Những tư tưởng về chủ nghĩa cá nhân từ chỗ chỉ là tia sáng nhỏ, yếu ớt, thoáng hé lộ trong thời cổ đại Hy Lạp đã dần dần phát triển qua các thời kỳ Trung cổ, Phục hưng và trở thành một luồng tư tưởng mạnh mẽ, mang tính cách mạng trong thời đại ánh sáng (thế kỷ XVII - XVIII), làm khuynh đảo xã hội phương Tây truyền thống vốn từng bị ngự trị bởi hệ tư tưởng của chủ nghĩa tổng thể (holisme) .
Tuy nhiên, sự bùng phát mạnh mẽ của chủ nghĩa cá nhân trong thời đại ánh sáng chủ yếu vẫn nằm ở khuôn khổ của cuộc cách mạng tư tưởng. Nói rõ hơn, nó vẫn nằm ở mặt lý luận hơn là đã thực hiện trong đời sống hiện thực, nghĩa là vẫn nằm trong giai đoạn trừu tượng, trong sự sôi nổi, sự cuồng nhiệt chủ yếu diễn ra ở khâu lý luận, học thuật của các triết gia kiệt xuất phương Tây. Đêcáctơ với việc phát hiện ra "Cogito" đã chứng minh rằng, "cái tôi tư duy" nói lên ý thức của cá nhân khi nắm bắt được chính mình, khi xác lập của mình bằng sức mạnh của tư duy. Lépnít với "thuyết đơn tử" đã chứng minh rằng, cá nhân con người luôn mang tính chất của một "đơn tử" (monadologie có gốc từ monade trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là một). Theo Lépnít, cá nhân con người là một thực thể bị quy định bởi tính đơn nhất trong một đơn tử người. Tính cá nhân ấy thể hiện ở những hành vi, năng lực, ở việc khẳng định cái tôi - "cái đơn tử" - là cái riêng, cái độc lập bên cạnh người khác. Với lý thuyết này, Lépnít đã góp phần cùng với Đêcáctơ tôn vinh cái chủ thể cá nhân của con người lên một vị trí đối trọng với cái "toàn thể", "cái xã hội" mà trước đó, trong xã hội truyền thống, nó luôn bị nhấn chím. Tiếp theo, những tư tưởng của phái Nivenlơ (phái Nivelleus - phái tuyên truyền chủ nghĩa cá nhân theo tư tưởng thực hiện quyền bình đẳng theo kiểu bình quân chủ nghĩa - N.H.H.), rồi của Lốccơ, Hốpxơ, Xpinôda,... đã đẩy những tư tưởng về chủ nghĩa cá nhân phát triển một cách đột phá đến mức được đánh giá có tính cách mạng lớn lao, có vai trò không khác gì cuộc cách mạng Côpécníc, làm khuynh đảo xã hội phương Tây. Tuy vậy, đó mới chỉ là cuộc cách mạng trên lý thuyết là chính. Chỉ bước sang thế kỷ thứ XIX, những tư tưởng về chủ nghĩa cá nhân của các triết gia, những nhà lý luận nổi tiếng đó mới bắt đầu thực hiện, áp dụng dần dần trong thực tế đời sống của các xã hội phương Tây.
Giai đoạn đầu thế kỷ XIX, phạm trù "cá nhân" trừu tượng, chung chung đã được cụ thể hóa dần dần. Hình ảnh anh chàng cá nhân được mô tả mơ hồ trong cuộc sống phiêu lưu, tự do của nó không chỉ còn thấy trong sách báo, mà đã có cuộc sống thực sự ngoài đời. Những cá nhân sống và hành động của các cá nhân ấy đã xuất hiện hàng loạt trong xã hội phương Tây. Những người này cố gắng giải phóng mình trong nhiều lĩnh vực của đời sống khỏi những thói quen, luật lệ truyền thống, giáo điều, cổ hủ. Họ cố gắng tạo dựng cho mình một cuộc sống mới bằng cách tạo dựng cho mình những cái riêng, sự độc lập, sự tự chủ với gia đình, với nhà nước, với xã hội. A.Tốcquơvin (A.Tocqueville) chính là người đầu tiên đã phát hiện ra thực trạng này ở xã hội phương Tây và ông cũng là người sớm nhận thức được rằng, tình trạng đó (xu hướng sống cho cá nhân, cho các quyền cá nhân) sẽ là một xu hướng không thể đảo ngược. Xu hướng này sẽ trở thành xu hướng phát triển mạnh mẽ trong tương lai của các xã hội hiện đại. Trong tác phẩm Bàn về nền dân chủ ở Mỹ (De la démecratie en Amérique, xuất bản năm 1835), ông đã viết: "Chủ nghĩa cá nhân là một tình cảm chín chắn và hiền lành, cho phép mỗi công dân tách mình ra khỏi đám đông của đồng loại và rút lui để sống với gia đình, bạn bè. Kết quả là sau khi đã tạo cho mình một xã hội nhỏ như vậy để phục vụ cho mình, cá nhân sẵn sàng phó mặc cái xã hội lớn cho chính nó... Chủ nghĩa cá nhân có nguồn gốc dân chủ và nó sẽ phát triển mạnh" .
Về phương diện xã hội học, có thể nói, sự phát triển mạnh mẽ những tư tưởng về chủ nghĩa cá nhân là một hiện tượng phổ biến, có quy mô toàn thể châu Âu và đến nửa đầu thế kỷ XIX, những tư tưởng về chủ nghĩa cá nhân đã được tiếp nhận và thực hiện một cách rộng rãi; nó không còn là đặc quyền của một số ít người được ưu đãi như trước, mà đã trở thành một phong trào sống của nhiều tầng lớp thanh niên trong xã hội phương Tây, đặc biệt là các chàng trai trẻ thuộc tầng lớp tư sản, trí thức tàhnh thị. Bộ phận này chính là những người đi đầu trong lối sống độc lập, tự chủ, tìm mọi cách thoát khỏi chủ nghĩa gia trưởng (paternalisme) truyền thống; họ tạo cho mình một cuộc sống riêng, tự do, không muốn có sự áp đặt, ràng buộc, thậm chí cả sự bảo trợ của họ hàng, gia đình. Tư tưởng phấn đấu cho cuộc sống "sống cho chính mình và trước hết theo ý mình", nhất là cho một cuộc sống riêng tư về phương diện tình cảm cá nhân, được hầu khắp giới trẻ ở mọi thành phần, đẳng cấp trong xã hội ca tụng, đón nhận. Thực tế này đã được nhiều tiểu thuyết gia nổi tiếng phản ánh rất sinh động, rất điển hình trong những tác phẩm của mình; chẳng hạn như nhân vật Duyliên Soren (Zulien Sorel) của Stanđan (Stendhal), Rátinhắc (Rastingac) của Bandắc (Balzac)... Những thực trạng này đã phản ánh một cuộc cách mạng về lối sống theo tinh thần của chủ nghĩa cá nhân tự do, dân chủ, chống lại lối sống bó buộc, bị đè nén theo tư tưởng gia trưởng, cũng như các luật lệ, phép tắc cực đoan của nhà nước, của xã hội. ở phương Tây, đến giai đoạn này, vấn đề mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại đã được đặt ra một cách gay cấn, gấp gáp nhất và luôn là vấn đề sôi động, mang tính thời sự trong đời sống xã hội, làm cho các nhà lý luận phải nghiên cứu, tìm hiểu và đề cập đến một cách đầy nhiệt huyết. Trong tác phẩm Lịch sử văn minh châu Âu (Histoire de la civilisation en Europe), viết năm 1828, nhà lý luận kiêm giáo sư lịch sử Guidốt (Guizot) đã đưa ra một câu hỏi nổi tiếng: "Xã hội được tạo ra để phục vụ cho cá nhân hay cá nhân được tạo ra để phục vụ xã hội?" - và ông trả lời - "Điều cốt tử chính là sự phát triển của đời sống cá nhân và thân phận con người không phải chủ yếu là xã hội" .
Có thể nói, bước sang thế kỷ XIX, ở châu Âu, quá trình cá nhân hóa trong đời sống xã hội đã phát triển đến một độ chín muồi và đã trở thành một trào lưu lan truyền ra khắp thế giới ở những mức độ, điều kiện, hoàn cảnh khác nhau. Vấn đề độc lập, tự do, dân chủ của cá nhân con người không còn là vấn đề của xã hội châu Âu nữa, mà đã trở thành vấn đề của mọi người trên khắp hành tinh. Thành quả này là quá trình phát triển gian khổ, lâu dài, qua nhiều thế kỷ, nhiều thời đại, nhưng tác động mạnh mẽ nhất, gần gũi nhất chính là thành quả của những nhà triết học, chính trị, lý luận trong thời đại ánh sáng - những người đấu tranh cho các quyền con người (nhân quyền). Đó cũng là hệ quả phát triển của chủ nghĩa tư bản với sự ra đời của nền dân chủ tư sản (đặc biệt ở Anh và Pháp), với sự chiến thắng của những giá trị của chủ nghĩa nhân văn.
Danh từ "Chủ nghĩa cá nhân" (individualisme) đến thời kỳ này mới chính thức xuất hiện và trở thành một khái niệm quan trọng, phổ biến trong đời sống học thuật cũng như cuộc sống đời thường ở châu Âu (theo các nhà nghiên cứu phương Tây, danh từ "Individualdsme" xuất hiện trong khoảng thời gian từ 1820 đến 1830). Có thể nói, sự ra đời và phổ biến của từ "chủ nghĩa cá nhân" đã làm nên một chỉ báo khách quan quý giá nhất, là một dấu mốc quan trọng nhất trong lịch sử phát triển nhân loại nói chung và sự phát triển của cá nhân con người nói riêng.
Khái niệm "chủ nghĩa cá nhân" ở thời kỳ này có nội dung nói về quyền tự do, dân chủ cho mỗi cá nhân với tư cách những cái cơ bản về quyền của một con người, của mỗi cá nhân sống trong xã hội. Nội dung này của "chủ nghĩa cá nhân" đã được luận chứng xuất sắc bởi một loạt những triết gia, những nhà lý luận tiêu biểu, như A.Tốcquơvin, B.Côngstăng (Bengamin Constnat), F.Batiát (Frédéric Bastiat), Gi.S.Min (John Stuart Mill), H.Xpenxơ (Herbert Spencer),...
Trong nhiều trang viết, A. Tốcquơvin đã đưa ra những lời chuẩn đoán đầy sức thuyết phục về sự vươn lên không thể thay đổi được, về sự phát triển những "cá nhân dân chủ" trong xã hội phương Tây. Theo ông, việc đòi quyền dân chủ, thực hiện quyền dân chủ cho mỗi cá nhân sẽ trở thành một hiện thực rộng lớn và là đích phấn đấu ngày càng mãnh liệt của những con người trong xã hội tương lai; nó chính là sự tiếp tục một cách rốt ráo hơn những tư tưởng của cuộc cách mạng dân chủ tư sản ra đời vào cuối thế kỷ XVIII và trở thành xu hướng của tư tưởng sống chủ đạo của mọi "đám đông dân chúng". Ông còn cho rằng, những tư tưởng dân chủ này là những khát vọng bình đẳng, tự do, dân chủ của đông đảo mọi tầng lớp dân chúng trong xã hội. Rằng, quá trình cá nhân hóa luôn xuất phát từ những hoạt động ngấm ngầm dưới đáy sâu thẳm của mỗi cá nhân và nó bùng phát lên khi có hoàn cảnh, điều kiện thuận lợi mà không một thế lực, sức mạnh nào có thể kiềm chế, ngăn chặn được. Rằng, vấn đề dân chủ, vấn đề tự do của cá nhân con người sẽ là một vấn đề sôi động nhất của các xã hội hiện đại.
B. Côngstăng - nhà chính trị học, xã hội học người Pháp cùng thời với A. Tốcquơvin, người luôn đấu tranh và mong ước có một xã hội mà ở đó, cá nhân con người được tôn trọng về quyền độc lập, tự do của mình, đồng thời phê phán mạnh, gay gắt mô hình xã hội chuyên chế, khi bàn về chủ nghĩa cá nhân, đã nói nhiều đến "tính độc lập cá nhân", "sự tự do cá nhân". Ông cho rằng, "tính độc lập cá nhân" và "sự tự do cá nhân" là những giá trị mới tối cao nhằm cung cấp một ý nghĩa tích cực cho bản chất của xã hội tương lai. Trong Tập luận về văn học chính trị (Melamges de litterature et politique) viết năm 1829, ông nói rằng: "Bốn mươi năm nay, tôi đã bảo vệ một chân lý là đòi quyền tự do ở tất cả mọi mặt cho con người: trong tôn giáo, trong triết học, trong văn học, trong chính trị, trong công nghiệp... Tôi quan niệm tự do là sự chiến thắng của cá tính cá nhân, là sự chiến thắng những đám đông cứ bắt thiểu số phải phục tùng đa số".
Khi tuyên truyền cho tinh thần về một chủ nghĩa cá nhân như vậy, để chống lại những cách hiểu sai lệch của các nhà triết học, lý luận khác, chủ yếu là những quan điểm của các nhà triết học, lý luận theo khuynh hướng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là quan điểm mang tính chất phê phán của P.Pruđông (P.Proudhon), nhà chính trị, xã hội học Pháp ¾ F. Batiát đã phân tích rõ rằng, chủ nghĩa cá nhân hoàn toàn khác tính ích kỷ, vì về bản chất, nó tạo ra mối liên hệ xã hội và kêu gọi sự hợp tác tự nguyện của cá nhân theo đuổi các lợi ích của mình một cách chính đáng. Khi phê phán cách hiểu của một số nhà tư tưởng theo khuynh hướng xã hội chủ nghĩa coi chủ nghĩa cá nhân là một thói ích kỷ, xấu xa, là lối sống kiểu "nhà nào biết nhà nấy", không biết lo cho "nhà khác", cho xã hội, F. Batiát đã khẳng định rằng, đừng nên nghĩ là khi nói mỗi người hãy lo cho chính mình và cho mọi người là hai cái loại trừ nhau, là không thể dung hợp với nhau. Theo ông, cách hiểu như vậy là hoàn toàn sai lầm, bởi trên thực tế, khi con người luôn bị thúc đẩy về lợi ích riêng, họ vẫn lo xích lại gần những người khác, với đồng loại để hợp nhất sức mạnh của mình. Rằng, thực tế sinh động của cuộc sống là người này làm cho người kia, người này phục vụ người kia để tìm được, chiếm hữu được những lợi ích riêng tư chính đáng. Kết luận về vấn đề này, trong tác phẩm Những hài hòa về kinh tế (Harmonies économiques) viết năm 1851, ông viết: "Tóm lại, khi mỗi người lo cho mình thì mọi cố gắng của chủ nghĩa cá nhân đều được kích thích mạnh mẽ và tác động theo hướng mỗi người làm việc cho mọi người" . Trong những tác phẩm cuối đời, để lý giải rõ hơn về chủ nghĩa cá nhân, F.Batiát đã đưa ra lý thuyết về "chủ nghĩa cá nhân chiến đấu". Ở đây, ông đã phê phán, công kích rất mạnh mẽ những luận điểm ủng hộ xu hướng quốc hữu hóa, tập thể hóa kinh tế. Theo ông, việc thực hiện những khuynh hướng này sẽ kéo theo sự tước đoạt cá nhân cũng như những quyền sở hữu của họ. Ông cũng chống lại sự ép buộc những cá nhân thực hiện những đề án "công bằng tập thể", "công bằng xã hội" theo kiểu chủ nghĩa bình quân mà về thực chất, là một sự gian trá, ẩn náu tiềm tàng những hậu quả tiêu cực, phá hoại trách nhiệm cá nhân khi thủ tiêu quyền sở hữu của họ. Theo ông, hai cột trụ làm chỗ dựa cho sự phồn vinh của mọi người và sự hoàn tất của mỗi người đó là sự tôn trọng triệt để quyền sở hữu và bổn phận trách nhiệm cá nhân và đó cũng là những điều kiện để xã hội tự điều chỉnh theo hướng tích cực.
Một nhà triết học khác của phương Tây là Giôn Stiuớt Min, người Anh, thuộc trường phái thực chứng, cũng tích cực ủng hộ chủ nghĩa cá nhân bằng tư tưởng cổ vũ sự độc lập, dân chủ tự dọ cho mỗi cá nhân. Ông cũng là một đại biểu phê phán mạnh mẽ những người đã hiểu sai về chủ nghĩa cá nhân. Theo ông, để thực hiện đúng đắn điều này, cần phải làm cho mọi người hiểu rõ sự cần thiết phải làm cho mọi người hiểu rõ sự cần thiết phải làm cho các quan hệ xã hội ¾ cá nhân trở nên cân bằng để trên cơ sở đó, thực hiện những điều có lợi chính đáng cho cá nhân, để cá nhân đạt được quyền tự do tối ưu của mình nhưng lại không cản trở tính độc lập và quyền tự do của người khác. Cũng giống như những triết gia, những nhà lý luận phương Tây ủng hộ việc thực thi quyền con người trong đời sống xã hội, Min đã phê phán kịch liệt những xã hội được xây dựng trên nền độc tài chuyên chế. Ông cảnh báo rằng, nhân loại cần phải nhạy bén đề phòng và chống lại mọi mối đe dọa thường bị bỏ qua nhưng thực tế đã đè lên quyền tự do thông thường của cá nhân - đó là "bạo lực của đa số", "quyền lực của đám đông", "sức nặng của ý kiến tập thể", "chế độ độc tài của các tập tục", ...Tất cả những thứ đó, theo ông, cũng nguy hiểm như sự xâm phạm của các chính phủ, nhà nước quan liêu, độc tài, chuyên chế và do vậy, cần phải cụ thể hóa các giới hạn đối với ý kiến của tập thể khi can thiệp vào sự độc lập, tự do hay những quyền chính đáng khác của cá nhân. Điều này cũng cần thiết chẳng kém gì việc chống lại những chế độ độc tài, chuyên chế. Ông cho rằng, "nhân loại có lợi hơn khi để cho mọi người được sống như anh ta mong muốn so với việc bắt buộc anh ta phải sống theo những điềumà người khác cho là tốt đẹp" . Với quan niệm này, ông đã trở thành người đầu tiên trong số những nhà lý luận lên tiếng cảnh báo về sự nguy hại, về tính chất tiêu cực của sự đàn áp có tính xã hội học - những cái nhân danh nhóm, số đông, tập thể để đè nén, thủ tiêu cái cá nhân nhưng lại được che dấu dưới những khẩu hiệu bình đẳng, dân chủ.
Đề cập đến mối quan hệ giữa cá nhân và nhà nước trong vấn đề thực hiện quyền tự do dân chủ của cá nhân ¾ một vấn đề rất nhạy cảm, tế nhị nhưng cũng rất gay gắt ở nhiều xã hội, trong tác phẩm Cá nhân chống lại nhà nước (L'individu contre L'Etat), viết năm 1884, H.Xpenxơ (Herbert spencer) đã chỉ rõ một thực tế đang tồn tại trong xã hội phương Tây ở thời đại ông là tình trạng quyền tự do con người còn xa mới được bảo đảm ngay ở cấp độ chính trị, vì một nguy cơ thường trực là những thế lực quyền hành và những nhà lý luận ủng hộ họ luôn đề cao "chủ nghĩa nhà nước" hay "thuyết hữu cơ" (organicissme) mà trên thực tế, theo ông, nhiều chính sách được đẻ ra từ đó đã đi ngược lại những quyền tự do, dân chủ của cá nhân. Ông cho rằng, "sự can thệp của nhà nước càng tăng thì trong các cộng đồng dân cư càng lan truyền quan niệm cho rằng mọi người đều phải làm cho nhà nước, còn nhà nước thì không làm gì cả". Nói rõ hơn về một nhà nước như vậy, ông cho rằng, nhà nước đó chẳng khác gì những nhà nước cổ xưa ¾ nhà nước không làm gì cho dân, chỉ có dân là phải làm việc, phải phục vụ nhà nước.
Điểm lại tình hình thực hiện cuộc cách mạng về chủ nghĩa cá nhân trong thế kỷ XIX, nhiều người cho rằng, ở đó đã có những bước phát triển tích cực. Sự phổ biến và thực hiện những tư tưởng của chủ nghĩa cá nhân trong giai đoạn này đã không vấp phải sự cản trở của những tư tưởng truyền thống hay các thế lực tôn giáo như trước. Nhưng mặt khác, xã hội phương Tây hiện đại khi tiếp tục phát triển trên nhiều mặt, nhiều lĩnh vực đã đem đến những điều phức tạp mới, buộc chủ nghĩa cá nhân phải chống lại những áp lực mới, những thế lực mới mà nhiều khi, rất mơ hồ, của "nền văn minh đám đông", của những thế lực quan liêu, độc tài mới, những hậuquả mới của xã hội công nghệp, v. v.. Chính vì vậy, những nhà triết học, những nhà lý luận phương Tây quan tâm đến vấn đề quyền tự do, dân chủ của cá nhân (nhân quyền) đã đồng ý với nhận định của H,.Xpenxơ rằng, chủ nghĩa cá nhân tự do đã thắng trong một trận đánh, nhưng không phải là hoàn toàn thắng trong cuộc chiến tranh chống lại một kẻ thù đã thay đổi cả hình thức lẫn bản chất nhưng vẫn không biến mất.
Bước vào xã hội hiện đại (cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX) với nhiều đổi thay trên tất cả mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, đạo đức, lối sống, tôn giáo,... chủ nghĩa cá nhân cũng phát triển theo nhiều chiều, nhiều khía cạnh để phản ứng lại sự thay đổi đó. Chủ nghĩa cá nhân đã có những biến thể mới, nội dung mới, mục đích mới đến mức nhiều người đã đưa ra câu hỏi: nên ủng hộ hay chống lại chủ nghĩa cá nhân? Về vấn đề này, chúng tôi sẽ trở lại trong một dịp khác.
Holisme - Chủ nghĩa tổng thể, chủ nghĩa toàn thể, chủ nghĩa toàn luận: cá nhân con người hoàn toàn không có quyền độc lập, tự chủ nào hết mà hoàn toàn bị phụ thuộc, bị chi phối bởi cấu trúc tổng thể xã hội, bởi "cái toàn thể, cái "chúng ta", "cái xã hội".
Alexis de Tocqueville. De la democratie en Amerique. Ed Flamarion, 1981, p. 86.
F.Guizot. Histoire de la civilisation en Europe dequis la chute de L'Empire Romain Jusquà la Révolution Frâncis. Ed Hachette pluriel, 1985. p. 42.
Dẫn theo: Alain Laurent, Histoire de individualdsme. Ed prese Universitaire de France, 1995, p. 68.
Dẫn theo: Alain Laurent, Histoire de individualdsme. Ed prese Universitaire de France, 1995, p. 68.
John Stuart Mill. De la liberté. Ed Flarmanion
Herbert Spencer. L'individu contre L'Etat. Ed Hachêtt - Pruriedl, p.79. Nguồn:
Tạp chí Triết học Số lượt đọc:
6638
-
Cập nhật lần cuối:
01/10/2008 04:26:52 PM
Ý kiến của bạn: |  |
Thông tin liên quan: Thời đại ngày nay vẫn là thời đại quá độ từ Chủ nghĩa tư bản lên Chủ nghĩa xã hội22/05/2007 10:53' AM Quan niệm đầy đủ về một thời đại mang tính quá độ đòi hỏi chúng ta phải có sự nhận thức đúng đắn về địa vị của cả CHXH lẫn CNTB trong thế giới thực tại. Điều đó không hề làm mất đi trong nhận thức và quan điểm của chúng ta sự cần thiết phải phê phán tính chất phản động về chính trị của các thế lực tư bản, đế quốc. Quyền phát triển: Nguồn gốc, đặc điểm cơ bản và tính pháp lý15/02/2007 09:24' PM Phát triển là quá trình biến đổi của mọi sự vật hiện tượng trong tự nhiên và xã hội. Trên phương diện xã hội, phát triển có thể được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau, trong đó có việc coi đó là quá trình mở rộng các quyền tự do. Theo cách tiếp cận này, thước đo sự phát triển của mỗi xã hội không chỉ giới hạn ở các chỉ số kinh tế, xã hội hay các tiến bộ về KHCN mà còn ở khả năng đảm bảo các quyền và tự do cơ bản cho mỗi người... Cá nhân: bao giờ ra khỏi bóng tối?05/02/2007 08:02' PM Vai trò của cá nhân trong xã hội Việt Nam chưa bao giờ được nhìn nhận đúng mức. Trong khi đó, lợi ích tập thể được coi là lợi ích chính thống, được chính thức thừa nhận ở tất cả các nơi có thể phát thông điệp nhân văn ra công chúng. Về sự biến đổi mối quan hệ giữa cá nhân - xã hội và những suy nghĩ xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn mới06/01/2007 10:00' AM Bước vào thế kỷ XXI, vai trò của con người đối với sự phát triển lại càng chiếm vị trí nổi trội. Trong khuôn khổ của bài viết này, bước đầu, chúng tôi đề cập tới nội dung "con người" khi là thành viên xã hội, tức cá nhân, đặc biệt chú ý tới mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội... Bản ngã, tâm linh - thể xác, tự do, tha nhân31/10/2006 12:44' PM Có phải căn cứ vào cái tôi và nhân danh cái tôi, con người mới nói: lên những lời thống thiết rằng: người yêu của tôi, bạn của tôi, vợ của tôi, gia đình của tôi, hạnh phúc của tôi, xóm giềng của tôi, tổ quốc của tôi, thế giới của tôi, và cuối cùng là vũ trụ của tôi! Bởi thế mọi sự nghiêm trọng xảy ra ở đời đều bắt nguồn từ cái Tôi... "Lớp trẻ cần tự hình thành hệ thống giá trị mới"06/10/2008 09:39' PM "Lớp trẻ hiện nay mang trong mình cả một tiềm năng ghê gớm lẫn cả tai hoạ tiềm tàng. Nếu không biết khai thác, thật khó đoán biết điều gì sẽ xảy ra... Tôi muốn nói rằng, các bạn trẻ cứ yên tâm. Xã hội ta luôn đón chờ những tài năng trẻ"... Người ta càng đẹp lên hay xấu đi?08/09/2008 10:32' PM Trên bìa các tờ tạp chí, các số cuối báo tuần hoặc tháng, trên màn ảnh truyền hình hàng ngày, chúng ta thường được chiêm ngưỡng những nam nữ thanh niên, những cháu nhi đồng xinh đẹp. Các cuộc thi hoa hậu diễn ra hai năm một lần, lần nào cũng chọn được những gương mặt đáng yêu. Nhưng ở ngoài phố, chúng ta khó có những điều kiện để thường thấy nhiều người đẹp. Tại sao lại vậy? Sự thật mới là vẻ đẹp chân chính!07/09/2008 11:53' AM Cuộc thi hoa hậu năm nay đến hồi kết mới xảy ra xìcăngđan nho nhỏ. Nói tóm tắt là hoa hậu Trần Thị Thùy Dung chưa tốt nghiệp trung học phổ thông. Việc công nhận cô coi như vi phạm các quy chế hiện hành. Mặc dù vậy - vì nhiều lý do tế nhị - ban tổ chức cuộc thi không tính tới chuyện tước vương miện của cô... Luật thừa trừ18/08/2008 08:37' AM Đạo và việc người xưa nay hơn về phía này, tất kém về phía kia - Đó là luật thừa trừ tức là san sẻ cho đều. Tạo hóa sinh ra con người và mọi vật hình như ít khi tạo ra hình mẫu vẹn loàn. Đến cây hoa cũng chịu chung luật đó... Thử bàn chuyện sướng, khổ11/08/2008 08:26' AM Người ta, ai chẳng mong cuộc sống bớt nghèo khổ, mong được sung sướng hơn. Có gì mà phải bàn với luận. Vậy mà có người không muốn sướng, chỉ muốn khổ, có lạ không? Có thể bạn không tin, nhưng xin hãy nghe: người ấy chính là tôi! Một cách tiêu đẹp31/07/2008 08:17' AM Khi xã hội đã bắt đầu giàu có, một vấn đề bức thiết cần được đặt ra là xây dựng một cách tiêu tiền đẹp hay là xây dựng một nền văn hóa tiêu tiền cho những doanh nhân... Thế thái nhân tình30/07/2008 01:40' PM Bữa tiệc đã bắt đầu, nhưng họ vẫn chưa tới. Nói chung họ không bao giờ đến đúng giờ, vì họ bận và còn vì họ quan trọng. Chủ tiệc đã mấy lần gọi điện thoại, họ đều trả lời sắp đến, sắp đến và cuối cùng thì họ cũng đến. Bài khác: Đạo nhà01/01/1900 12:00' AM Như lời của một triết gia Hy Lạp từ thời cổ đại rằng "lòng biết ơn là một đặc tính đứng đầu mọi đức tính khác", chúng ta đã được gắn kết qua nhiều thế hệ, thừa hưởng được nhiều giá trị văn hóa tích lũy nhiều đời, từ đó mà nơi mỗi người tiềm ẩn những nhận thức sống hợp với đạo lý và luôn có một ý thức cộng đồng sâu đậm. “Siêu nghệ sĩ” hãy coi chừng!01/01/1900 12:00' AM Xưa kia đôi khi người ta đã dựng lại các sự kiện lịch sử để quay phim chụp ảnh. Nếu ghi rõ là dựng lại để mô tả sự kiện thì A còn có thể chấp nhận được nhưng nếu để cho hậu thế tưởng lầm là tư liệu lịch sử thì quả là tai họa. Ý nghĩa của tiền bạc18/07/2005 05:56' PM Trong tiểu thuyết Atlas Shrugged xuất bản năm 1957 với đề tài là "vai trò của trí tuệ trong sự tồn tại của con người", Ayn Rand đã đưa ra những khái niệm mới mẻ về giá trị của tiền bạc. Rằng ham mê tiền bạc không phải là nguồn gốc của mọi tội lỗi. " Sự ham mê tiền bạc tức là nhận thức được rằng tiền được làm ra nhờ năng lực của con người và là phương tiện để đổi lấy những gì xứng đáng nhất"... Về chuyện tiền bạc18/07/2005 12:08' PM Tiền bạc là vị sứ giả làm trung gian trao đổi các vật iùm cho mọi người, đó là ý nghĩa ban sơ của nó.
Khi loài người phát triển sinh hoạt về mọi mặt thì ý nghĩa của tiền bạc thay đổi theo một cách tích cực hơn, tinh vi hơn. Quan điểm maxit về mối quan hệ Đạo đức - Chính trị - Pháp quyền07/07/2005 03:29' PM Việc nghiên cứu đạo đức, dù từ bất kỳ phương tiện nào, cũng đều phải trả lời câu hỏi: Cái gì quy định nội dung cơ bản của đạo đức? Và với tư cách một hình thái ý thức xã hội, đạo đức phản ánh lĩnh vực nào của tồn tại xã hội? Về điều này, C. Mác và Ph. Ăng-ghen cho rằng, tìm hiểu hiện tượng đạo đức không thể chỉ dừng lại ở chỗ giải thích nội dung khái niệm của nó, mà còn phải đi sâu, tìm hiểu nguồn gốc xã hội, đặc điểm kinh tế, cơ sở giai cấp, nghĩa là tìm hiểu tồn tại xã hội đẻ ra hiện tượng đạo đức ấy. Ở đâu, đạo đức và lương tâm của giới trẻ?07/07/2005 03:04' PM Tôi thấy có một mặt của thanh niên đang tụt hậu, có thể dùng khái niệm suy thoái. Nghĩa là các thế hệ ông cha đã từng có rồi mà thanh niên ngày nay (một bộ phận lớn) đang làm mất đi, suy yếu đi. Đó là đạo đức và lương tâm nghề nghiệp. Tại Minh Minh Đức06/07/2005 10:53' AM Nhiều vấn đề bức xúc, nhiều chuyện vướng mắc, nhiều lệch lạc... Đó là những gì có thể thấy qua các phương tiện thông tin đại chúng. Chung quy lại là chuyện quản lý. Quản lý kém hay không biết quản lý? Nguyên nhân ở đâu? Tại không biết quản lý, tại không có kiến thức, hay tại không có ý thức? |