Mục lục
I. Lý do để cuốn sách này có mặt - Nhìn người mà ngẫm đến ta
- “Anh em khinh trước, làng nước khinh sau”
- Tự xét đoán để khỏi bị xét đoán
- Không có quan toà nào lớn hơn ta cả
- “Yên Quốc rồi mới yên gia”
- Làm việc thì dễ, làm người mới khó
II. Thước để ngắm mình
- Thành thật là nội dung thật của mọi hạnh phúc ở đời
- Phân biệt minh bạch trật tự, và phán xét là điều kiện tất yếu cho mỗi cá nhân và xã hội phát triển
- Sở trường là con đường phát huy cao nhất, là sở thích đạt tới hạnh phúc lớn nhất của cá nhân
- Ba phần của cơ thể đầu, tim, dạ dày tương ứng với ba cấp độ làm người
- Sức khoẻ, trí tuệ, điều độ, khoan dung, và công lý là bốn điều kiện sống tất yếu của mỗi cá nhân, cũng như xã hội
III. Đào luyện con người
- Đạo đức là thói quen về điều thiện
- Mặc cảm tự ti
- Phản tỉnh căn tính “nô bộc”
IV. Nhìn người mà ngẫm đến ta
V. Tự ngắm mình
- Ngồi xổm
- Đi đất
- Mặc quần áo ngủ ra đường
- Văn hay chữ tốt không bằng ngu dốt lắm tiền
- Dở ông dở thằng, làm thầy không nổi làm tớ cũng chẳng xong
- Ăn đói nằm co còn hơn ăn no vác nặng
- Ăn nhanh, đi chậm, đái đường, hôn bụi dậm
- Ăn xó mó niêu
- Ăn vặt, khôn vặt, dâm vặt, gian vặt
- Phép vua thua lệ làng
- Người khôn ăn nói nửa chừng, làm cho kẻ dại nửa mừng nửa lo
- Cả vú lấp miệng em - Còi to cho vượt
- Ngậm miệng ăn tiền
- Tâm khẩu bất đồng: Khiêm tốn vờ - kiêu hãnh lén - Khen vờ - chê giả
- Được ăn, được nói, được gói mang về
- Một trăm cái lý không bằng một tý cái tình
- Gia trưởng độc đoán
- Ích kỷ, đố kỵ. trâu buộc ghét trâu ăn
- Nịnh trên, đạp dưới, đá ngang
- Tính khí thất thường: mai nắng - trưa mưa - chiều nồm
- Đầu voi đuôi chuột
- Thể hiện nhiều, thực hiện kém
VI. Tổng quát
6. Ăn đói nằm co còn hơn ăn no vác nặng
Biểu tượng cao nhất của hạnh phúc con người được gọi là: “Bữa tiệc đời”. Người Việt còn ai ủi những nười nghèo khó rằng:
Sợ rằng không sống thì thôi Thể nào có lúc no xôi chán chè
Bữa tiệc, là đỉnh cao tụ tập về mọi thoả mãn của cuộc sống, như: thịt cá ê hề, rượu tràn trề, tài tử giai nhân quần tụ, đàn hay hát ngọt, nhảy múa thâu đêm, tâm hồn bốc cao vời vợi...
Trong tiệc bao giờ cũng có chủ và khách, ở đó “oai như chủ” và “quý như khách”. Nhưng chữ “tiệc” rất lạ với người Việt, chúng ta có thể ăn nhiều - uống lắm, chỉ là cách ăn cỗ bàn chứ không phải tiệc. Một bữa ăn muốn thành tiệc, thì không phải chỉ lớn về phạm vi mâm bát mà còn phải dài. Giống như bài hát có hay đến mấy, có đông người hát đến mấy, chỉ là “đoản ca”, muốn thành hợp xướng thì bài ca phải dài, phải có “chương - hồi” lên bổng xuống trầm, hay nói một cách quả quyết, một khoảng cách vài bước chân không thể nào hy vọng sẽ có vẻ hùng dũng của con đường phiêu lưu vạn dặm. Một lần, tôi đi dự cỗ cưới gặp một anh bạn mới đi Tây về, sau “bữa cơm thân mật”, ra đến cửa anh nói: Cả một đám cưới to nhường ấy, nhà hàng sang nhường vậy, mà chúng ta vừa chào mừng, vừa ăn, chưa đầy một giờ. Tất cả ào ào xếp vào bàn, ào ào rót, ào ào uống, và ào ào đứng dậy. Tất cả chỉ thấy sự có mặt của dạ dầy, còn chẳng thấy những dấu hiệu đòi khát vọng của tâm hồn. Trong khi đó, người châu Âu thậm chí chỉ cần một cây đàn vi - ô - lông, hay ắc - cóc - đi - ông, họ nhảy thâu đêm suốt sáng, hay lạc hậu cả như người thổ dân châu Phi, châu Mỹ, chỉ cần vài cái trống, thân xác họ nhảy múa như muốn vụt bay cùng với tâm hồn.
Câu chuyện mới đến đó thôi, thì vài người nghe thấy, người nói nọ, người nói kia, đều thừa nhận. Khi tâm hồn thoả khát thì mới có tiệc. Còn chúng ta mới đang chỉ dừng ở mức thoả mãn vật phẩm cho dạ dày. Nhưng sự thoả mãn đó đã lớn chưa? Lớn nhất là cỗ bàn hiếu - hỉ, hay “đói quanh năm no ba ngày tết”, thì dạ dầy chúng ta có bao ngày được mãn nguyện?
Người ta không thể có nhà cao cửa rộng, bữa ăn linh đình, nếu chỉ trông vào cơ sự “ăn đói nằm co”. Đó là lý do chính khiến chúng ta còn sống nghèo hèn. Để dễ hiểu, chúng ta hãy hình dung một hình thức sắm sửa bữa tiệc. Người phương Tây thường tổ chức một cuộc đi săn cho bữa tiệc. Sáng ra, những chủ và khách, và người ở, ngựa và chó, tập trung, rồi lao vào cánh rừng vừa rậm - vừa xa. Đó là tốp đi săn. Còn lại, tốp ở nhà vẫn lo giết thịt, nấu ăn, qua buổi trưa, mọi người đi săn trở về, người ta giết thịt những con thú vừa săn được, bổ xung cho thực phẩm đã dọn ở nhà, và rượu vang được bưng lên. Bữa tiệc bắt đầu. Nó bắt đầu không phải chỉ từ lúc ăn, mà từ lúc sáng khi mọi người hăm hở lao vào rừng, rồi săn, rồi hoạt động, rồi mệt nhọc, nói chung là tất cả tâm thế chuẩn bị cho một bữa tiệc đã được sửa soạn và chờ đón suốt cả ngày. Rồi hoàng hôn đến, bữa tiệc bắt đầu, nến được thắp lên, rượu được rót ra, người ta ăn uống, chuyện trò reo hò, rồi đàn hát dài như sự mong chờ. Điều đó nói lên cái gì? Nghĩa là, muốn có tiệc lớn, người ta phải: Sửa soạn lớn! Chờ đợi lớn! Và giầu có tâm hồn lớn để ăn tiệc. Triết gia Hegel vĩ đại còn nói thế này: “Một bữa ăn dù lớn bao nhiêu mà không có một diễn văn hay thì không thể trở thành bữa tiệc”. Diễn văn hay nghĩa là, ở đó có một nội dung lớn - một đề tài lớn được khai triển, và cùng lúc với thức ăn dồi dào cho thân xác, tâm hồn cũng được dự cuộc bằng “thực phẩm thiêng liêng” của mình, như thế mới thành bữa tiệc.
Ngược lại, nếu chỉ có “ăn xó mó niêu, hoặc thiếu tâm cảm lớn để làm đồ ăn lớn, sẽ không thể nào thành tiệc! Tại sao người Việt lại có câu “Ăn đói nằm co còn hơn ăn no vác nặng”, nó bắt nguồn từ đâu? Nhiều người thường bảo: Người việt chịu khó, hay lam hay làm. Có một số người khác, trong đó có tôi lại nghĩ: người Việt chỉ lam lũ thôi, còn nói chung thì “khá lười biếng”. Tôi xin đưa ra lý do:
Người việt có tả những kẻ lười nhác đến mức: “ruồi đậu mép không thèm đuổi”. Câu nói đó có thể ít người đồng tình. Nhưng câu nói sau thì rất chắc chắn, đó là: “Ngồi mát ăn bát vàng !” Trong khẩu ngữ của người Việt, rất hay kèm theo chữ “mát”, nào là “ở cho mát”, “ngồi cho mát”, “ăn cho mát”, “uống cho mát”, “mặc cho mát”... Xứ ta là xứ nóng, nên người Việt cũng có tệ bắt chước người Trung Hoa, để móng tay dài, tìm chỗ mát tránh nóng..
Theo địa lý và nhân chủng thì, người xứ lạnh, để chống lạnh vóc dáng cao to, mũi vừa to vừa dài để làm không khí ấm lên trước khi đi vào phổi, vì vậy tim phế nở nang, thân đã to,... nội tạng càng thêm khoẻ. Trái lại, người xứ nóng, thân hình nhỏ bé ít mỡ để cho mát, lại thêm ngại ăn uống những thức ăn có dinh dưỡng cao sợ nâng thân nhiệt, mũi tẹt vì cơ thể ưa loại không khí vào đến buồng phổi vẫn còn mát vì thế nội tạng kém phát triển nở nang... nên dễ thành vai xuôi, ngực lép. Lại thêm, không khí nóng ẩm, dễ ra mồ hôi, nên thường rất ngại làm việc tay chân. Đây là một đặc điểm rất căn bản khiến người châu Phi và châu á thường mắc chứng lười nhác. Trong một bộ phim tài liệu làm về du lịch của một nước châu Phi phát trên truyền hình, người châu Âu đã nói về dân bản xứ thế này: Đàn ông ở đấy chẳng làm gì khác hơn, là ngồi vật vờ nấp trong hiên nhà nhìn khách bộ hành qua lại. Nhưng họ đặc biệt nhanh nhẹn lạ thường khi thấy một khách du lịch đi qua, với họ thì khách du lịch không phải là người, mà là những chiếc ví biết đi, và họ lao ra để tìm cách săn những chiếc ví đó.
Vì ngại ra mồ hôi, và thích tìm chỗ mát, nên phải nói, năng xuất lao động ở xứ ta khá thấp, đặc biệt có một tâm lý “lãn công” thâm căn cố đế ăn sâu từ trong lịch sử, những muốn tìm việc gì trong nhà, hoặc trốn trong nhà để tránh nắng, tránh mưa. Vì vậy, không ít người học xong trường này, trường nọ, nghe có vẻ quan trọng lắm, nhưng mục đích ra trường chỉ là kiếm một chỗ nào “ngồi cho mát” vào mùa hạ, và “ngồi cho ấm” vào mùa đông. Tay nghề, hoặc chuyên môn chẳng cần tiến triển, miễn sao có một chỗ “trú ẩn” và một khoản lương khi về hưu. Đây là một căn bệnh có tính chất truyền kiếp của lịch sử, chúng ta hãy nên đối mặt với nó, nào “học để làm quan”, nào “một người làm quan cả họ được nhờ”, nào “ngồi mát ăn bát vàng”, để:
Mưa không đến mặt Nắng không đến đầu
Một tâm cảm, và một lao động như vậy, làm sao có thể mong dự những bữa tiệc thịt đắp như núi, rượu chẩy như suối, và tâm hồn thoả sức đập cánh trong lời hay ý đẹp, đàn nhạc ca vang? Và tâm cảm đó còn dẫn đến tệ “ấm chỗ ngồi” thì “ngồi lỳ” chẳng muốn đứng lên. Sự ỉ lại vào văn phòng, và hành lang rợp bóng mát của nhà nước đã trở thành một căn bệnh thụ động trầm kha của nhiều công chức cạo bàn giấy, điều đó lý giải tại sao những cuộc cải cách biên chế lại khó thực hiện đến vậy! Làm sao để những con thỏ đế nhút nhát, yếu ớt, chưa hề biết tự tin cũng như đánh giá về bản thân mình, rời bỏ cái hang đầy ô che và bóng mát?
7. Ăn nhanh, đi chậm, đái đường, hôn bụi dậm
Đây là câu ca dao hiện đại của người Việt, không chỉ nói đến hiện tượng xấu, mà còn lột tả tư duy, cách sống ngược đời của người Việt.
1. Ăn thì cần chậm! Vì “ăn chậm nhai kỹ, no lâu”, thì người Việt lại ăn nhanh. Bởi lẽ, mùa hè nóng nực, ăn mà còn toát cả mồ hôi, lại thêm cơm nóng canh nóng, nên ăn cũng ngại. Hơn nữa thức ăn nghèo nên ăn quấy quả cho xong bữa. Còn một lý do nữa khi đi làm chung với nhau, “lính tráng có xuất”, không ăn nhanh sợ mất phần.
2. Đi thì cần nhanh! Vì đi là biểu hiện của hoạt động và mục đích, cần tới chỗ này, cần đến chỗ kia. Nhưng như ở phần trên đã nói, tư chất “lãn công” làm lãi của người Việt rất phổ biến, vì thế muốn đi chậm dề để dưỡng sức. Thêm nữa người có tư duy thế nào bước đi thế ấy. Người nghĩ xa, nhìn xa, bước đi tự nhiên khoan thai, sải dài. Người nghĩ ngắn, nhìn gần, loay hoay tủn mủn, thì bước chân không thể nào quảng khoát được. Đi cũng là nhịp điệu thể hiện trình độ về tốc độ của một thời đại. Người có tư duy thuộc nền công nghiệp máy móc đi nhanh, hoạt động nhanh. Trái lại, xã hội ta mới đang ở mức xấp xỉ 80% là nông dân sống kiểu “nông nhàn”, vì vậy tốc độ đi còn rất chậm, tốc độ sống còn rất dề dà. Người Việt có một câu nói đùa bằng lòng với tốc độ sống của mình rằng: đi chậm cũng nhanh hơn xe bò, đi nhanh cũng chẳng thể kịp ô tô, vậy thì đường ta, ta cứ yên chí mà đi. Nói đến tốc độ, chúng ta đừng nên hiểu lầm, một số kẻ phóng xe bạt mạng ngoài đường là đã vượt qua tốc độ của xã hội công nghiệp. Đó chỉ là những kẻ mắc mặc cảm tự ti, muốn ta đây, phóng xe để trộ người... Đa số họ, đi nhanh nhưng chẳng biết đi đâu, nên phóng bạt mạng đến nơi nào đó, nhìn ngó một tẹo, không biết làm gì lại phóng đi. Người Trung Hoa cho rằng: “Kẻ không ngồi ấm chỗ chỉ là hạng lăng xăng, thằng hầu, con ở”. Phần lớn số này, tài cán chẳng có gì nhiều hơn ngoài đi xe, nên cứ ra oai hết phóng đi rồi lại phóng về.
3. Đái đường, thì khỏi bàn nó xấu thế nào, đó là cách tuỳ tiện, thấy khát thì uống, thấy buồn thì tè chỗ nào cũng được. Cái cảnh người Việt đái đường thì thật hết chỗ tả. Có khi xe đổ ở ngã tư, đèn xanh, đèn đỏ, giữa ban ngày ban mặt, một anh dừng xe máy phía sau, chạy lên chiếc xe tải đổ phía trước, ưỡn người vào lốp xe, tè một bãi cứ như không. Anh ta làm việc đó hiển nhiên như thể là, đã có uống ở đầu vào thì phải có xả tất yếu ở đầu ra.
Người làm việc ấy, do trình độ thấp đã đành, cách đây ít năm, tôi và mấy người học cùng trường đi dạo ra hồ Thuyền Quang, mấy chàng đã tốt nghiệp đại học hẳn hoi, cơ quan gần đó, nghĩa là không thể bí chỗ đi tiểu, vậy mà họ hồn nhiên đứng dàn hàng ngang tè ngay xuống hồ, vô tư như những chú bé con, còn chưa được mẹ dặn dò chỉ bảo.
Đái bậy, thực ra là một vấn đề tồn đọng rất quan trọng của văn hoá, không những thế nó còn mang một tầm vóc lý thuyết rất lớn. Có nhiều lần, tôi gặp mặt cả những kiến trúc sư, các nhà xây dựng, và các nhà văn hoá, mọi người đều cho rằng: Lối sống của người Việt đã và còn đang mang nặng sự chú tâm cho Đầu vào, như ăn gì, uống gì, mà chưa chú tâm vào Đầu ra. ở nhiều nơi công cộng, chúng ta ghi “cấm phóng uế bừa bãi”, nhưng lại không có chỗ để người ta phóng uế. ở Tây chẳng hạn, người ta thường kiểm tra chế độ vệ sinh “đầu ra” của một nhà hàng, nếu chủ quán định mở bao nhiêu bàn ăn, thì nhà vệ sinh (toa - lét) phải đáp ứng ngang bằng. Đằng này, ở ta có khi các quán bia đông cả vài trăm người uống, vậy mà chỗ đi vệ sinh có khi chỉ giành riêng cho một vài người. Có nhiều quán bia, mời người ta ăn thùng uống vại, nhưng cái khoản đầu ra, thì mặc kệ, ông muốn giải quyết kiều nào cũng được.
Tệ nạn này, thể hiện cả trình độ sống từ trong căn rễ của người Việt. Trước đây người Việt vẫn quan niệm “ăn hết nhiều, ở hết mấy”. Nghĩa là, người ta chỉ coi trọng ăn - uống, còn điều kiện ở thì chỉ lo chỗ nằm, chỗ ngồi, chỗ hóng mát, mà ít khi lo đến cái khoản đầu ra. ở các thành phố, thì ôi thôi, nhiều khu nhà cả chục hộ, cả dăm chục người chung nhau cái nhà vệ sinh tối tăm bẩn thỉu “có đường vào, mà đường ra thì quần áo sặc mùi hôi thối”. Còn ở các vùng quê, nhiều nơi vẫn còn “hát” bài “Nhất quận công, nhì ỉa đồng”. Có những làng mạc dọc theo bãi biển, có khi cả xóm, không nhà nào làm chỗ vệ sinh tất cả đều “tình tang” đi ra bãi biển biểu diễn màn “ngồi xổm, vừa thả bom, vừa ném tờ rơi, nước lên đến đâu, “nhảy” lên đến đấy.
Hiện nay, tình hình và tâm lý cũng đã cải thiện nhiều. Rất nhiều người đã nghĩ, đầu ra có thể ít vật chất hơn đầu vào, nhưng lại nhiều “khả thi” văn hoá hơn. Người ta có thể ăn ở chỗ đông người, uống ở chỗ đông người, nhưng không thể bạ đâu tè đấy, hay phóng uế ở chỗ đông người. Vả lại, thành phố bây giờ đã phát triển nuốt mất nhiều cánh đồng của miền quê, không thể còn khư khư nghĩ cách “nhất quận công, nhì ỉa đồng” nữa.
Như vậy, “đái bậy” vừa là vấn đề văn hoá, vừa là tồn đọng văn hoá, cũng là trình độ “văn hoá đầu ra”. Xin tất cả chúng ta hãy lưu ý cho, từ người kiến thiết xây dựng thành phố, đến người xây chợ búa, cửa hàng, và cả những khu nhà ở.
4. Hôn bụi rậm. Nụ hôn thì ở đâu cũng đẹp, dù giữa ban ngày hay trong đêm tối. Nhưng điều quan trọng là ở chỗ nó phản ánh, cái xấu như “đái bậy”mà người Việt vẫn làm thản nhiên như không - sự thản nhiên đó cũng là tự nhiên - và cũng là bản năng. Người có giáo dục cũng như văn hoá là phải thoát xa bản năng, nhưng tâm lý của nhiều người Việt vẫn là “làm theo bản năng” thì thấy tự nhiên, tiện lợi. Chẳng cần đặt câu hỏi việc đó có hợp văn hoá không. Trái lại, hôn là biểu hiện tình cảm cao quý của con người, nghĩa là từ tự nhiên đã bước lên “nhân tạo”, thì người ta lại phải vừa gượng gạo, vừa kín đáo. Như vậy chúng ta chưa quen tạo ra những “văn hoá nhân tạo” - cũng là giá trị nhân văn, mà còn đang loay hoay sống rất gần với bản năng tự nhiên.
Số lượt đọc:
2955
-
Cập nhật lần cuối:
08/02/2009 10:37:30 AM
Ý kiến của bạn về bài viết: |  |
Thông tin liên quan: Biết mình và biết người07/10/2009 09:25' AM So sánh sự khác biệt giữa mình và người một cách tỉnh táo để nhìn ra cái hay cái dở, rồi từ đó tự tu chỉnh biến đổi văn hóa của mình theo hướng tiến bộ văn minh - đó là công việc mà mỗi dân tộc đều phải làm, nếu không muốn cam chịu số phận tụt hậu trong quá trình toàn cầu hóa... Cử chỉ thông thường của người Việt02/10/2009 02:40' PM Cùng chiều với tính cách nịnh hót là tính cách ưa nịnh nọt, thích quà biếu, thích khen thưởng, thích tâng bốc cũng đồng thời thích được nghe nói dối và o bế những kẻ tâng bốc mình và không bao giờ chấp nhận phê bình. Dân tộc đã có nhiều cơ hội phát triển, nhưng rồi lại chậm lại, thậm chí thụt lùi chỉ vì những tính cách này. Đó là bài học chưa bao giờ được tiếp nhận. Tính ồn ào lắm chuyện của người Việt06/07/2009 01:33' PM Vì tính lắm chuyện của người mình, một số người Việt sợ ở gần hay giao tiếp với người Việt. Những người này một phần có lý nhưng một phần mắc cái tính thông thường sẵn có của chúng ta, đó là tính tự cao tự đại coi mình thuộc thành phần ưu tú, cao quý nên xa lánh nhóm người mà họ cho là ô hợp, thấp kém. Thế nhưng đôi khi giao tiếp với người quen họ lại đem nhà, đem xe, đem con cái, bằng cấp... ra khoe và không quên chê bai, đàm tiếu người khác hết lời. Tưởng sao, như vậy mèo vẫn hoàn mèo. Biết mình để tránh bệnh tự mê hoặc01/07/2009 10:34' AM Phần lớn truyện cười ở ta dành để chế nhạo thói xấu lặt vặt của con người, những anh chàng nói phét gặp thời, những thầy đồ ăn vụng... Khi tiếng cười cất lên quá dễ dãi cũng là lúc ta nhận ra đời sống tinh thần con người vừa cười đó nhiều phần nông nổi, tẻ nhạt. “Người Việt tự ngắm mình” - cấu trúc thật hoàn hảo29/05/2009 10:10' AM “Người Việt tự ngắm mình” với tôi là một thú vị bởi rất nhiều ngạc nhiên khi đọc nó. Đề tài này đã có khá nhiều người viết, có cả nhiều người có tên tuổi và thành công nhất định trong ngôn luận. Ví dụ như giáo sư Nguyễn Hồng Phong Viện trưởng Viện sử học, Vương Trí Nhàn nhà phê bình văn học, đầu thế kỷ 20, Nguyễn Văn Vĩnh một trí thức Tây học rất lớn, đã nổi tiếng với các bài về tật xấu của người Việt... Người Việt có xấu xí thật không?27/03/2009 10:25' AM Người Việt xấu hay không xấu không phải bởi vì họ vốn thế. Đó không phải là những giá trị bất biến, và tất nhiên là không đáng bi quan. Chỉ tên những tật xấu của người Việt thời nay26/03/2009 10:29' AM Chúng ta hãy cùng nhau lên một danh mục, tạm gọi là “Danh mục các thói hư, tật xấu của người Việt thời nay" nhằm “vạch mặt, chỉ tên” càng chính xác càng tốt những biểu hiện tinh vi và đa dạng của nó. Người Việt tư duy bằng cái... bụng?!23/02/2009 09:44' PM Người Việt lạc quan nhất thế giới bởi vì họ không chỉ tư duy bằng cái đầu, mà còn có cái bụng tham gia vào quá trình suy nghĩ, cảm nhận. Người Việt nghĩ gì, cảm gì bằng... cái bụng của mình? GS. Trí Việt luận giải. Khi Hà Nội trở thành chính mình10/03/2010 11:08' AM Khi nào thì Hà Nội trở thành mình nhất? Theo tôi hiểu, đó là những khi Hà Nội đồng nghĩa với phố với cây với nhà, tự phố tự cây đã có linh hồn, còn những con người thật chỉ đóng vai trò điểm xuyết, chẳng hạn như trong các bức tranh của Bùi Xuân Phái. Buổi sáng mùng một vắng vẻ hôm nay, tôi đã bắt gặp một thành phố như thế. Từ yêu Việt Nam đến mua Việt Nam27/02/2010 10:45' AM Mới đó đã 30-40 năm, bạn đọc nào trên 45 tuổi có còn nhớ: Ngày xửa ngày xưa ở Sài Gòn có những chiếc xe ba gác bán xà phòng, đi rong các ngõ hẻm? Ở khu Bàn Cờ của tôi ngày nào cũng thấy một ông già mập mạp mạc quần soóc ka ki, đội nón cối nhựa trắng tinh, đẩy xe ba gác một cách thong thả. Ước vọng hóa hổ25/02/2010 10:09' AM Thật may, ngồi vào bàn định viết chủ đề về khát vọng thành Hổ của Việt Nam, tình cờ tôi đọc được bài [Thế giới] Sợ Rồng (Fear of Dragon) trên tờ The Economics cùng với một số tin, bài thứ hai nói về nỗi lo ngược đời của Trung Quốc trong việc đang hối hả tìm cách ngăn chặn bong bóng tài sản. Đàn ông Tây ăn tết ta10/02/2010 03:26' PM Có thể khẳng định rằng, nhà nào ở Ta có được rể Tây thì hầu như nhà đó đang sở hữu một hạnh phúc. Nguyên nhân tương đối dễ giải thích. Thứ nhất, ở những chàng Tây, do ướt đẫm truyền thống nịnh đầm nên bọn họ chẳng bao giờ biết đánh vợ. Ngược lại, những tay bị vợ Việt cho ăn đòn thường hơi bị đông. Thứ hai, không biết có phải đang bị đá trên sân khách hay không đám rể ngây thơ này thường yêu quý hố vợ mẹ vợ em vợ anh vợ, thậm chí bố của bố vợ, mẹ của mẹ vợ một cách chân thành đến kinh ngạc. Cứ xem cung cách mấy ông rể Tây đi ăn tết ta là dễ dàng nhận thấy. Tắt lửa tối đèn có ai?09/02/2010 07:41' AM Nhiều người bảo, Tết bây giờ nhạt hơn trước. Dẫu ăn ngon, mặc đẹp hơn. Cái sự háo hức, vui như Tết cũng nhạt hẳn. Có thật mọi thứ đều nhạt đi? Tình người là “ muối đời” mặn nhất. Muối mà còn nhạt thì biết lấy gì bỏ vào cho mặn? Hay là đã qua thời, thiếu đủ mọi thứ, người ta phải tựa vào nhau, xích lại gần nhau? Tết này có về không?07/02/2010 02:34' PM Từ hơn một tháng nay câu hỏi ấy đã là câu cửa miệng mỗi khi gặp nhau hay qua telephone thay lời chào hỏi của người Việt trên đất Đức. Sắp Tết rồi, nước Đức mùa này năm nay lạnh quá. Có nơi tới 20, 30 độ dưới không. Cái lạnh giá băng, cái lạnh đến se lòng làm người xa quê càng thêm nhớ về, muốn về lại một quê hương. Hãy tự xét mình01/02/2010 12:30' PM Năm 1943, nhà giáo dục Hoàng Đạo Thúy viết cuốn sách “ Trai nước Nam làm gì?” để kêu gọi thanh thiếu niên Việt Nam rèn luyện chở ngày giúp nước... Con người biến đổi22/01/2010 03:43' AM Bao giờ thì người Việt Nam được tự hào mình là con dân của đất nước hiền hòa, lành mạnh, văn minh và giàu có? Làm sao cho mỗi người nhận thấy và cùng hành động để thay đổi? Bài khác: II. Thước để ngắm mình04/01/2009 09:36' AM Chúng ta ngắm mình không phải bằng cách chỉ ra hết tật xấu này đến tật xấu kia, những tật xấu mà trước hết có tôi, gia đình tôi, họ hàng tôi tham dự vào đó, mà chúng ta phải soi cái nét hay cùng tật xấu của mình qua một chiếc gương. Vậy thì, tiếp theo đây tôi xin trình bày chiếc gương có tính công truyền để đi tới công lý của mọi người. Cái vội của người mình29/12/2008 11:35' AM Năm 1982, Larry Dossey, một bác sĩ người Mỹ đã đặt ra thuật ngữ “căn bệnh thời gian” để mô tả một tín điều đang ám ảnh nhiều người. Những người này thường tự nhủ: “Thời gian đang trôi đi, không còn đủ thời gian, và bạn phải nhanh hơn, nhanh hơn nữa mới bắt kịp nó”. Giới trẻ Hà Nội và vòng vây giải trí26/12/2008 04:55' PM Với những gì tôi đã xem, nghe, đọc về giới trẻ, mà rất nhiều văn nghệ sĩ ấp ủ đề tài này, động cơ là đáng trân trọng. Chúng tôi thích chứ, tuổi trẻ bao giờ cũng thích được nói về mình và khám phá mình cũng như thích nghe người khác đánh giá ra sao. Trong những vô vàn thành quả ấy, luôn có những giá trị đọng lại. Một Vị đắng tình yêu, một Canh bạc, một Xin hãy tin em hay Của để dành, cũng rất đáng nhớ. Chúng tôi cũng hiểu cái hạn chế muôn thuở của người mình nên cũng không trông chờ cho lắm một kết quả kỳ vĩ nào đột biến xuất hiện, nhưng khi cái Đẹp ra đời bao giờ giới trẻ cũng là lực lượng cổ vũ hùng hậu nhất. Thêm chất trí tuệ cho tiếng cười24/12/2008 08:34' AM Khi nói nhiều phen mình và bạn bè đã cười quá tùy tiện, quá dễ dãi cũng là lúc chúng ta cùng thành thật mong ước với nhau rằng trong những ngày vui mỗi người có thể ít cười hơn nhưng đó thật sự là những tiếng cười... có chất lượng cao (tương tự như các loại hàng xịn, hàng xuất khẩu, hoặc xe khách chất lượng cao đang được ưa chuộng). Thói hư tật xấu của người Việt: Tình trạng dung tục ở các Lễ Hội19/12/2008 09:06' AM Dưới đây là một đoạn ông nhận xét về không khí xô bồ, nhếch nhác thường thấy phổ biến ở lễ hội của người Việt - miếng ăn quá to, người ta chỉ nghĩ đến ăn, tranh giành ngôi thứ cũng chỉ vì ăn... Vô cảm và bất lực09/12/2008 01:55' PM Hàng ngày các tin tức thuộc loại tiêu cực đã quá nhiều. Nhiều tới mức câu chuyện “người Việt thuộc loại chuộng dùng hàng ngoại nhất châu Á” do một tổ chức nghiên cứu quốc tế nêu lên, và vài tờ báo trong nước đăng lại... chẳng khiến mấy ai bận tâm. Tâm lý tiểu nông01/12/2008 10:07' AM Chỉ cần đứng ở các đầu ô, theo dõi sự giao lưu hàng hóa trên con đường nối Hà Nội với các tỉnh, người ta cũng sớm nhận ra thực chất các mối quan hệ giữa đô thị với các vùng nông thôn chung quanh trong thời điểm hiện nay. Thói hư tật xấu của người Việt: Tốt lẫn xấu, nặng về gia tộc, học đòi quên chuyện lớn, buôn không thành nghề19/11/2008 08:15' AM Về đàng trí tuệ và tính tình, người Việt Nam có cả các tính tốt và các tính xấu. Đại khái trí tuệ minh mẫn, học chóng hiểu khéo chân tay, nhiều người sáng dạ, nhớ lâu lại có tính hiếu học, trọng sự học thức, quý sự lễ phép, mến điều đạo đức... |