn. Doanh nghiệp nhà nước tăng, doanh nghiệp dân doanh giảm01/03/2010 04:13' PM Đây không phải là hiện tượng mới lạ, lần đầu mọi người tiêu dùng mới nhận thấy…mà đã là thứ hiện tượng quen thuộc nhiều năm nay …. Thay vì mừng với sự giảm giá SP / DV của nhiều DN Dân doanh, thì đại bộ phân dân chúng lại cảm thấy ức chế mà buộc phải đi đến chấp nhận không sớm thì chiều sự tăng giá của một số Doanh nghiệp Nhà nước hàng đầu nhưng hoạt động độc quyền trong lĩnh vực đặc biệt thiết yếu của đời sống và của nền Kinh tế Quốc dân như (Điện Nước, Xăng Dầu, Vận tải hàng không, đường biển )… Bài khác: 1 + 1 = 2 x n01/01/1900 12:00' AM Nói Đặng Thành Tâm là một trong những “tiêu điểm” của doanh nhân Việt Nam trong năm 2006 có lẽ không sai. Là một trong ba doanh nhân đại diện cho doanh nhân cả nước nếu kiến nghị với Chủ tịch nước tại Lễ tôn vinh 100 doanh nhân tiêu biểu. Là lãnh đạo 1/10 doanh nhân tiêu biểu của TP. Hồ Chí Minh. Là thành viên dự khuyết của Hội đồng tư vấn kinh doanh APEC, có nhiệm vụ tư vấn về kinh doanh cho 21 nguyên thủ quốc gia (còn gọi là ABAC - APEC BUSINESS ADVISORY). Là 1 trong 5 doanh nhân Việt Nam được Hoa kỳ chọn để đối thoại bàn tròn với Tổng thống Mỹ G.Bush trong chuyến thăm chính thức Việt Nam hồi tháng 11/2006… Lắng nghe người dân: dễ hay khó?01/01/1900 12:00' AM Chúng ta tự hào là đa số cán bộ có chức quyền đang lắng nghe người dân theo lời dạy của Hồ Chí Tịch. Nhưng lắng nghe như thế nào cho có hiệu quả là điều không dễ. Có hai yếu tố ảnh hưởng đến kết quả lắng nghe và dĩ nhiên là ảnh hưởng luôn đến việc ra các quyết định. Đó là chọn người dân để lắng nghe và kỹ năng lắng nghe Đất ơi, buồn không?01/01/1900 12:00' AM Theo số liệu thống kê, trên 75% số vụ khiếu kiện trong xã hội liên quan đến đất đai, nhà cửa, trong đó có không ít vụ khiếu kiện vẫn kéo dài qua nhiều năm vẫn chưa dược giải quyết. Điều này cũng phù hợp với đánh giá của Tổ chức minh bạch quốc tế rằng: Thị trường nhà đất Việt Nam kém minh bạch nhất thế giới Chính trị, quản lý và cơ chế của sự lựa chọn07/09/2005 10:34' AM Việc sử dụng và lạm dụng thuật ngữ "chính trị" khiến nó thường bị hiểu sai và bị tầm thường hoá. Một trong những sai lầm phổ biến nhất và cũng căn bản nhất, là sự nhầm lẫn giữa chính trị và quản lý, giữa nhà chính trị và nhà quản lý... Thể chế hóa quyền được thông tin21/11/2005 06:20' PM Thông tin là một loại sản phẩm độc đáo. Độc đáo ở chỗ nếu anh cung cấp cho người khác thì nó không mất đi mà lại tăng lên. Đây là lúc mà ý tưởng tuyệt vời được phát ra từ thế kỷ trước về sức mạnh của kiến thức và thông tin ngời ngợi tỏa sáng trước mắt chúng ta: "anh ta thắp sáng ngọn nến của tôi và nhận ánh sáng mà không hề làm cho tôi bị tối đi”... Hứa hay thề?21/11/2005 08:38' AM Chuyện thật mà cứ ngỡ như đùa, mà lại đùa dai! Ấy là chuyện đăng trên trang nhất Tuổi trẻ ngày 15-11-2005: “Thế nào là “lời hứa” của bộ trưởng?”. Đã bắt đầu bàn chuyện thiết thực17/11/2005 07:51' PM 100% thành viên Chính phủ tán thành bỏ việc cấp phép lập website, chỉ yêu cầu đăng ký. "Biết là không cản được, nhưng làm như vậy cũng có phần răn đe trong đó"... Phương pháp nghiên cứu của Nguyễn Trường Tộ15/11/2005 07:36' AM Cả cuộc đời của Nguyễn Trường Tộ là một sự nỗ lực học hỏi và tìm tòi. Phương pháp nghiên cứu của ông là "quan sát thế giới”, “chịu khó nghiên cứu cho sâu, học cho hết” rồi "đem những điều đã đọc được trong sách nghiệm ra việc đời". |