Đang tải dữ liệu...
ChúngTa.com.NET CommunityHanoi Software JSCDoanh nhân 360
Home
 
Suy ngẫm
 
Giáo dục
 
Trải nghiệm Trưởng thành
 
Kinh doanh
 
CNTT
 
Góc Giải trí
 
Tác giả
   Bản chất thế giới    Nhận thức    Hệ giá trị    Thực tiễn-Hành động    Ngẫm nghĩ Việt Nam    Điểm sách hay
Tìm bài viết
Tìm kiếm nâng cao
Thống kê
Số lượt truy cập: 44.896.448
Số người trực tuyến: 687
Bạn đọc đến từ đâu?

Bạn đọc của ChúngTa.com đến từ đâu?

Người Việt tự ngắm mình (Phần 6)

V. Tự ngắm mình (2)

Nguyễn Hoàng Đức   
09:48' AM - Chủ nhật, 04/01/2009

Mục lục

I. Lý do để cuốn sách này có mặt - Nhìn người mà ngẫm đến ta

  1. “Anh em khinh trước, làng nước khinh sau”
  2. Tự xét đoán để khỏi bị xét đoán
  3. Không có quan toà nào lớn hơn ta cả
  4. “Yên Quốc rồi mới yên gia”
  5. Làm việc thì dễ, làm người mới khó

II. Thước để ngắm mình

  1. Thành thật là nội dung thật của mọi hạnh phúc ở đời
  2. Phân biệt minh bạch trật tự, và phán xét là điều kiện tất yếu cho mỗi cá nhân và xã hội phát triển
  3. Sở trường là con đường phát huy cao nhất, là sở thích đạt tới hạnh phúc lớn nhất của cá nhân
  4. Ba phần của cơ thể đầu, tim, dạ dày tương ứng với ba cấp độ làm người
  5. Sức khoẻ, trí tuệ, điều độ, khoan dung, và công lý là bốn điều kiện sống tất yếu của mỗi cá nhân, cũng như xã hội

III. Đào luyện con người

  1. Đạo đức là thói quen về điều thiện
  2. Mặc cảm tự ti
  3. Phản tỉnh căn tính “nô bộc”

IV. Nhìn người mà ngẫm đến ta

V. Tự ngắm mình

  1. Ngồi xổm
  2. Đi đất
  3. Mặc quần áo ngủ ra đường
  4. Văn hay chữ tốt không bằng ngu dốt lắm tiền
  5. Dở ông dở thằng, làm thầy không nổi làm tớ cũng chẳng xong
  6. Ăn đói nằm co còn hơn ăn no vác nặng
  7. Ăn nhanh, đi chậm, đái đường, hôn bụi dậm
  8. Ăn xó mó niêu
  9. Ăn vặt, khôn vặt, dâm vặt, gian vặt
  10. Phép vua thua lệ làng
  11. Người khôn ăn nói nửa chừng, làm cho kẻ dại nửa mừng nửa lo
  12. Cả vú lấp miệng em - Còi to cho vượt
  13. Ngậm miệng ăn tiền
  14. Tâm khẩu bất đồng: Khiêm tốn vờ - kiêu hãnh lén - Khen vờ - chê giả
  15. Được ăn, được nói, được gói mang về
  16. Một trăm cái lý không bằng một tý cái tình
  17. Gia trưởng độc đoán
  18. Ích kỷ, đố kỵ. trâu buộc ghét trâu ăn
  19. Nịnh trên, đạp dưới, đá ngang
  20. Tính khí thất thường: mai nắng - trưa mưa - chiều nồm
  21. Đầu voi đuôi chuột
  22. Thể hiện nhiều, thực hiện kém

VI. Tổng quát


6. Ăn đói nằm co còn hơn ăn no vác nặng

Biểu tượng cao nhất của hạnh phúc con người được gọi là: “Bữa tiệc đời”. Người Việt còn ai ủi những nười nghèo khó rằng:

Sợ rằng không sống thì thôi
Thể nào có lúc no xôi chán chè

Bữa tiệc, là đỉnh cao tụ tập về mọi thoả mãn của cuộc sống, như: thịt cá ê hề, rượu tràn trề, tài tử giai nhân quần tụ, đàn hay hát ngọt, nhảy múa thâu đêm, tâm hồn bốc cao vời vợi...

Trong tiệc bao giờ cũng có chủ và khách, ở đó “oai như chủ” và “quý như khách”. Nhưng chữ “tiệc” rất lạ với người Việt, chúng ta có thể ăn nhiều - uống lắm, chỉ là cách ăn cỗ bàn chứ không phải tiệc. Một bữa ăn muốn thành tiệc, thì không phải chỉ lớn về phạm vi mâm bát mà còn phải dài. Giống như bài hát có hay đến mấy, có đông người hát đến mấy, chỉ là “đoản ca”, muốn thành hợp xướng thì bài ca phải dài, phải có “chương - hồi” lên bổng xuống trầm, hay nói một cách quả quyết, một khoảng cách vài bước chân không thể nào hy vọng sẽ có vẻ hùng dũng của con đường phiêu lưu vạn dặm. Một lần, tôi đi dự cỗ cưới gặp một anh bạn mới đi Tây về, sau “bữa cơm thân mật”, ra đến cửa anh nói: Cả một đám cưới to nhường ấy, nhà hàng sang nhường vậy, mà chúng ta vừa chào mừng, vừa ăn, chưa đầy một giờ. Tất cả ào ào xếp vào bàn, ào ào rót, ào ào uống, và ào ào đứng dậy. Tất cả chỉ thấy sự có mặt của dạ dầy, còn chẳng thấy những dấu hiệu đòi khát vọng của tâm hồn. Trong khi đó, người châu Âu thậm chí chỉ cần một cây đàn vi - ô - lông, hay ắc - cóc - đi - ông, họ nhảy thâu đêm suốt sáng, hay lạc hậu cả như người thổ dân châu Phi, châu Mỹ, chỉ cần vài cái trống, thân xác họ nhảy múa như muốn vụt bay cùng với tâm hồn.

Câu chuyện mới đến đó thôi, thì vài người nghe thấy, người nói nọ, người nói kia, đều thừa nhận. Khi tâm hồn thoả khát thì mới có tiệc. Còn chúng ta mới đang chỉ dừng ở mức thoả mãn vật phẩm cho dạ dày. Nhưng sự thoả mãn đó đã lớn chưa? Lớn nhất là cỗ bàn hiếu - hỉ, hay “đói quanh năm no ba ngày tết”, thì dạ dầy chúng ta có bao ngày được mãn nguyện?

Người ta không thể có nhà cao cửa rộng, bữa ăn linh đình, nếu chỉ trông vào cơ sự “ăn đói nằm co”. Đó là lý do chính khiến chúng ta còn sống nghèo hèn. Để dễ hiểu, chúng ta hãy hình dung một hình thức sắm sửa bữa tiệc. Người phương Tây thường tổ chức một cuộc đi săn cho bữa tiệc. Sáng ra, những chủ và khách, và người ở, ngựa và chó, tập trung, rồi lao vào cánh rừng vừa rậm - vừa xa. Đó là tốp đi săn. Còn lại, tốp ở nhà vẫn lo giết thịt, nấu ăn, qua buổi trưa, mọi người đi săn trở về, người ta giết thịt những con thú vừa săn được, bổ xung cho thực phẩm đã dọn ở nhà, và rượu vang được bưng lên. Bữa tiệc bắt đầu. Nó bắt đầu không phải chỉ từ lúc ăn, mà từ lúc sáng khi mọi người hăm hở lao vào rừng, rồi săn, rồi hoạt động, rồi mệt nhọc, nói chung là tất cả tâm thế chuẩn bị cho một bữa tiệc đã được sửa soạn và chờ đón suốt cả ngày. Rồi hoàng hôn đến, bữa tiệc bắt đầu, nến được thắp lên, rượu được rót ra, người ta ăn uống, chuyện trò reo hò, rồi đàn hát dài như sự mong chờ. Điều đó nói lên cái gì? Nghĩa là, muốn có tiệc lớn, người ta phải: Sửa soạn lớn! Chờ đợi lớn! Và giầu có tâm hồn lớn để ăn tiệc. Triết gia Hegel vĩ đại còn nói thế này: “Một bữa ăn dù lớn bao nhiêu mà không có một diễn văn hay thì không thể trở thành bữa tiệc”. Diễn văn hay nghĩa là, ở đó có một nội dung lớn - một đề tài lớn được khai triển, và cùng lúc với thức ăn dồi dào cho thân xác, tâm hồn cũng được dự cuộc bằng “thực phẩm thiêng liêng” của mình, như thế mới thành bữa tiệc.

Ngược lại, nếu chỉ có “ăn xó mó niêu, hoặc thiếu tâm cảm lớn để làm đồ ăn lớn, sẽ không thể nào thành tiệc! Tại sao người Việt lại có câu “Ăn đói nằm co còn hơn ăn no vác nặng”, nó bắt nguồn từ đâu? Nhiều người thường bảo: Người việt chịu khó, hay lam hay làm. Có một số người khác, trong đó có tôi lại nghĩ: người Việt chỉ lam lũ thôi, còn nói chung thì “khá lười biếng”. Tôi xin đưa ra lý do:

Người việt có tả những kẻ lười nhác đến mức: “ruồi đậu mép không thèm đuổi”. Câu nói đó có thể ít người đồng tình. Nhưng câu nói sau thì rất chắc chắn, đó là: “Ngồi mát ăn bát vàng !” Trong khẩu ngữ của người Việt, rất hay kèm theo chữ “mát”, nào là “ở cho mát”, “ngồi cho mát”, “ăn cho mát”, “uống cho mát”, “mặc cho mát”... Xứ ta là xứ nóng, nên người Việt cũng có tệ bắt chước người Trung Hoa, để móng tay dài, tìm chỗ mát tránh nóng..

Theo địa lý và nhân chủng thì, người xứ lạnh, để chống lạnh vóc dáng cao to, mũi vừa to vừa dài để làm không khí ấm lên trước khi đi vào phổi, vì vậy tim phế nở nang, thân đã to,... nội tạng càng thêm khoẻ. Trái lại, người xứ nóng, thân hình nhỏ bé ít mỡ để cho mát, lại thêm ngại ăn uống những thức ăn có dinh dưỡng cao sợ nâng thân nhiệt, mũi tẹt vì cơ thể ưa loại không khí vào đến buồng phổi vẫn còn mát vì thế nội tạng kém phát triển nở nang... nên dễ thành vai xuôi, ngực lép. Lại thêm, không khí nóng ẩm, dễ ra mồ hôi, nên thường rất ngại làm việc tay chân. Đây là một đặc điểm rất căn bản khiến người châu Phi và châu á thường mắc chứng lười nhác. Trong một bộ phim tài liệu làm về du lịch của một nước châu Phi phát trên truyền hình, người châu Âu đã nói về dân bản xứ thế này: Đàn ông ở đấy chẳng làm gì khác hơn, là ngồi vật vờ nấp trong hiên nhà nhìn khách bộ hành qua lại. Nhưng họ đặc biệt nhanh nhẹn lạ thường khi thấy một khách du lịch đi qua, với họ thì khách du lịch không phải là người, mà là những chiếc ví biết đi, và họ lao ra để tìm cách săn những chiếc ví đó.

Vì ngại ra mồ hôi, và thích tìm chỗ mát, nên phải nói, năng xuất lao động ở xứ ta khá thấp, đặc biệt có một tâm lý “lãn công” thâm căn cố đế ăn sâu từ trong lịch sử, những muốn tìm việc gì trong nhà, hoặc trốn trong nhà để tránh nắng, tránh mưa. Vì vậy, không ít người học xong trường này, trường nọ, nghe có vẻ quan trọng lắm, nhưng mục đích ra trường chỉ là kiếm một chỗ nào “ngồi cho mát” vào mùa hạ, và “ngồi cho ấm” vào mùa đông. Tay nghề, hoặc chuyên môn chẳng cần tiến triển, miễn sao có một chỗ “trú ẩn” và một khoản lương khi về hưu. Đây là một căn bệnh có tính chất truyền kiếp của lịch sử, chúng ta hãy nên đối mặt với nó, nào “học để làm quan”, nào “một người làm quan cả họ được nhờ”, nào “ngồi mát ăn bát vàng”, để:

Mưa không đến mặt
Nắng không đến đầu

Một tâm cảm, và một lao động như vậy, làm sao có thể mong dự những bữa tiệc thịt đắp như núi, rượu chẩy như suối, và tâm hồn thoả sức đập cánh trong lời hay ý đẹp, đàn nhạc ca vang? Và tâm cảm đó còn dẫn đến tệ “ấm chỗ ngồi” thì “ngồi lỳ” chẳng muốn đứng lên. Sự ỉ lại vào văn phòng, và hành lang rợp bóng mát của nhà nước đã trở thành một căn bệnh thụ động trầm kha của nhiều công chức cạo bàn giấy, điều đó lý giải tại sao những cuộc cải cách biên chế lại khó thực hiện đến vậy! Làm sao để những con thỏ đế nhút nhát, yếu ớt, chưa hề biết tự tin cũng như đánh giá về bản thân mình, rời bỏ cái hang đầy ô che và bóng mát?


7. Ăn nhanh, đi chậm, đái đường, hôn bụi dậm

Đây là câu ca dao hiện đại của người Việt, không chỉ nói đến hiện tượng xấu, mà còn lột tả tư duy, cách sống ngược đời của người Việt.

1. Ăn thì cần chậm! Vì “ăn chậm nhai kỹ, no lâu”, thì người Việt lại ăn nhanh. Bởi lẽ, mùa hè nóng nực, ăn mà còn toát cả mồ hôi, lại thêm cơm nóng canh nóng, nên ăn cũng ngại. Hơn nữa thức ăn nghèo nên ăn quấy quả cho xong bữa. Còn một lý do nữa khi đi làm chung với nhau, “lính tráng có xuất”, không ăn nhanh sợ mất phần.

2. Đi thì cần nhanh! Vì đi là biểu hiện của hoạt động và mục đích, cần tới chỗ này, cần đến chỗ kia. Nhưng như ở phần trên đã nói, tư chất “lãn công” làm lãi của người Việt rất phổ biến, vì thế muốn đi chậm dề để dưỡng sức. Thêm nữa người có tư duy thế nào bước đi thế ấy. Người nghĩ xa, nhìn xa, bước đi tự nhiên khoan thai, sải dài. Người nghĩ ngắn, nhìn gần, loay hoay tủn mủn, thì bước chân không thể nào quảng khoát được. Đi cũng là nhịp điệu thể hiện trình độ về tốc độ của một thời đại. Người có tư duy thuộc nền công nghiệp máy móc đi nhanh, hoạt động nhanh. Trái lại, xã hội ta mới đang ở mức xấp xỉ 80% là nông dân sống kiểu “nông nhàn”, vì vậy tốc độ đi còn rất chậm, tốc độ sống còn rất dề dà. Người Việt có một câu nói đùa bằng lòng với tốc độ sống của mình rằng: đi chậm cũng nhanh hơn xe bò, đi nhanh cũng chẳng thể kịp ô tô, vậy thì đường ta, ta cứ yên chí mà đi. Nói đến tốc độ, chúng ta đừng nên hiểu lầm, một số kẻ phóng xe bạt mạng ngoài đường là đã vượt qua tốc độ của xã hội công nghiệp. Đó chỉ là những kẻ mắc mặc cảm tự ti, muốn ta đây, phóng xe để trộ người... Đa số họ, đi nhanh nhưng chẳng biết đi đâu, nên phóng bạt mạng đến nơi nào đó, nhìn ngó một tẹo, không biết làm gì lại phóng đi. Người Trung Hoa cho rằng: “Kẻ không ngồi ấm chỗ chỉ là hạng lăng xăng, thằng hầu, con ở”. Phần lớn số này, tài cán chẳng có gì nhiều hơn ngoài đi xe, nên cứ ra oai hết phóng đi rồi lại phóng về.

3. Đái đường, thì khỏi bàn nó xấu thế nào, đó là cách tuỳ tiện, thấy khát thì uống, thấy buồn thì tè chỗ nào cũng được. Cái cảnh người Việt đái đường thì thật hết chỗ tả. Có khi xe đổ ở ngã tư, đèn xanh, đèn đỏ, giữa ban ngày ban mặt, một anh dừng xe máy phía sau, chạy lên chiếc xe tải đổ phía trước, ưỡn người vào lốp xe, tè một bãi cứ như không. Anh ta làm việc đó hiển nhiên như thể là, đã có uống ở đầu vào thì phải có xả tất yếu ở đầu ra.

Người làm việc ấy, do trình độ thấp đã đành, cách đây ít năm, tôi và mấy người học cùng trường đi dạo ra hồ Thuyền Quang, mấy chàng đã tốt nghiệp đại học hẳn hoi, cơ quan gần đó, nghĩa là không thể bí chỗ đi tiểu, vậy mà họ hồn nhiên đứng dàn hàng ngang tè ngay xuống hồ, vô tư như những chú bé con, còn chưa được mẹ dặn dò chỉ bảo.

Đái bậy, thực ra là một vấn đề tồn đọng rất quan trọng của văn hoá, không những thế nó còn mang một tầm vóc lý thuyết rất lớn. Có nhiều lần, tôi gặp mặt cả những kiến trúc sư, các nhà xây dựng, và các nhà văn hoá, mọi người đều cho rằng: Lối sống của người Việt đã và còn đang mang nặng sự chú tâm cho Đầu vào, như ăn gì, uống gì, mà chưa chú tâm vào Đầu ra. ở nhiều nơi công cộng, chúng ta ghi “cấm phóng uế bừa bãi”, nhưng lại không có chỗ để người ta phóng uế. ở Tây chẳng hạn, người ta thường kiểm tra chế độ vệ sinh “đầu ra” của một nhà hàng, nếu chủ quán định mở bao nhiêu bàn ăn, thì nhà vệ sinh (toa - lét) phải đáp ứng ngang bằng. Đằng này, ở ta có khi các quán bia đông cả vài trăm người uống, vậy mà chỗ đi vệ sinh có khi chỉ giành riêng cho một vài người. Có nhiều quán bia, mời người ta ăn thùng uống vại, nhưng cái khoản đầu ra, thì mặc kệ, ông muốn giải quyết kiều nào cũng được.

Tệ nạn này, thể hiện cả trình độ sống từ trong căn rễ của người Việt. Trước đây người Việt vẫn quan niệm “ăn hết nhiều, ở hết mấy”. Nghĩa là, người ta chỉ coi trọng ăn - uống, còn điều kiện ở thì chỉ lo chỗ nằm, chỗ ngồi, chỗ hóng mát, mà ít khi lo đến cái khoản đầu ra. ở các thành phố, thì ôi thôi, nhiều khu nhà cả chục hộ, cả dăm chục người chung nhau cái nhà vệ sinh tối tăm bẩn thỉu “có đường vào, mà đường ra thì quần áo sặc mùi hôi thối”. Còn ở các vùng quê, nhiều nơi vẫn còn “hát” bài “Nhất quận công, nhì ỉa đồng”. Có những làng mạc dọc theo bãi biển, có khi cả xóm, không nhà nào làm chỗ vệ sinh tất cả đều “tình tang” đi ra bãi biển biểu diễn màn “ngồi xổm, vừa thả bom, vừa ném tờ rơi, nước lên đến đâu, “nhảy” lên đến đấy.

Hiện nay, tình hình và tâm lý cũng đã cải thiện nhiều. Rất nhiều người đã nghĩ, đầu ra có thể ít vật chất hơn đầu vào, nhưng lại nhiều “khả thi” văn hoá hơn. Người ta có thể ăn ở chỗ đông người, uống ở chỗ đông người, nhưng không thể bạ đâu tè đấy, hay phóng uế ở chỗ đông người. Vả lại, thành phố bây giờ đã phát triển nuốt mất nhiều cánh đồng của miền quê, không thể còn khư khư nghĩ cách “nhất quận công, nhì ỉa đồng” nữa.

Như vậy, “đái bậy” vừa là vấn đề văn hoá, vừa là tồn đọng văn hoá, cũng là trình độ “văn hoá đầu ra”. Xin tất cả chúng ta hãy lưu ý cho, từ người kiến thiết xây dựng thành phố, đến người xây chợ búa, cửa hàng, và cả những khu nhà ở.

4. Hôn bụi rậm. Nụ hôn thì ở đâu cũng đẹp, dù giữa ban ngày hay trong đêm tối. Nhưng điều quan trọng là ở chỗ nó phản ánh, cái xấu như “đái bậy”mà người Việt vẫn làm thản nhiên như không - sự thản nhiên đó cũng là tự nhiên - và cũng là bản năng. Người có giáo dục cũng như văn hoá là phải thoát xa bản năng, nhưng tâm lý của nhiều người Việt vẫn là “làm theo bản năng” thì thấy tự nhiên, tiện lợi. Chẳng cần đặt câu hỏi việc đó có hợp văn hoá không. Trái lại, hôn là biểu hiện tình cảm cao quý của con người, nghĩa là từ tự nhiên đã bước lên “nhân tạo”, thì người ta lại phải vừa gượng gạo, vừa kín đáo. Như vậy chúng ta chưa quen tạo ra những “văn hoá nhân tạo” - cũng là giá trị nhân văn, mà còn đang loay hoay sống rất gần với bản năng tự nhiên.

Trang:  1/3  1   2   3   »
Số lượt đọc:  2955  -  Cập nhật lần cuối:  08/02/2009 10:37:30 AM
  Ý kiến của bạn về bài viết:
Bài mới:  
Ước vọng hóa hổ
25/02/2010 10:09' AM
Đàn ông Tây ăn tết ta
10/02/2010 03:26' PM
Tết này có về không?
07/02/2010 02:34' PM
Hãy tự xét mình
01/02/2010 12:30' PM
Con người biến đổi
22/01/2010 03:43' AM
Bài khác:
Liên kết web
Trang chủGiới thiệuLiên hệ