Đang tải dữ liệu...
ChúngTa.com.NET CommunityHanoi Software JSCDoanh nhân 360

Giới thiệuGiáo dụcSuy ngẫm & Triết lýKinh doanhKỹ năng - Nghề nghiệpCNTT - Viễn thôngThư giãn & Giải trí 
Chào mừng đến với ChúngTa.com

ChúngTa.com kiên trì theo đuổi mục đích cung cấp những "món ăn tinh thần" hàm lượng tri thức cao giúp bạn trẻ nối dài phương pháp suy nghĩ, thêm tư liệu tốt cho nhận thức và cải tạo thế giới.

Để xây dựng tòa nhà tri thức và sử dụng tòa nhà với nhiều tiện nghi, giúp bạn đọc thực sự làm chủ được khối lượng tri thức, ChúngTa.com chuyển sang giai đoạn tổ chức và tăng cường các khả năng chia sẻ tri thức.

Giới thiệu... Trao đổi...
Tìm bài viết
Tìm kiếm nâng cao
Thống kê
Số lượt truy cập: 16.389.266
Số người trực tuyến: 269

Trang chủ  >  Suy ngẫm  >  Về luân lý và giá trị

Giá trị luận

Nguyễn Huy Hoàng
Triết học - văn hóa: giá trị và con người
   
08:14' PM - Thứ tư, 30/01/2008

Giá trị luận (từ chữ Hy Lạp axios - giá trị và logos từ, khái niệm) học thuyết về các giá trị, lý thuyết triết học về những nguyên tắc có ý nghĩa chung, quy định hướng hoạt động, động cơ hành động của con người.

1. Sự hình thành và phát triển của giá trị học.

Giá trị học (axiologie) - một bộ môn mới mẻ của tri thức triết học. Như một khoa học triết học độc lập giá trị học thực sự chỉ mới xuất hiện vào cuối thế kỷ 19. Dĩ nhiên rằng chúng ta có thể tìm thấy những lời bàn về cái thiện, cái đẹp, cái thần thánh v v… ở các nhà triết học cổ đại, các nhà thần học trung cổ, các nhà tư tưởng thời Phục hưng và cả ở các nhà triết học thời cận đại. Tuy nhiên như một học thuyết triết học về bản chất của giá trị, vị trí của các giá trị trong hiện thực và về cấu trúc của thế giới giá trị chỉ có thể được tìm thấy trong triết học của nửa thứ hai ở thế kỷ 19 mà thôi.

Vấn đề giá trị trong nghĩa tương đối rộng tất yếu phải nảy sinh vào những lúc suy thoái các truyền thống văn hóa, sự mất tín nhiệm của hệ tư tưởng thống trị. Sự khủng hoảng của chế độ dân chủ Aphin đã buộc Xôcrát lần đầu tiên đặt ra câu hỏi: "Lợi ích là gì? Đấy cũng là vấn đề chủ chốt, khái quát củagiá trị học. Trong triết học Cổ đại và Trung cổ, những đặc trưng giá trị (đạo đức, mỹ học và tôn giáo) đều được quy về khái niệm hiện thực hay tồn tại Toàn bộ truyền thống duy lý duy tâm từ Platôn đến Hêgen và Croce đều có chung đặc điểm không tách rời bản thể luận và giá trị học, tồn tại và giá trị Giá trị học chỉ xuất hiện khi khái niệm tồn tại tách khỏi khái niệm giá trị.

Vào những năm 60 của thế kỷ 19, G.Lotze với tác phẩm "Những cơ sở của triết học thực tiễn" đã cố khu biệt hiện tượng giá trị ra khỏi tồn tại nhằm khắc phục việc quy tất cả mọi hiện tượng trong cuộc sống của con người về vấn đề bản thể luận. ông đã quy cái lợi ích, cái đẹp, cái công bằng và những biểu hiện khác của tồn tại thường "dấy lên những xúc cảm trong ta nhưng lại hoàn toàn không phụ thuộc vào sự tuỳ tiện của chúng ta" về lĩnh vực giá trị. Trong các tác phẩm tiếp theo, đặc biệt là trong "Tiểu vũ trụ G.Lotze đã nói đến "giá trị bên trong" của đời sống tinh thần, "giá trị của những dấu ấn cảm xúc" 'giá trị của con người" và "giá trị của lịch sử. Rõ ràng rằng để gán những ý nghĩa như thế cho mối liên hệ cảm xúc của con người với thế giới, thu hẹp phạm vi hoạt động nhận thức của tư duy, G.Lotze đã phải dựa vào những nguyên lý của chủ nghĩa lãng mạn, dựa vào những bước đi đầu tiên của chú giải học và triết học đời sống. Việc làm của G.Lotze đã có ý nghĩa lớn: làm cho sự quan tâm tới siêu hình học bị suy giảm và ngược lại làm cho nhu cầu suy ngẫm, tìm hiểu tất cả các hiện tượng trực tiếp hay gián tiếp liên quan đến hiện tượng giá trị được tăng lên.

Khó khăn đầu tiên của bộ môn giá trị học chính là việc làm sáng tỏ mối liên hệ giữa hiện tượng giá trị và cội nguồn sinh ra nó. Việc lý giải sự thống nhất và đa dạng của thế giới giá trị phụ thuộc vào cách giải quyết khó khăn này. Trong quá trình nghiên cứu, chúng ta thấy nổi lên bốn xu hướng chính, bốn quan điểm lý luận để giải quyết vấn đề.

1. Quan điểm tâm lý học giá trị (V. Wundt, Pa.Bien- tang; A.Meinong). Ở đây, thế giới chủ quan của con người - mục đích, cảm xúc, ý chí và những nhu cầu, những định hướng hình thành trong xã hội được xem xét như cội nguồn của giá trị. Còn chính giá trị lại được hiểu như bất kỳ một vật nào có ý nghĩa, có giá trị đối với con người. Mặt mạnh của cách tiếp cận này là sự thâm nhập sâu của nó vào sinh hoạt thường ngày và sự gắn bó chặt chẽ của nó với kinh nghiệm. Những mối quan hệ giữa cái chủ quan và cái khách quan và hiện tượng cùng thừa nhận chung các giá trị lại trở thành nan giải đối với quan điểm này.

2. Quan điểm chuẩn mực giá trị học (M. Weber, V.Dilthey; O.Spengler). Theo quan điểm này, đời sống văn hóa xã hội của một tập hợp người là cội nguồn có giá trị, còn chính bản thân giá trị lại được đồng nhất với các chuẩn mực, các nguyên tắc, cùng các quan điểm chuẩn mực đảm bảo sự hoạt động và sự biến đổi lịch sử của chúng. Cách tiếp cận này cho phép không chỉ khắc phục chủ nghĩa chủ quan mà còn nhận thức được sự độc đáo khách quan của vô số các nền văn minh khép kín. Nhưng sự tương quan giữa cái cao cả và cái thấp hèn, giữa sự đổi mới và lỗi thời của các chuẩn mực không được xem xét và lý giải trong cách tiếp cận này. Ở đây cơ chế của sự ưa thích một số chuẩn mực này so với các chuẩn mực khác, thứ tự của chúng và cách thức của chúng. giữ gìn sự hoàn chỉnh của tộc loại người vẫn không được giải thích.

3. Quan điểm tiên nghiệm giá trị học (G.Lotze; V. Windelband; G.Rickert). Quan điểm này cho rằng cội nguồn của các giá trị nằm trong sự phân biệt các quá trình văn hóa với các hiện tượng tự nhiên. Giá trị đã tạo nên một vương quốc ý nghĩa, một hệ thống các nguyên tắc, các chuẩn mực, các lý tưởng. Những giá trị như thế không phải là chủ quan nhưng đồng thời cũng không phải là khách quan, chúng là tiên nghiệm và theo bản chất của mình chúng định hướng cho con người đạt tới một số mục đích cao cả. Quan điểm này vẫn không thể làm sáng tỏ giữa cái tinh thần và cái hiện thực, giữa cái tiên nghiệm và cái nội tại. Lĩnh vực giá trị không thể nhận thức mà chỉ sáng tỏ trong sự thiên khải thần bí thôi.

4. Quan điểm bản thể luận giá trị học. Hình thành vào những năm đầu của thế kỷ 20, quan điểm này phê phán cả ba quan điểm trước và mong muốn phục hồi đổi mới siêu hình học. Khuynh hướng này được thể hiện ở V Dilthey và G.Rickert vào giai đoạn cuối, còn việc giải quyết những khó khăn cơ bản trên con đường này lại do M.Scheler và N.Hartmann gánh vác. Những người đi theo cách tiếp cận này tuyên bố không chấp nhận sự thần bí cùng thuyết duy linh và mong muốn một mặt đi sâu vào nghiên cứu các phương thức, những con đường và các cách giải quyết lý luận trong giá trị học. Mặt khác đồng thời tìm kiếm, nghiên cứu nhằm mở rộng tri thức triết học. Đó là nghịch lý nhưng chính nghịch lý này đã đem lại bức tranh mới của triết học hiện đại, đã xác định vị trí của giá trị học trong hệ thống tri thức hiện thời.

Sự va chạm của hai học thuyết - học thuyết của Pa.Nietzche về "cái chết của Chúa" cùng việc đánh giá lại toàn bộ các giá trị và học thuyết của H. Bergson về thời gian, chính xác hơn về thế giới như độ dài và việc trải nghiệm trực tiếp "sự chuyển động không chia cắt của hiện thực là những nguyên lý quan trọng nhất để hình thành cấu hình (paradigm) của cả siêu hình học lẫn giá trị học của thế kỷ 20. M.Heidegger đã chỉ ra sự không hiện thực của các giá trị trong thế giới hiện thực ở học thuyết của Nietzche. Sau này J.Deleuze căn cứ trực tiếp vào cả hai học thuyết của Nietzche và Bergson đã xác nhận rằng các nhà tư tưởng hiện thời thường chỉ nhìn thấy vẻ bề ngoài mà chẳng đi sâu vào cũng như đi cao lên. Nói cách khác, con người hiện đạ không thể thâm nhập sâu vào sự Thông thái để tìm kiếm cái Lợi duy nhất, không thể leo cao đến Chúa để tạ ơn Người. Một cái nhìn theo chiều ngang kết hợp sự tồn tại hàng ngày của các cá thể trong thế giới cùng với sự trải nghiệm về thời gian của tồn tại này đã thay thế cho sự xem xét theo chiều dọc thế giới giá trị. Vậy thì cả Nietzche lẫn Bergson đều không hoàn thành sứ mệnh tìm kiếm những cơ sở siêu hình học của tồn tại và giá trị. Không hoàn thành bởi lẽ sự biện minh của tôn giáo đã cản trở Bergson, còn đối với Nietzche người ta cho rằng tư tưởng về vòng quay vĩnh hằng và ý chí vươn tới quyền lực đã không được cụ thể hóa và không có hiệp ước nên đã trở thành đối tượng xuyên tạc chính trị - xã hội.

Nguyên lý thứ hai trong việc xây dựng giá trị học là mối quan hệ đồng thời với vấn đề giới hạn siêu hình học của tồn tại, của nhận thức và với đề tài 'ý nghĩa". Thì đấy, chủ nghĩa hiện sinh chằng chuyển vấn đề tồn tại thành vấn đề ý nghĩa của tồn tại đó sao. Với bước ngoặt cực kỳ quan trọng như thế, người ta hướng đến sự độc đáo của tồn tại người, sự tồn tại được xem xét trong khung cảnh của "độ dài" vốn có ở con người. Cái gọi là thời gian thì không thể biểu hiện được trong ngôn ngữ của các khái niệm, mà chính nó - thời gian lại lôi cuốn các cá thể tự do lựa chọn những định hướng giá trị trong cuộc sống vốn có của mình. Hiện thực và sự phóng chiếu của sự sinh tồn như thế đòi hỏi một sự quan tâm vô điều kiện đến "cái khác" và "những kẻ khác" mà ở cấp độ siêu hình học chúng chỉ được thấu hiểu thông qua phạm trù "hư vô", còn ở cấp độ hiện sinh tạo ra trạng thái "sợ hãi", "khủng khiếp và lo âu Lo âu trước khuôn mặt của tương lai đã thâm nhập vào cả hiện tượng loe'". Husserl đã gắn kết bước ngoặt của mình từ vấn đề phương pháp luận tới vấn đề thế giới quan với số phận của văn hóa châu âu và sự khủng hoảng của con người. Theo Husserl, các nhà thực chứng được định hướng bởi chủ nghĩa khách quan nên chẳng quan tâm gì tới cuộc sống của mỗi cá thể, ngược lại nhờ có sự cởi mở của .mình với thế giới, hiện tượng luận đã xuyên qua tầng tầng lớp lớp của những sự lắt léo, những huyễn tưởng, những sự giải thích mang tính hệ tư tưởng để đạt tới "ý nghĩa". ờ đây, trong thế giới này, trong thế giới mà chúng ta đang sống không có "tồn tại thuần tuý", nó là "liên chủ thể" vì thế cội nguồn của ý nghĩa không ở phía sau mà ở phía trước các chủ thể. Tư tưởng Về sự dự tính Của tồn tại cá nhân và thế giới mà những giới hạn của nó chỉ được hình dung trong ngôn ngữ; tư tưởng về tính trách nhiệm đối với lịch sử thông qua sự chọn lựa và giải quyết mà chúng ta đặt cược cuộc sống của mình; những tư tưởng liên kết ý nghĩa của tồn tại và giá trị của cuộc sống với tương lai - tất cả tất cả những tư tưởng ấy và những tư tưởng gần gũi với chúng có thể tìm thấy ở trong triết học văn hóa, triết học chú giải, triết học ngôn ngữ và triết học lịch sử hiện thời. Tất cả những tư tưởng này đều được ghi nhận trong giá trị học và xác định trường vấn đề của nó mà ở bên ngoài "trường" này giá trị học trở thành vô nghĩa.

Trong vô số các nhà tư tưởng mà ở mức độ này hay khác đã xác định diện mạo và sự độc đáo của giá trị học ở thế kỷ 20 cần phải nhắc đến tên tuổi của M.Scheler và N.Hartmann. Cống hiến đặc biệt của M.Scheler được thể hiện trong việc luận giải những nguyên tắc xây dựng giá trị học hiện tượng và vượt qua những khó khăn về mặt lý luận mà vào thời của mình, trước những khó khăn này I Can tơ đành phải xây dựng đạo đức học trên những cơ sở siêu hình học khác nhau. M.Scheler đã lấy, tiên nghiệm cảm xúc" và "lôgic học trái tim" đối lập với 'tiên nghiệm hình thức" và "lôgíc học tiên nghiệm" của I.Can tơ. Một cách tiếp cận như thế đã cải biến triệt đổ bức tranh của thế giới giá trị. Giờ đây, các giá trị trở thành những nhân tố nội tại bên trong mà không phải tiên nghiệm bên ngoài. Những phẩm chất khách quan đã trở thành phương thức tồn tại của chúng, nghĩa là sự tồn tại của các giá trị không bị quy về chỉ mỗi các chuẩn mực, các phán đoán hay các "mệnh lệnh tuyệt đối". Sự thấu hiểu chúng - nói chính xác hơn sự khám phá hiện sinh được thực hiện bằng con đường kiến giải trực giác, bằng sự chiêm nghiệm được xây dựng trên cơ sở xúc cảm của tình yêu mà hoàn toàn không phải con đường mà I.Can tơ đã làm: liên kết "lý tính lý luận. thuần tuý" với "lý tính thực tiễn .thuần tuý". M.Scheler cũng gạt bỏ luôn cả một phần học thuyết của I.Can tơ mà ở đó dường như giác tính đã ấn định trước những quy luật của mình cho tự nhiên. Theo M.Scheler, chúng ta chỉ có thể ấn định trước những ký hiệu và mối liên hệ của chúng mà thôi.

Hartmann có nhiều điểm chung với Scheler: xem xét ớ cấp độ hiện sinh, phương pháp hiện tượng luận, ưa thích tiếp 'cận vấn đề một cách hệ thống. Sự độc đáo của Hartmann ở chỗ ông đến với giá trị học tử siêu hình học nhưng là siêu hình học phê phán. ông gọi siêu hình học đó là siêu hình học của những vấn đề không được giải quyết và luôn có những dấu ấn phi lý. Phương diện có thể nhận thức được của tồn tại thì nhập vào bản thể luận, còn phương diện hiện tượng luận thì nhập vào giá trị học. Một cách tiếp cận như thế đã biến đổi thực sự bức tranh toàn cảnh của vấn đề giá trị. Cách tiếp cận với giá trị thì cũng như Scheler hãy còn là bên trong nhưng không phải là nội tại mà là tiên nghiệm - cảm xúc và bao hàm cả những hành vi đợi chờ xúc cảm cùng với những dự báo, sự tò mò, niềm hy vọng và cả những hành vi xúc cảm được nảy sinh tự nhiên: khao khát và xao động v.v... Trong bốn lĩnh vực của tồn tại Hartmann chú trọng đến hai loại đầu hiện thực và lý tưởng nhất,ở đây trong sự so sánh với hiện thực, tồn tại lý tưởng là "tồn tại thấp kém" mà không phải "cao siêu hay "cao cả hơn". Điều này đã được nói ra ngay từ thời Platôn. Con người là điểm giao nhau của hai thế giới khác nhau thế giới hiện thực và thế giới lý tưởng. Các giá trị tác động vào thế giới hiện thực thông qua con người và sự tự do của nó. Hartmann đã phê phán một cách kiên quyết và triệt để huyền học và quan điểm tiên nghiệm tôn giáo. Khác hẳn với Scheler, ông loại bỏ hoàn toàn những giá trị tôn giáo ra khỏi sự phân loại các giá trị bởi lẽ sự tồn tại của chúng không được chứng minh. Đối với Hartmann, tinh thần chỉ là một mức độ đặc biệt của tồn tại. Theo bản chất của mình và theo các hình thức cơ bản, tinh thần có tính lịch sử. Đối lập với thế giới hiện thực - một thế giới bị chế định hoàn toàn, thế giới các giá trị không bị chế định

Vào những năm 60 của thế kỷ 20 đã diễn ra bước ngoặt lịch sử quan trọng và lớn lao: sự thay thế xã hội công nghiệp bằng xã hội hậu công nghiệp, chủ nghĩa tư bản bằng chủ nghĩa hậu tư bản bằng chủ nghĩa hiện đại bằng chủ nghĩa hậu hiện đại Sự tiếp xúc giữa phương Đông và phương Tây ngày một tăng cường do có sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân và sự thừa nhận về nguyên tắc quyền bình đẳng giữa các nền văn hóa của các khu vực và mọi dân tộc trên thế giới. Trong điều kiện như thế, vấn đề giá trị học không thể không trở thành cấp bách và không thề không được quan tâm.

Trước tiên một tuyển tập các bài báo "Những giá trị và tương lai: ảnh hưởng của những thay đổi công nghệ đối với các giá trị của Hoa Kỳ" đã được xuất bản vào năm 1971 ở New York. Trong lời nói đầu người làm tuyển tập đã giới thiệu rằng có hai vấn đề chính được thảo luận trong quyển sách này. Mục đích và kết quả hoạt động của các khoa học nhân văn và vấn đề giá trị; b. Phân biệt các bộ môn khoa học lý luận và khoa học lịch sử với vấn đề giá trị. Người viết lời giới thiệu muốn lưu ý chúng ta rằng, sở dĩ có những đề tài trên là do những thành tựu to lớn của các khoa học tự nhiên, không ít người đã xem chúng là phương pháp nghiên cứu vạn năng, đã xem chúng là tiêu chuẩn chung của tính khoa học. Thì đây, ông ta dẫn chứng bằng công trình "Về tâm lý học tồn tại" của A.Maxơlâu đã được xuất bản ở Mỹ vào năm 1968. Tác giả của cuốn sách muốn giải quyết những vấn đề giá trị học trên cơ sở của khoa tâm lý học. ở đây, giá trị đã được lý giải như nguyên tắc chọn lựa vốn có đối với bất kỳ một thực thể sống nào, từ chú gà choai cho đến con người. Nhà tâm lý học đã gọi một quan điểm như thế là "khoa học tự nhiên về giá trị của con người" và cho rằng nó có khả năng và hiệu quả để nghiên cứu những mục đích hay giá trị cao cả của thực thể người cũng giống như chúng ta nghiên cứu giá trị của những con kiến, con ngựa hay những cái cây và nếu muốn thậm chí còn nghiên cứu cả giá trị của người sao Hoả. Hơn nữa ông còn nhìn thấy trong con người hiện đại thiếu vắng một mắt xích trong cái dây chuyền giữa vườn ngưu và người văn minh. Theo ông, tồn tại ba mức độ giá trị Thứ nhất đó là mức độ chung cho toàn thể mọi người. Ở mức độ này những giá trị chung cho tất cả những người khoẻ mạnh được hình thành bởi lẽ họ tồn tại được nhờ chính những nhu cầu của cơ thể. Thứ hai, mức độ giá trị của một nhóm người nhất định. Thứ ba, mức độ giá trị của các cá thể đặc thù. Như vậy giá trị hóa ra là tình huống chọn lựa được nảy sinh từ nhu cầu và đôi khi còn được đồng nhất với nhu cầu. Các nhu cầu hay các giá trị lại được gắn bó chặt chẽ với nhau có thứ tự và tiến triển. Những nhu cầu cơ bản này hay các giá trị này có thể được xem xét như mục đích hay như những bậc thang để dẫn đến mục đích duy nhất cuối cùng. Chừng nào một đẳng cấp các giá trị vốn có với tất cả những người mạnh khoẻ, chừng đó chúng có thể và cần phải nằm trong cơ sở của một nền văn minh mạnh khoẻ. Điều đó đã gạt bỏ một sai lầm phổ biến, sai lầm cho rằng những lợi ích của các cá nhân và xã hội tất yếu phải đối kháng với nhau, phải loại trừ nhau, hay còn cho rằng văn minh trước tiên đó là cơ chế quản lý những trị học không thể không trở thành cấp bách và không thể không được quan tâm. Trước tiên một tuyển tập các bài báo "Những giá trị và tương lai: ảnh hưởng của những thay đổi công nghệ đối với các giá trị của Hoa Kỳ" đã được xuất bản vào năm 1971 ở New York. Trong lời nói đầu người làm tuyển tập đã giới thiệu rằng có hai vấn đề chính được thảo luận trong quyển sách này: a. Mục đích và kết quả hoạt động của các khoa học nhân văn và vấn đề giá trị; b. Phân biệt các bộ môn khoa học lý luận và khoa học lịch sử với vấn đề giá trị. Người viết lời giới thiệu muốn lưu ý chúng ta rằng, sở dĩ có những đề tài trên là do những thành tựu to lớn của các khoa học tự nhiên, không ít người đã xem chúng là phương pháp nghiên cứu vạn năng, đã xem chúng là tiêu chuẩn chung của tính khoa học. Thì đây, ông ta dẫn chứng bằng công trình "Về tâm lý học tồn tại' của A.Maxơlâu đã được xuất bản ở Mỹ vào năm 1968. Tác giả của cuốn sách muốn giải quyết những vấn đề giá trị học trên cơ sở của khoa tâm lý học. ở đây, giá trị đã được lý giải như nguyên tắc chọn lựa vốn có đối với bất kỳ một thực thể sống nào, từ chú gà choai cho đến con người. Nhà tâm lý học đã gọi một quan điểm như thế là "khoa học tự nhiên về giá trị của con người" và cho rằng nó có khả năng và hiệu quả để nghiên cứu những mục đích hay giá trị cao cả của thực thể người cũng giống như chúng ta nghiên cứu giá trị của những con kiến, con ngựa hay những cái cây và nếu muốn thậm chí còn nghiên cứu cả giá trị của người sao Hoả. Hơn nữa ông còn nhìn thấy trong con người hiện đại thiếu vắng một mắt xích trong cái dây chuyền giữa vườn người và người văn minh. Theo ông, tồn tại ba mức độ giá trị Thứ nhất - đó là mức độ chung cho toàn thể mọi người. ờ mức độ nảy những giá trị chung cho tất cả những người khoẻ mạnh được hình thành bởi lẽ họ tồn tại được nhờ chính những nhu cầu của cơ thể. Thứ hai, mức
độ giá trị của một nhóm người nhất định. Thứ ba, mức độ giá trị của các cá thể đặc thù. Như vậy giá trị hóa ra là tình huống chọn lựa được nảy sinh từ nhu cầu và đôi khi còn được đồng nhất với nhu cầu. Các nhu cầu hay các giá trị lại được gắn bó chặt chẽ với nhau có thứ tự và tiến triển. Những nhu cầu cơ bản này hay các giá trị này có thể được xem xét như mục đích hay như những bậc thang để dẫn đến mục đích duy nhất cuối cùng. Chừng nào một đẳng cấp các giá trị vốn có với tất cả những người mạnh khoẻ, chừng đó chúng có thể và cần phải nằm trong cơ sở của một nền văn minh mạnh khoẻ. Điều đó đã gạt bỏ một sai lầm phổ biến, sai lầm cho rằng những lợi ích của các cá nhân và xã hội tất yếu phải đối kháng với nhau, phải loại trừ nhau, hay còn cho rằng văn minh trước tiên đó là cơ chế quản lý những xung lực bản năng của con người. Đây quả là một điển hình trong việc biến khoa tâm lý học thành phương pháp phổ quát nhằm nghiên cứu thế giới
giá trị.
Vào năm 1972 , ở Dền Haang một tuyển tập những bài báo "Các khoa học nhân văn và vấn đề giá trị". Bốn năm sau ở Hoa Kỳ, các nghiên cứu của K.Sytaram và P.Cohdell "Những cơ sở của sự giao tiếp giữa các nền văn hóa" được xây dựng trên cơ sở so sánh, đối chiếu các hệ thống giá trị ở phương Tây, phương Đông, ở châu Phi và Các dân tộc theo đạo Hồi cùng những người Mỹ bản xứ đã được công bố. Vào năm 1977, ở New York đã diễn ra hội nghị lần thứ 11 dành cho việc nghiên cứu quá trình biến đổi của các giá trị. Trong các tài liệu của hội nghị lần thứ 12 được tổ chức vào năm 1989 đã đề cập đến hàng loạt những cuộc tranh luận, còn vào những năm kề đó các hội thảo về vấn đề giá trị đã được tiến hành với sự tham gia của nhiều nhà triết học từ các nước khác nhau. Vào cuối những năm 80 ở Mỹ liên tiếp công bố những tuyển tập các bài báo về những phương diện khác nhau của lý luận giá trị như: "Những giá trị xã hội và đạo đức: triển vọng cá nhân và xã hội", "Giao tiếp xã hội và giá trị: Những triển vọng của nước Mỹ", "Nghiên cứu các văn hóa và giá trị: gặp gỡ giữa các trường đại học, nhà thừ và các tộc người". Từ năm 1975 tới 1981, trường Đại học tổng hợp của thành phố Turku ở Phần Lan đã xuất bản năm tuyển tập dưới nhan đề "Những nghiên cứu về lý luận giá trị".Năm 1986 ở ấn Độ Hội nghị quốc tế dành cho sự xem xét những khác biệt về ý thức giá trị của phương Đông và phương Tây đã được tổ chức. Trong năm 1979, tạp chí "Văn hóa" của tổ chức UNESCO đã dành một số về vai trò của các giá trị trong sự phát triển của thế giới ngày nay.
Quả là thiếu sót nếu không nhìn thấy sự tìm tòi và cống hiến của các nhà triết học những nước xã hội chủ nghĩa trong việc xây dựng và phát triển giá trị học trên cơ sớ của chủ nghĩa Mác - Lênin. Trước tiên phải nhắc tới tên tuổi của các nhà triết học Nga - Xô viết như Tugarinốp, Xtalôvích, Vaxilencô, Khoan, Travtravatde vv...Ở Tiệp Khắc có V.Brôdik với tác phẩm "Lý luận mác xít về sự đánh giá ở Bungari có I.Pa xi với "Những vấn đề giá trị", ở Hungari cos I.Vitanhi (học trò của G.Lu cát) với tác phẩm "Xã hội, văn hóa và xã hội học. Đáng chú ý là các nhà nghiên cứu Việt Nam, đặc biệt là các nhà triết học của Viện Triết học thuộc Trung tâm nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn quốc gia Việt Nam đã tổ chức hội nghị, hội thảo trong nước và quốc tế chuyện về giá trị và giá trị học. Trong năm 1994, Viện Triết học cùng với Trung tâm giao lưu văn hóa Việt Đức đã tổ chức Hội thảo khoa học: "Sự chuyển đã tổ chức hội nghị, hội thảo trong nước và quốc tế đổi giá trị trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường". Tham gia hội thảo có đông đảo các giáo sư nhà các khoa học thuộc các lĩnh vực triết học, tâm lý học, giáo dục học thuộc nhiều cơ quan nghiên cứu khác nhau ở Hà Nội. Hội thảo tập trung vào 4 cụm vấn đề chính: 1 - Những vấn đề phương pháp nghiên cứu giá trị và sự chuyển đổi giá trị trong xã hội nói chung, trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trường nói riêng: 2 - Về sự hình thành hệ thống giá trị trong cơ chế thị trường hiện nay; 3 - Sự chuyển đổi giá trị trong văn hóa đạo đức; 4 - Về dinh dưỡng giá trị của con người Việt Nam nói chung và thanh niên Việt Nam nói riêng.

Trang:  1/2  1   2   »
Số lượt đọc:  3585  -  Cập nhật lần cuối:  30/01/2008 08:55:34 AM
  Ý kiến của bạn:
Bài mới:  
Bàn về trách nhiệm
25/12/2008 09:30' PM
Tin ở đức tin
23/12/2008 02:29' PM
Mục đích
02/12/2008 07:17' PM
Bài khác:
Vòng đời
08/01/2008
Ai gợi cảm nhất 2008?


Trang chủGiới thiệuLiên hệ