Văn minh học thuật một nước là tiêu biểu cho tinh thần nước ấy. Tinh thần ấy phát hiện ra nhiều cách, nhưng rút lại có mấy cái đặc tính nó phân biệt nước ấy với các nước khác, khiến cho nước ấy có một cái hình dạng riêng trong vạn quốc, một cái địa vị riêng trong thế giới. Phàm các nước lớn đời xưa đời nay, đã có ảnh hưởng đến cuộc tiến hóa của nhân loại, đều có một cái tinh thần riêng như thế cả. Tinh thần ấy cũng tức như nhân cách của từng người vậy. Nhân cách mỗi người một khác, phát hiện ra ở cách tư tưởng cảm giác, sự cư xử hành vi của mỗi người. Tinh thần một nước cũng vậy mà phản chiếu vào văn minh học thuật của nước ấy. Vậy muốn lý hội được tinh túy một văn minh học thuật nào, tất phải hiểu cái tinh thần riêng của nước đã tạo thành ra văn minh học thuật ấy.
Nay thử hỏi các nhà tây học nước ta, sau khi đọc xong một quyển sách hay bằng chữ Pháp, sách văn chương hay sách nghị luận, sách tiểu thuyết hay sách nhàn đàm, thì cảm giác ra làm sao? Tất ai ai cũng từng nhận rằng cái cảm giác ấy có một hứng vị, một phong thú riêng, không thể giải được, êm đềm mà vui vẻ, nhẹ nhàng mà thiết thực, thơm tho mà mặn mà; cái hương, cái sắc, cái điệu, cái tình nó có một vẻ thiên nhiên mà đườm nhuận, thanh tao mà đậm đà, thực xưa nay ta chưa từng được thưởng thức bao giờ. Cảm giác ấy tuy không nói rõ ra lời được, nhưng nhàm ai đã nếm mùi văn chương Pháp đều thấy phảng phất như thế cả. Bởi đâu mà văn chương nước Pháp có cái sắc cảm hóa sâu xa mà đặc biệt như thế? Bởi cái tinh thần riêng của nước Pháp vậy.
Giải rõ được cái tinh thần ấy, phát biểu được cái đặc tính của nó, không phải là một việc dễ. Tất phải am hiểu tính tình tư tưởng người Pháp, thông thuộc văn chương xã hội nước Pháp, lý hội lịch sử hiện tình dân Pháp, mới có thể nghị luận một cách xác đáng được. Chúng tôi không dám tự phụ có đủ tư cách như thế. Nhân mới được đọc một bài luận rất hay về “Văn minh nước Pháp” (La civilisation francaise) của một danh sĩ bên qúi quốc ông Victor Giraud(1), thấy lời lẽ thực là ứng hợp với cái cảm giác lúc bình thời, tựa hồ như cái mình vẫn ám giải một cách phảng phất xưa nay, nay có người đến chỉ thị, diễn thích, phát minh cho rất tinh tường, khám phá được nhiều điều hay lẽ thực về văn minh học thuật nước pháp. Vậy tưởng không gì bằng tóm tắt đại ý ra sau này, bàn thêm vào, để giúp cho học giả trong nước ta hiểu ra cái tinh thần một nước đã có tiếng là nước đàn anh trên trường văn minh thế giới.
I
Trong bộ tiểu thuyết trứ danh của một văn hào Pháp ngày nay, có kể chuyện một người thiếu niên châu Alsace lòng nhiệt thành yêu mến tổ quốc Pháp, có cái chí cao thượng muốn thờ tổ quốc một cách đặc biệt, khiến cho người Đức cũng phải cảm phục. Bèn quyết chí ở đất Alsace, không xin về nước Pháp, đến tuổi binh dịch lại nhận đăng làm lính với Đức, tự nghĩ rằng: mình là con nhà Pháp-lan, đại biểu một lối văn minh cao thượng, lạc loài ở cùng với giống người thô bỉ cường bạo, cái nghĩa vụ của mình là phải ở chốn nhượng địa này, như người lính canh bờ cõi, để giữ cho văn minh tổ quốc, phát biểu văn minh ấy ra mà cảm hóa bọn thô bỉ kia. Một năm trời ở trong trại quân Đức, thực là được lòng đủ mọi người, quan trên yêu, bạn bè phục, xử với ai cũng rất mực nhã nhặn đến lúc mãn khóa ra về ai nấy đều tiếc; khi từ giã viên đội Phổ già coi mình trước thì được tin con gái lão vừa mới chết, bèn đi mua ngay một vòng hoa sắt đến viếng. Hai vợ chồng lão đội thấy anh ta sắp biệt mình mà còn xử tử tế như thế, rất cảm động trong lòng, mà nói rằng: “Phải chịu rằng người nước Pháp có nhiều nhân đạo hơn người nước khác”…
Một câu của lão đội già nước Đức ấy thực là tóm tắt được tinh thần đặc sắc của văn minh nước Pháp.
Dân Pháp xưa nay vẫn là có nhân đạo phong phú hơn các dân khác. Trong các dân các nước đời xưa đời nay, có lắm dân còn hiển hách hơn dân Pháp nhiều. Nhưng có lẽ chưa thấy dân nào có cái màu vị nhân đạo đằm thắm bằng người Pháp vậy.
Thi nhân Pháp đã có câu thơ rằng :
Plus je suis Francais, plus je me sens humain.
(Tôi làm người Pháp bao nhiêu, là làm người bấy nhiêu)
Người các nước khác thì thường càng gần “quốc túy” bao nhiêu, càng xa “nhân đạo” bấy nhiêu, vì quốc túy là đặc biệt, mà “nhân đạo” là phổ thông. Xem như trước Đức: người Đức càng là người Đức bao nhiêu thì lại càng cách xa với nhân loại phổ thông bấy nhiêu, vì cái nghĩa của người Đức không phải là cái nghĩa của loài người, quyền lợi riêng của người Đức không giống quyền lợi chung của thiên hạ, càng sai biệt bao nhiêu thì lại càng xa cách bấy nhiêu. Đến như người Pháp thì có cái đặc tính quan sát mọi sự mọi vật theo phương diện chung hơn là phương diện riêng, theo lẽ thông thường hơn là lẽ đặc biệt, thành ra người Pháp càng thêm phần quốc túy bao nhiêu lại càng gần với “nhân đạo” bấy nhiêu. Cho nên nói người Pháp có nhiều nhân đạo hơn các người khác là thế.
Nhân đạo là gì? Nhân đạo tức là cái người ta sở dĩ là người ta vậy. Muốn nói giản dị hơn thì nhân đạo là cái cách làm người, cái đạo làm người, theo một 1ý tưởng thông thường cho cả loài người. Trong thế giới này không có dân nào thi hành cái đạo làm người một cách thông thường phổ cập như dân Pháp.
Cả văn minh học thuật nước Pháp đều là tiêm nhiễm một cái màu nhân đạo ấy cả. Muốn chứng rõ điều ấy thì phải xét kỹ về bốn phần tử lớn tạo thành ra văn minh một nước: 1) văn chương; 2) triết học; 3) tôn giáo; 4) lịch sử.
Ông Giraud xét lần lượt bốn bộ phận ấy một cách rất tinh tế, diễn thích phân minh, luận chứng thâm thiết, lời văn bình dị mà hùng hồn, nét bút tả thực mà văn hoa, thuật giả tiếc không thể thu được cái hứng vị của nguyên văn qua lời nôm sốc nổi.
II
Trước hết xét văn chương, tác giả nói:
“Văn chương là hình ảnh cái tinh thần riêng, tính chất riêng của một dân một nước, mà là hình ảnh tự nhiên hơn cả.
“Nói rằng văn chương nước Pháp có nhiều nhân đạo hơn các văn chương đời nay thì thiết tưởng chỉ xét qua văn chương các nước khác là đủ biết vậy. Như văn chương nước Nga thì thiên trọng về thần bí, văn chương nước Anh thì nhiều thi vị, văn chương nước Đức thì nhiều triết lý, văn chương nước Tây Ban Nha thì nhiều tưởng tượng hơn văn chương Pháp. Nhưng so sánh với các văn chương ấy thì văn chương Pháp có nhiều nhân đạo hơn. Các nhà làm văn Pháp chỉ tư nghị đến người ta trước nhất cả, chỉ chủ hình dung tả mạc con người ta trong tình cảnh, tâm tính, ý tứ của mỗi người. Phàm những vấn đề xét đến 1à những vấn đề quan hệ với người ta cả, hoặc thuộc về đạo lý, hoặc thuộc về xã hội. Bao giờ cũng là chú ý về đạo xử thế chung của một đoàn thể. Mà các nhà văn ấy trước thuật cũng là chỉ vị người ta, muốn trực tiếp với người ta, mà cốt nhất là cái người hiển nhiên trông thấy, chứ không phải cái người lỗi lạc đặc biệt, tức là người trung bình mà không phải người siêu việt. Vậy lời văn cốt bình thường cho người ta dễ hiểu, ý tứ cốt giản dị cho người ta thấu được. Nói rút lại thì mục đích cốt yếu của các nhà văn ấy là dạy dỗ khuyên răn người đời, truyền thụ cho người ta cái nhân đạo vậy. Bossuet ngày xưa có phê bình các thi nhân Hi Lạp mấy câu rằng: “Sách vở của các bậc ấy vừa có cái vẻ vui thú mà vừa có cái vẻ nghiêm trang. “Các ngài chỉ tán tụng những công nghiệp có ích lợi cho đời người ta, chỉ vụ việc công ích, ích cho nước nhà, ích cho xã hội, thực là có cái khí vị thuần lương vậy.” Mấy câu ấy dùng để giải nghĩa văn chương nước Pháp tưởng cũng không phải là không đúng.”
Tác giả đã giải thích tính cách chung của văn chương pháp như thế rồi, bèn cử từng thời đại, từng văn phái mà bàn cho rõ thêm ra.
Hai thời đại trứ danh nhất trong văn học sử nước Pháp là thế kỷ thứ 17 và thế kỷ thử 18. Hai thế kỷ có khác nhau mà có giống nhau. Thế kỷ thứ 17 là đời cổ điển, thế kỷ thứ 18 là đời cách mệnh. Nhà văn đời cổ điển chỉ vụ nghiên cứu tâm lý người ta. Cho người ta là một “giống rất phù phiếm, uyển chuyển, phức tạp” (être merveilleuse ment vain,onoyant et divers), nên phải xét nghiệm thật kỹ, cho tỏ tường được hết các khóe ăn ở mà tìm cách răn dạy. Vì các nhà ấy đã thông tỏ tâm lý người ta mà biết rằng người ta “tính bản ác”, nếu không kiềm chế những cái vật dục bất lương, thì xã hội không thể sinh tồn được. Bởi thế các nhà ấy lấy sự duy trì xã hội làm mục đích, vì xã hội có duy trì được, lòng người có kiềm chế được thì người ta cùng xã hội mới được an toàn. Nói rút lại thì văn chương thế kỷ thứ 17 là văn chương cảnh thế, văn chương dạy đời, chủ sự lợi ích cho xã hội nhân quần, tức là một pho tâm lý, một bài luân lý thực hành vậy.
Thế kỷ thứ 18 cũng là vụ cầu cho người đời được sung sướng. Các nhà làm văn đời cách mệnh cũng chỉ nghiên cứu một cái vấn đề về sự hạnh phúc của người ta, nhưng khác người đời trước, là đời trước lấy cái hạnh phúc ở sự kiềm chế, đời nay lấy cái hạnh phúc ở sự tự do, đời trước chủ sự duy trì, đời này trọng đường cải cách. Đời trước chủ cái thuyết “tính bản ác” đời này chủ cái thuyết “tính bản thiện”. Người đời đã tính vốn lành thì mọi sự khổ ở đời là bởi xã hội cả, xã hội đã không ra gì thì phải phá đổ xã hội đi mà hồi phục lấy cái bản tính của người ta lúc sơ sinh. Bởi thế nên các nhà văn thường công kích xã hội, mà tán tụng đời cổ sơ là cái “hoàng kim thời đại” của loài người. Như vậy thì hai cái tư trào của thế kỷ thứ 17 và thế kỷ thứ 18 thật là trái ngược nhau hẳn. Nhưng xét kỹ có lẽ tôn chỉ cũng là giống nhau. Hai thời đại tuy xét người đời ra hai phương diện khác nhau, song đều là mưu cầu cho người ta được hạnh phúc, đều là thiên trọng về nhân đạo cả.
 |
|
Phạm Quỳnh - hiệu Thượng Chi, bút danh: Hoa Đường, Hồng Nhân - là một nhà văn hóa, nhà báo, nhà văn và quan đại thần triều Nguyễn (Việt Nam). Ông là người đi tiên phong trong việc quảng bá chữ Quốc ngữ và dùng tiếng Việt - thay vì chữ Nho hay tiếng Pháp - để viết lý luận, nghiên cứu. Ông chủ trương chiến đấu bất bạo động nhưng không khoan nhượng cho chủ quyền độc lập, tự trị của Việt Nam, cho việc khôi phục quyền hành của Triều đình Huế trên cả ba kỳ (Bắc, Trung, Nam), chống lại sự bảo hộ của Pháp và kiên trì chủ trương chủ nghĩa quốc gia với thuyết Quân chủ lập hiến.
Các tác phẩm chính:
- Thượng Chi văn tập (5 tập) (Bộ Quốc gia giáo dục, Sài Gòn, 1962) - Pháp du hành trình nhật ký (NXB Hội Nhà văn - H, 2004) - Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922 - 1932 (NXB Tri thức, H,2007) - Một tháng ở Nam Kỳ - Mười ngày ở Huế - Luận giải về văn học và triết học (Nxb. Văn hoá Thông tin và Trung tâm văn hoá - ngôn ngữ Đông Tây xuất bản, H, 2003) - Hoa Đường tùy bút
>> Trang tác giả: Phạm Quỳnh
| Đã cai quát hai thế kỷ lớn trong văn học sử, lại bắt đầu từ khi mới có văn chương cho đến cận đại, lục ra những sách nào là lưu truyền hơn cả mà xét xem sở dĩ làm sao được lưu truyền như thế, thì thấy những sách ấy đều là diễn giải về nhân đạo một cách tuyệt phẩm cả. Kể từ sách “Roland anh hùng ca” (La Chanson de Roland) là áng văn chương cổ nhất của nước Pháp, đến tuồng Le Cid của Corneille, đến tập “Tư tưởng lục” (les Pensées) của Pascal, những bi kịch của Molière, sách “Vạn pháp tinh lý” (L'Es prit đes lois) của Montesquieu, cho đến thơ Lamartine, tiểu thuyết George Sand, cho đến những bài phê bình của Sainte Beuve, tuy thể văn phong phú như thế mà rút lại tôn chỉ cũng là một, là mô tả con người ta ra đủ mọi cách, trong đủ mọi cảnh: khi sướng, khi khổ, khi vui, khi buồn; lúc khônngoan, lúc khờ dại; lúc khao khát những sự vô hạn, lúc mưu toan những việc trị bình; lúc khổ vì cái ái tình uốn éo, lúc than vì thế sự ngặt nghèo…
Như vậy thì từ xưa đến nay, phàm những sách hay trong văn chương Pháp, được người đương thời cảm phục, cận thế suy tôn, chính là những sách giàu về nhân đạo cả. Văn chương Pháp có nhiều nhân đạo, vì văn chương Pháp chủ nghiên cứu về người ta, mà trọng nhất là những vấn đề quan hệ đến người ta, đến sự hạnh phúc ở nay người ta vẫn khen văn chương Pháp có ba tính cách hay đời, đường xử thế cùng vận mệnh của người ta. Thi nhân La mã đời xưa có câu thơ rằng: “Tôi là người, phàm cái gì quan hệ đến người ta không phải là không quan hệ đến tôi”. Câu thơ ấy thực là tiêu biểu cho tôn chỉ văn học Pháp.
Xưa nay người ta vẫn khen văn chương Pháp có ba tính cách hay nhất: một là phân minh, hai là giản dị, ba là thành thực. Ba tính cách ấy cũng là bởi cái tôn chỉ nhân đạo mà ra cả. Người Anh, người Đức, người Ý, coi văn chương là một món thưởng thức, dùng văn chương hoặc để diễn cái mộng riêng của mình, hoặc làm món tiêu khiển cho mình. Người Pháp làm văn vị người hơn là vị mình, cầm ngòi bút viết là muốn nói gì cho người đời nghe cả. Vậy cốt nhất là cho người ta hiểu mình. Nên phàm xướng ra tư tưởng gì, không phải cứ mộc mạc thế, gạn lọc lấy tinh hoa rồi mới diễn ra thành lời; lời văn ấy cũng không phải là cẩu thả, thật là chải chuốt trau dồi cho rất vắn tắt, rất giản dị, rất phân minh, nói lên nghe ra ngay, không phải mất công khó nhọc mới hiểu được. Bởi văn Pháp có cái đặc tính như thế nên xưa nay đã được cái danh dự dùng làm văn chính thức trong các công văn điều ước quốc tế, không phải là không xứng đáng vậy.
III
Nay xét đến triết học.
Muốn phát biểu cái đặc tính của triết học nước Pháp, không gì bằng so sánh triết học Pháp với triết học Đức. Nước Đức xưa nay vẫn tự phụ là sở trưởng về triết học. Cứ hình thức mà xét thì triết học Pháp trái hẳn với triết học Đức. Nước Đức lấy triết học làm khoa chuyên môn, chỉ một số ít người chuyên trị, học riêng với nhau, không trực tiếp với người ngoài, và không từng đem tư tưởng của mình đối chiếu với thực tế, so sánh với lẽ phải giữa đời. Bởi thế nên triết học của Đức có vẻ âm u huyền bí, khi cao thì siêu việt quá mà biến ra mây ra khói cả, khi thấp thì thô sơ thiển cận, cứng cỏi sỗ sàng.
Triết học Pháp khác hẳn. Người Pháp lấy triết học là một món phổ thông chung cho cả mọi người có học vấn, có trí thức. Phàm làm người, ai cũng có tư cách biết suy nghĩ, biết tư tưởng, vậy thì ai cũng có thể lĩnh hội phán đoán về chân lý được. Nhà triết học nghiên cứu về chân lý, sở đắc điều gì, phải đem công bố ra cho mọi người biết, không phải là để nghiền ngẫm trong một bọn chuyên môn với nhau. Bởi thế nên phần nhiều nhà triết học Pháp đều là nhà văn hay cả, vì muốn truyền bá tư tưởng của mình cho đắc lực, tất cả phải biết khéo diễn giải ra cho người ta dễ nghe và dễ hiểu. Thực là trái hẳn với nhà triết học Đức, thường dùng một lối văn kỳ khu trắc trở, ngoài bọn nhà nghề ai xem cũng phải chán. Triết học Pháp lại còn có một đặc tính nữa, là thường tiêm nhiễm cả các môn học khác. Nhà triết học thường kiêm văn học, nhà văn học cũng không mấy khi là không có tư cách triết lý. Những văn hào như Bossuet, Voltaire, La mennais, Taine, Renan có thể liệt bằng đẳng với các nhà triết học trứ danh được. Ngoại giả đến những nhà văn thuần túy như Corneille, Molière, Racine, mỗi nhà cũng có một cái “triết học” riêng, nghĩa là một cái quan niệm về vũ trụ, về nhân sinh, triết học ấy tản mạn trong khắp văn chương của mỗi nhà.
Triết học Pháp cũng tiêm nhiễm cả khoa học nữa. Lệ thường ở nước Pháp nhà triết học bao giờ cũng có cái học “cách vật trí tri” tức là kiêm cả khoa học; lắm bậc triết học đại gia lại vừa là tay lý học trứ danh nữa, như Descar tes, Pascal, Auguste Comte, Conrnot, Claude Bernard, Henri Poincaré. Khoa học triết học tiêm nhiễm nhau như thế, lợi cả hai đàng. Nhà triết học trong khi nghiên cứu về nguyên lý, lấy thực tế làm căn cứ, không sợ tư tưởng những sự hoang đường. Nhà khoa học trong khi nghiên cứu về vật chất, lấy nguyên lý làm tôn chỉ, không sợ mê man những sự phiền toái.
Một cái đặc tính nữa của triết học Pháp, là không ưa những lối độc đoán. Ngồi không mà kết cấu những “lâu đài tư tưởng”, không nương tựa vào cái gì chắc thực, không căn cứ vào cái gì vững vàng, ấy là lối các nhà triết học Đức. Nhà triết học Pháp thì chỉ chủ sự thiết thực. Không phải rằng không có tài kết cấu bằng người Đức: Descartes nước Pháp có kém gì Kant nước Đức, Auguste Comte có kém gì Hegel? Nhưng người Pháp không lấy học thuyết của mình lại tự bó buộc mình, làm như cái ngục để giam mình vào đấy, không dám vượt ra ngoài mà xét sự vật ra phương diện khác. Người Pháp ưa tự do, biết rằng chân lý có năm bảy đường tới được, đường nào cũng là chính đáng cả, không bắt ai phải theo một đường nào. Bởi thế nên triết học nước Pháp có cái tính thiết thực hơn triết học các nước khác.
Nói rút lại thì các nhà triết học Pháp kỵ nhất là những tư tưởng hoang đường, mà trọng nhất là những vấn đề thiết yếu cho người ta. Trong các lẽ huyền vi của trời đất, các nhà ấy chú trọng về tâm lý người ta. Cho rằng hễ giải được cái mối huyền vi ấy, là giải được nghĩa đời người. Thế chẳng hơn là lấy tư tưởng làm quân cờ mà đem trọi nhau trên cái bàn cờ vô hình dư? Thế chẳng hơn là lấy tư tưởng làm viên gạch mà chẳng chất lên để xây cái lâu đài trên bãi cát dư?
Tác giả nói: “Dạy cho người ta biết làm người, làm người cho hoàn toàn, châu đáo, nhàn tâm thế nào thì coi như thế, đừng quá trọng mà cũng chớ quá khinh, đừng suy tôn quá mà cũng chớ hạ nhiệt hoài; phải nhận biết cái giới hạn của nó, phải phát triển cái tiềm lực của nó; phải điều hòa sự phải trái của nó; ấy là tôn chỉ của triết học nước Pháp từ xưa đến nay, tôn chỉ ấy các nhà triết học Pháp đã truyền bá ra khắp thế giới. Trong thiên hạ còn có những lý tưởng cao siêu hơn; không đâu có cái lý tưởng, khôn ngoan, nhũn nhặn mà rộng rãi bằng?”
Nói tóm lại thì triết học Pháp cũng như văn học, cũng có tính cách thuộc vê nhân đạo vậy.
IV
Nay lại xét đến tôn giáo.
Đại để có thể nói triết học là tôn giáo của người trí thức, tôn giáo là triết học của người bình thường. Bình dân là phần số nhiều trong một nước; vậy thì tôn giáo là tiêu biểu cho cái lòng tín ngưỡng chung của một dân tộc.
Nước Pháp từ xưa đến nay vẫn lấy đạo “La mã-Thiên chúa” làm quốc giáo. Đạo Thiên chúa thật đã có một phần to trong sự gây dựng ra nước Pháp, trong sự giáo hóa người dân Pháp, mà nước Pháp, người Pháp, từ đời Trung cổ đến giờ, cũng có công to với Giáo hội, xưa đã được tiếng gọi là “con trưởng của Giáo hội”. Đạo Thiên chúa thật là có thanh khí với người Pháp, có nhân duyên với nước Pháp vậy.
Nay đạo Thiên chúa ở nước Pháp có những đặc tính gì? Về phần giáo lý, giáo thống thì cố nhiên là ở nước nào cũng vậy. Nhưng đại để cùng một đạo ở mỗi nước cũng có khác nhau nhiều. Như đạo Thiên chúa ở Ý đại lợi thì thiên trọng về phần mỹ thuật, đạo Thiên chúa ở Tây ban Nha thời thiên trọng về phần thần bí. Đến như đạo Thiên chúa ở nước Pháp thời thiên trọng về phần xã hội. Bossuet đã giải nghĩa tôn giáo là cái dây liên lạc trong xã hội, không những liên lạc người một đời với nhau, mà liên lạc cả người đời này với người đời trước, với người đời sau nữa: không những liên lạc người một nước với nhau, mà liên lạc cả người nước nọ với người nước kia, hết thảy cả người ta trong thế giới. Tôn chỉ của đạo Thiên chúa ở nước Pháp không những là muốn gây thành một đoàn thể tinh thần ở trong đoàn thể quốc gia; lại còn muốn khuếch trương đoàn thể ấy ra khắp thế giới mà dựng nên như trong kinh thánh gọi là cõi “thiên quốc” (la cité de Dieu) ở chốn nhân gian nữa. Cứ xét tổng số những nhà truyền giáo của đạo La mã Thiên chúa, ba phần đến hai phần là người Pháp, thì đủ chứng rằng tôn chỉ ấy không phải là một hư tưởng vậy.
Như thế thì Thiên chúa giáo của nước pháp là vị chung cả loài người hơn là vị riêng một nước mình. Thật là hợp với cái chủ nghĩa “cứu thế” của đạo.
Nói rút lại thì đạo Thiên chúa giáo của nước Pháp có mấy đặc tính khác đạo Thiên chúa các nước, mà tiêu biểu cho tinh thần riêng của nước Pháp. Tác giả giải thích như sau này:
“Thiên chúa giáo của nước Pháp bao giờ cũng chú trọng một điều, là tăng cái giá trị về “phần hồn” tăng cái phẩm cách của người ta. Nên chuộng về phần công nghiệp hơn là phần quan niệm, mà lại chuộng cái công nghiệp có ích cho xã hội hơn là sự tu hành riêng của từng người. Đến việc tu hành nữa cũng không phải là tu hành lấy một mình, bao giờ cũng chủ lấy ích lợi cho nhân quần. Bởi thế nên các nhà tôn giáo nước Pháp không hứng những sự biện nạn huyền bí về thần học, những sự khảo cứu tỉ mỉ về thánh thư, những cách lễ bái phiền phức mà cầu kỳ như nhà tôn giáo các nước khác. Nhà tôn giáo nước Pháp theo lẽ phải thông thường mà vụ những điều cốt yếu, lòng tín ngưỡng bình dị mà không tần phiền; rất am hiểu tâm lý nhân tình; nhiệt thành muốn truyền cái lòng tin của mình cho người khác; nhất là khao khát tấm lòng bác ái từ bi.”
Gồm bấy nhiêu đặc tính, họ chẳng phải là giàu về nhân đạo dư?
V
Sau nữa xét về Lịch sử.
Một nước có văn chương, triết học, tôn giáo hay cũng chưa đủ; phải có lịch sử hiển hách mới biểu dương được những cái hay đó.
Lịch sử nước Pháp thật là xứng đáng với văn chương, triết học, tôn giáo nước Pháp.
Nước Pháp lập quốc sớm, sớm đã tự nhiệm cái thiên chức một nước lớn. Từ đời Trung cổ, cuộc thống nhất trong nước đã tiệm thành, tuy chưa được hoàn toàn, nhưng đã có cơ sở. Gây được cuộc nhất thống ấy, phải nhiều phen chiến việc nghĩa, biết điều tranh. Nước Pháp ngày xưa đã có tiếng là nước thượng võ, đã từng biết đủ các lối chiến tranh: chiến tranh để giữ nước, chiến tranh để lấy đất, chiến tranh vì cái thế quân bình, chiến tranh vì cái sức bành trướng, chiến tranh để đồ bá quyền, chiến tranh để đi truyền bá. Nhưng đại để các lối chiến tranh ấy đều chủ một mục đích; là làm cho vững bền vận nước cả. Nhân làm vững bền vận nước, mà giữ được quân bình Âu châu. Vì chính sách của nước Pháp xưa nay vẫn là cầm giữ ngăn ngừa những nước lớn khác không được xâm phạm đến bờ cõi, đến quyền độc lập các nước nhỏ, để chiếm lấy phần hơn trong lục địa Âu châu. Chính sách ấy vẫn chủ lấy nước nọ hạn chế nước kia, khiến cho thế lực các nước ngang nhau, mỗi nước được tự do mà phát triển văn minh quốc túy, theo đuổi tiền đồ vận mệnh của mình. Bởi thế nên khi nào có một nước hay một vua hùng cường khởi lên, muốn xâm đoạt nước khác để cướp lấy thế lực to hơn, thì Pháp cũng can thiệp vào đánh, cố giữ lấy cái thế quân bình cho Âu châu. Xem như mấy phen Pháp giao chiến với nhà vua Tây ban nha cùng nhà vua Áo đại lợi thì đủ biết. Chắc rằng trong những trận ấy, Pháp cũng có cái lợi riêng của mình; nhưng bao giờ lợi riêng ấy cũng hòa hợp với cái lợi chung của Âu châu, nên hồi nào Pháp đắc thắng là hồi ấy Âu châu hòa bình. Pháp không những giữ cho các nước được tự do độc lập, lại còn đem tiền đem người đi giúp nhiều nước khôi phục lại quyền tự do độc lập đã bị mất. Mỹ được độc lập là nhờ có Pháp cứu viện. Ý được thống nhất là bởi công người Pháp nhiều. Hi Lạp thoát ly được quyền chuyên chế Thổ nhĩ kỳ, chẳng phải là may mà được người Pháp can thiệp giúp ư? Pháp có công với vạn quốc như thế, là bởi Pháp có tài điều hòa quyền lợi riêng của mình với quyền lợi chung cả Âu châu hoặc cả thế giới. Cũng vì thế mà Pháp được hơn các nước khác có cái tư cách biết quên mình vị người, hay cổ võ những việc nghĩa cử, nhiệt thành với công lý công nghĩa.
Hoặc có người chê Pháp đi viễn chinh để lấy thuộc địa là trái với chủ nghĩa nhân đạo. Nói thế là không hiểu cái tình thế một nước lớn trong thế giới đời nay. Pháp đi lấy thuộc địa cũng là bởi cái địa vị trên trường quốc tế, bắt buộc như thế. Các cường quốc đều có thuộc địa mà mình không, là đành chịu phần thua phần thiệt, mà không giữ được thế quân bình trong liệt cường. Vả sự đi lấy thuộc địa cũng có nhiều cách. Lấy đất của người ta mà nô lệ bác tước người ta, là phi nhân đạo. Lấy đất của người ta mà ra công dìu dắt cho người ta bước mau trên đường tiến hóa, vị tất đã là việc phi nghĩa. Pháp lấy thuộc địa, dù là Algérie, Tunisie, Magascar, Maroc, Tây Phi Châu hay đất Ấn Độ, China này nữa, đều tuyên bố lấy khai hóa làm chủ nghĩa, hiệp tác làm phương châm. Thế thì cũng không phải là xa với nhân đạo vậy.
Suốt lịch sử nước Pháp chứng rõ rằng nước ấy từ xa đến nay vẫn biết ham chuộng việc nghĩa, biết điều hòa cái nghĩa riêng của mình với nghĩa chung của văn minh thiên hạ. Hồi giặc Hung nô xâm nhập Âu châu, bấy giờ nước Pháp chửa thành nước Pháp mà đã ngăn ngừa được quân giặc, khiến cho văn minh Âu châu khỏi phải tiêu diệt vì quân mọi rợ. Lại hai thế kỷ sau, giặc Hồi tiến sang nam bộ Âu châu, Pháp cũng phá tan được ở đồng bằng Pottiers’ cứa được đạo Thiên chúa khỏi cái nạn dị đoan.
Lịch sử nước Pháp vẫn có một cái tính cách khoát đạt, thường ba cập ra ngoài, chứ không khu khu trong giới hạn một nước. Không những khi đối ngoại mới có tính cách ấy; ngay trong phạm vi quốc gia cũng vậy. Tựa hồ như nước Pháp có cái sức phản chiếu ra ngoài rất mạnh, nhất cử nhất động, dẫu chỉ quan hệ đến một mình, cũng có ảnh hưởng ra ngoài, người ngoài lấy đấy làm gương, theo đó bắt chước. Cứ xét một cuộc Đại cách mệnh năm 1789 thì đủ biết ảnh hưởng ấy sâu xa là dường nào. Cách mệnh ấy chẳng qua là khuynh đảo chính thể quân chủ cũ mà đặt chính thể dân chủ mới, tưởng cũng là một cuộc nội biến thường, không có quan hệ gì đến thế giới. Cớ sao mà mới nổi lên đã kích động cả toàn Âu? Chẳng phải là bởi cuộc cách mệnh ấy tuy vị nghĩa riêng một nước mà hàm cả nghĩa chung nhân loại dư? Sau khi phá được ngục Bastille, ngày 2 tháng 8 năm 1789, hội “Lập hiến” (La Constiluante) bá cáo tờ “nhân quyền tuyên ngôn”, xướng lên rằng phàm làm người ai cũng được tự do bình đẳng cả. Lời tuyên ngôn ấy nói chung cả nhân loại, không phải riêng một dân Pháp. Bởi cái tính cách đại đồng phổ cập ấy mà cuộc Cách mệnh năm 1789 có ảnh hưởng sâu xa như vậy.
Vậy thì lịch sử nước Pháp cũng như văn chương, triết học, tôn giáo, cũng hàm có ý nghĩa về nhân đạo vậy.
Nói tóm tắt một câu thì nhân đạo là đặc tính hiển nhiên, có thể gọi được là “linh tính” của cả văn minh học thuật nước Pháp. Suy diễn ra cũng một đặc tính ấy, qui nạp lại cũng một đặc tính ấy.
Tác giả đã suy diễn cái lý tưởng nhân đạo ấy trong suốt một bài đại luận, lời lẽ nghiêm trang như cái lâu đài cổ Hi Lạp, tình tứ cảm động như bộ tiểu thuyết mới thời nay, bèn qui nạp lại mấy câu kết luận như sau này:
“Trách nhiệm của nước Pháp, thiên chức của nước Pháp là phải xét mọi sự mọi vật theo về phương diện nhân đạo. Bởi đó mà văn chương, triết học, tôn giáo, lịch sử, đều có cái sức cảm động rất mạnh. Nước Pháp đã đem cái lòng ham nhân đạo đến cực điểm đến bậc nguy hiểm cho mình. Bình sinh đã từng lắm phen phải lừa phải hại vì cái lòng ham nhân đạo ấy. Nhưng mà cái dại ấy là cái dại vẻ vang, vì dại là dại không biết ghen ghét ai, không biết ngờ vực ai, dại là mau quên những bước từng trải gian nan, những sự đố kỵ thâm trầm, những kẻ tham lam quá độ. Nước Pháp không thể tin được rằng muôn việc trong thiên hạ chỉ dùng võ lực, cái võ lực kiêu căng tàn ngược, mà giải quyết được. Nước Pháp không bao giờ chịu rằng cái mục đích cứu cánh của sự học là chỉ để nghĩ thêm cho người ta những cách trong tương tàn tương hại lẫn nhau. Một văn sĩ cổ nước Pháp, Ra belais, đã từng nói câu tuyệt ngôn này: “Học vấn không có lương tâm chỉ là tai hại tâm tính” (Science sans conscience n'est que rui de l'âme). Nước Pháp không thể tưởng tượng được rằng một dân tộc hay một văn minh nào, lại có quyền đạp đổ nhưng dân tộc cùng văn minh khác. Lý tưởng của nước Pháp không phải là cái lý tưởng muốn biến cả sự tư tưởng sinh hoạt của người ta thành cái máy vô hồn cứng cỏi, thực là lý tưởng muốn để cho tinh thần riêng của mỗi dân tộc được tự do mà phát triển cho điều hòa. Một thế giới chỉ thấy thịnh hành cái võ lực của bọn quân nhân, cái phiền toái của bọn học giả, cái kiêu căng của phái quan lại, chỉ thấy thiên trọng những vẻ cục cằn thô lỗ, nhưng thói hung hãn bạo tàn, một thế giới như thế, nước Pháp cho là nơi địa ngục cực kỳ khả ố. Kẻ khác gọi là “văn hóa” (la culture), nước Pháp cho thế là “dã man”. Dã man càng có học càng thậm tệ. Đối với cái văn hóa giả đó thì văn minh của Pháp thật là trái ngược hẳn. Văn minh pháp là tự do, là diễm lệ, là điển nhã, là điều hòa, là mầu nhiệm là tiêm tất, là khoan dung đại độ, là bác ái nhân từ; nói tắt một câu, là gồm trong hai chữ “nhân đạo” vậy. Trong thiên hạ ví không có văn minh Pháp, thì sẽ thiếu mất cái mầu mẽ phong nhã cao thượng vậy.
(1917)
(1) Ông là một nhà “phê bình” có tiếng ở nước Pháp. Nguyên dạy văn chương Pháp ở trường Đại học Fribourg, nước Thụy Sĩ. Ông làm bài luận về văn minh nước Pháp này, đã từng được hội Hàn lâm ban “phần thưởng hùng biện” (prix d’éloquence) năm 1916. Nguồn:
Thượng Chi văn tập - Bộ Quốc gia Giáo dục (1962) Số lượt đọc:
298
-
Cập nhật lần cuối:
06/07/2009 03:55:13 PM
Trao đổi/Nhận xét | Tổng số:
1 |
Nền văn minh "bác học" Người ta thường cho rằng văn minh văn hoá của một quốc gia thể hiện tinh thần con người hơn nữa qua những tác phẩm văn chương ấy ta cũng thể hiện được tâm hồn của họ. Một tác phẩm thật sự mang tinh thần nhân đạo không cần phô bày ra ngưòi ta cũng có thể hiểu được những giá trị sâu sắc đó dẫu có trăm ngàn lớp bụi che mờ đi chăng nữa. Thế nhưng có lẽ tác giả có phần quá khích khi ca ngợi về một đất nước văn minh Đại Pháp thì phải.
Ở đây tôi không phủ nhận bất kì một giá trị tốt đẹp nào đúng với nghĩa nhân bản của nó nhưng hãy ca ngợi nó một cách trân thành và thật tâm. Cao thượng là gì? Những gì mà dân ta đã nhận được là nhờ những con người cao thượng có tấm lòng cao thượng lôi dân ta ra khỏi vòng ngu muội đó ư?!!!
Ý kiến của bạn về bài viết: |  |
Thông tin liên quan: Vì sao Phạm Quỳnh đặt tên báo là Nam Phong và thường dùng bút hiệu Thượng Chi?20/01/2010 03:12' PM Ngay trong số 1 ra tháng 7 năm 1917 của Nam Phong Văn học-Khoa học tạp chí, Phạm Quỳnh đã viết Mấy nhời nói đầu giới thiệu nội dung tạp chí mới xuất bản. Cuối phần I, ông cảm xúc thốt lên lời cảm thán: “Ôi! trong sách có câu: Gió phương nam ấm áp, khá lấy giải được cái lòng hờn giận của dân ta! (Chúng tôi nhấn mạnh – PT) Ước gì bản báo cũng khiến được các bạn đọc báo có cái cảm giác như cái cảm giác gió Nam Phong! Bởi thế, đặt tên báo.” Đông Á, Tây Âu hai văn minh có thể dung hòa được không?13/01/2010 09:20' AM Song sự dung hòa ấy có thể làm được không?- Người mình có thể kén chọn trong hai văn minh cái gì hay thì lấy, cái gì dở thì bỏ, để bắt chước lấy những phương thuật khéo, máy móc tài của Thái Tây, mà vẫn giữ được cái tinh thần cũ, luân lí xưa của nòi giống? Bàn về diễn thuyết08/01/2010 09:14' AM Đại để ba lối đó không phải cách biệt nhau, trong một bài có thể gồm cả ba lối được, phải tùy nghi mà tham dụng, cốt là cho hợp với ý hợp với cảnh vậy. Muốn sống...15/12/2009 04:07' PM Tên đại bợm giết người lấy của, chĩa súng sáu vào người ta, nói: “Muốn sống thì đưa tiền đây!”; một trăm người đến chín-mươi-chín-người đành mất tiền cho khỏi chết. “Sinh-mệnh” với “hà-bao”, dầu người ta không ai là không thiết tha cái hà-bao đựng tiền, nhưng ai ai cũng còn trọng cái sinh-mệnh ở đời hơn Chuyện một đêm một ngày15/12/2009 03:00' PM Bấy giờ vào khoảng 9 giờ tối. Dùng cơm tối xong, tôi đương ngồi trong tư thất Bộ Lại, nói chuyện với con trai thứ tôi là Phạm Bích. Bấy giờ nghe tiếng súng nổ lung tung. Ra sân thì trông thấy đèn chiếu lấp loáng ở bên kia sông, và tiếng nổ là tiếng súng liên thanh như tiếng pháo, khi ở phía trên khi ở phía dưới. Tư tưởng Keyserling28/11/2009 07:42' AM Xét đời người phải xét đến sự sống, vì đời người là cái khoảng người ta sống trên mặt đất. Nhưng người ta cũng là một giống trong muôn vàn giống sinh vật khác; xét sự sống của người ta là xét sự sống của hết thảy các sinh vật trên mặt đất. Văn học nước Pháp10/11/2009 06:41' AM Ông không nói hết câu, nhưng nghe cũng hiểu ý ông rằng: “Văn chương "chữ ta" hay lắm, nhưng mà những phường học chữ Tây như các bác không thể hiểu được, và chữ Tây của các bác dẫu có văn chương cũng chẳng đời nào bằng”. Bàn phiếm về văn hóa Đông Tây25/10/2009 08:25' AM Từ ngày Đông phương và Tây phương giao tiếp nhau thân mật đến cảm hóa lẫn nhau về đường tinh thần, đường tri thức, những bậc đại trí trong thiên hạ để ý nghiên cứu về vấn đề ấy cũng đã nhiều. Nhưng vì cái phạm vi nó to rộng quá, nên chửa ai xem được khắp và xét đến cùng. Đem Đông phương và Tây phương đối nhau, tựa hồ như hai cái khối hồn nhiên đem ra so sánh. Kì thực có giản dị như thế đâu, Đông phương với Tây phương chẳng qua là hai cái tên chung bao gồm biết bao nhiêu dân tộc khác, bao nhiêu văn hóa khác nhau. Văn minh luận21/10/2009 09:49' AM Văn minh là đối với dã man. Chữ “văn minh” là một chữ mới. Tuy trong kinh Dịch đã có câu, nhưng dùng theo nghĩa mới để dịch chữ Tây civilisation thời mới bắt đầu tự người Nhật Bản. Người Nhật dùng trước (đọc là bunmei), người Tàu theo sau, rồi người ta bắt chước, ngày nay thành một chữ rất thông dụng. Cụ Quỳnh khóc cụ Vĩnh06/10/2009 03:34' PM Nguyễn Văn Vĩnh chủ bút Đông Dương tạp chí – Phạm Quỳnh chủ bút Nam Phong tạp chí. Cuộc đời hai Cụ mỗi người một vẻ, nhưng số phận lại có chỗ na ná nhau, với người đời, kẻ đặt lên cao, người hạ xuống thấp. Có điều là thời gian xem ra đang ủng hộ hai Cụ. Chẳng biết, sinh thời, hai cụ gắn bó với nhau tới đâu, nhưng cứ vào bài thơ Cụ Quỳnh khóc Cụ Vĩnh năm 1936 thì tình bạn của hai cụ chắc là thắm thiết lắm. Văn học, chính trị16/09/2009 09:47' AM Hai phạm vi văn học và chính trị, tuy có thể đắp đổi cho nhau, nhưng thực là cách biệt nhau hẳn. Có thể đắp đổi cho nhau là nhà chính trị mà có văn học thời được sắc sảo thêm ra, như trên đã nói, và nhà văn học mà làm chính trị thời cũng có lẽ được giàu thêm sự kinh nghiệm ra, tăng thêm được tài liệu cho sự nghiệp văn chương của mình. Nhưng mà vốn là hai phạm vi cách biệt nhau, vì khuynh hướng về hai mục đích khác nhau. Phạm Quỳnh - Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-193208/08/2009 06:52' AM Cái văn bản Phạm Quỳnh mấy chục năm qua đã thoát hình hài trần thế để được thoả sức yêu cái đẹp thiên giới, nơi đó không còn triết học và thực dụng, không còn lo âu và toan tính, không còn ảo tượng và vỡ mộng. Văn bản đó sẽ để lại trong lòng người những tác phẩm như thế nào đây? Điều đó hoàn toàn là của riêng bạn đọc. Mấy lời giới thiệu phiến diện này cũng chỉ là một trong vô vàn tác phẩm mà thôi. Phạm Quỳnh: Ngọn gió Nam15/07/2009 02:09' PM Nam Phong (1917-1934) là một trong những tạp chí có công rất lớn trong việc cổ động cho văn học quốc ngữ, cho nền quốc học Việt Nam. Đặc biệt cho việc xây dựng một nền văn hóa Việt Nam trên cơ sở kết hợp, dung hòa hai nền văn chương, học thuật, tư tưởng Đông – Tây. Các biên tập viên giữ các chuyên mục của tạp chí đều là những cây bút vững vàng, sắc sảo, nhạy bén với những vấn đề văn hóa, trong đó phải kể đến ông chủ bút là Phạm Quỳnh. Descartes, tổ triết học nước Pháp07/07/2009 08:28' AM Trong khi ta tư tưởng một sự gì, trí tuệ ta phải nghiền ngẫm cứu xét về sự ấy. Trí tuệ ta không phải là thường siêng năng sáng suốt, lại hay trễ nải biếng nhác và bị che lấp mờ ám. Vậy lắm khi chưa cứu xét tư tưởng ấy đến nơi đến chốn đã trình bày cho ta phán đoán. Nếu ta cũng lười biếng cẩu thả, nếu lòng ta lại thiên lệch nữa, thì phán đoán tất sai lầm, không khỏi được. Người đời thường lầm lẫn sai ngoa, đến điên đảo hắc bạch, lắm khi bởi ý chí nhu nhược, hơn là bởi trí tuệ hôn mê... Phạm Quỳnh và quá trình tiếp nhận văn hóa phương Tây ở Việt Nam đầu thế kỷ XX29/06/2009 09:34' PM Khi một người có hoạt động thực sự trên lĩnh vực văn hoá, trở thành có đóng góp về văn hoá, người đó nhất thiết phải có tình cảm tốt đẹp và sâu sắc với dân tộc, với đất nước. Ấy là niềm tin đến với chúng tôi khi lần giở lại Nam Phong. Nó cũng là nhân tố giúp chúng tôi yên tâm khi tìm hiểu những đóng góp của Phạm Quỳnh trong sự tiếp nhận văn hoá phương Tây và góp phần hình thành nền văn hoá mới của dân tộc trong thời hiện đại. Phạm Quỳnh 29/06/2009 04:09' PM Triết học nước Pháp15/06/2009 02:24' PM Cái tính hiếu triết học đó thực là tiêu biểu cho tính tình cao thượng của người Pháp, chỉ ưa những nghĩa lý công minh chính đại ở đời. Như vậy thì hồn nước Pháp với hồn triết học tất có thanh khí với nhau, không phải không. Một nhà khoa học nước Pháp: Marcelin Berthelot09/06/2009 10:45' AM Khoa học ngày một tấn tới, từ một trăm năm trở lại đây đã biến cải hẳn mặt địa cầu. Ta đứng xa mà trông những cảnh tượng kỳ kỳ quái quái, hằng ngày xuất hiện ra trước mắt ta, vừa kinh hãi, vừa cảm phục, không ngờ một khối óc mềm của con người mà làm nên những sự kinh thiên động địa như thế. Tuy ngày nay không tin thần thánh như xưa, không cho các công cuộc kỳ diệu ấy là bởi tay những bậc “siêu nhân” làm ra, nhưng lại đặt ra một vị thần mới, vô hình, vô ảnh, gọi là thần Khoa Học. Thơ Baudelaire03/06/2009 02:11' PM Thơ có hai phần: một là âm điệu, hai là tình tứ. Âm điệu là phần hình thức, tình tứ là phần tinh thần. Âm điệu tức là cách dùng chữ xếp vần, cho có âm hưởng tiết tấu để đọc cho êm tai vui miệng. Tiếng mỗi nước một khác thì âm điệu cũng không giống nhau, nên thi luật của nước nào là riêng cho nước ấy, không thể chuyển dịch sang tiếng nước khác được. Simone de Beauvoir17/03/2009 03:59' PM Ngày 14 tháng 4 năm 1986, một người đàn bà từ giã cõi đời. Trong tang lễ của bà, người đàn ông từng có một thời yêu bà đã nói một câu có sức lan truyền sâu rộng tức thì: “Phụ nữ, các bà nợ bà ấy mọi thứ.” Hai mươi năm sau, ngày 13 tháng 7 năm 2006, chiếc cầu thứ 37 bắc qua sông Seine ở thủ đô Paris của nước Pháp, dành riêng cho người đi bộ, được khánh thành và mang tên người đàn bà đó: Simone de Beauvoir. Nước Pháp đã vinh danh người đàn bà Pháp vĩ đại nhất thế kỷ 20, và phụ nữ toàn thế giới lấy làm tự hào: Bà là người mẹ của phong trào phụ nữ hiện đại, tác giả quyển sách được coi là Kinh Thánh của phụ nữ: “Đệ nhị giới.” Cây tre thần08/03/2010 08:32' AM Thời Bắc thuộc, sau khi bị tước đoạt hết các tài sản tinh thần bằng văn bản, trong đó có cả Kinh Dịch, người Việt ta có cách lưu giữ lại bằng hiện vật (ví dụ trống đồng), phong tục lối sống, truyện cổ tích và dân ca tục ngữ. Quẻ Thuỷ Trạch Tiết là một ví dụ sống động. Lại bình về giá trị chất xám06/03/2010 09:54' AM Có lúc nào đó ta quen nghĩ hoặc bị ép nghĩ: Cuộc sống cách mạng không còn cái bi, chỉ có cái hùng, dẫu cuộc chiến đấu của dân tộc đầy những hy sinh, những khổ đau... Ta đã quên ý Mác: ngay sự ngu dốt cũng gây nhiều bi kịch. Mà sự dốt nát thì đâu phải là chuyện con người có thể thanh toán một lần là xong. Đó là chuyện đồng hành cùng nhân loại, để cho con người đi từ chỗ nhiều đến ít dần đi sự ngu dốt, ít dần đi chứ không bao giờ hết. Những điều cần phải biết trên hành trang đời người05/03/2010 09:02' AM Trên đường đời, ta có biết và biết đúng những kiến thức cần phải biết, ta mới có cơ sở để làm, làm đúng và làm tốt những việc cần phải làm. Có như vậy ta mới có cơ sở để tránh xa ba cái ngu dốt ở đời và tiệm cận với con người thật sự khôn ngoan. Trong các điều kiện cần phải biết, có điều chỉ cần học một câu cũng tạm đủ, có điều phải học cả chục năm. Bể học không bờ, siêng năng là bến, có học mới nên khôn, mới nên NGƯỜI. Dân chủ và dân trí03/03/2010 12:41' PM Ngày nay, hai từ "dân chủ" đang được nhắc đến nhiều trong xã hội. Không ít người nghĩ dân chủ là sự thoải mái đóng góp ý kiến, bàn bạc của bất kỳ người dân nào. Trí tuệ của tập thể, của cộng đồng là cần thiết song nói như Lênin: "Chân lý không phải bao giờ cũng thuộc về số đông". Không thể có dân chủ đứng một mình mà đi kèm theo nó phải là dân trí để thành một đôi chân bước trên đường dài, vượt qua những khó khăn, cản trở phía trước. Chủ nghĩa xã hội trên nền tảng dân chủ26/02/2010 04:20' PM Hơn 50 năm nay, cụm từ “chủ nghĩa xã hội” đã trở nên quen thuộc với đông đảo nhân dân ta. Trong quá trình đổi mới và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhận thức về chủ nghĩa xã hội đã có những thay đổi quan trọng, song chưa phải mọi vấn đề đã được giải đáp rõ ràng, phù hợp với cuộc sống thực tế. Minh triết Tam Giáo trong văn hóa Việt23/02/2010 04:07' PM Thời nào cũng vậy, nội lực mạnh mẽ trong đời sống tinh thần và hoạt động xã hội, tinh thần tự xét mình và tự giác cao, bản lĩnh độc lập và tinh thần cầu thị trong sự xem xét và phán xét riêng, coi trọng dư luận của quần chúng nhưng không bị ràng buộc bởi bất cứ dư luận nào..., những đức tính này thường là được thiên hạ quý trọng, ở đâu cũng vậy thôi, là người hẳn hoi không thể thiếu những đức tính nói trên. 12 con giáp gốc Việt13/02/2010 10:32' AM Xưa nay như người ta vẫn lầm lẫn nhầm tưởng rằng 12 con giáp có xuất xứ từ Trung Hoa. Tuy nhiên, mới đây trong một công trình nghiên cứu về ngôn ngữ Việt cổ- nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Nguyễn Cung Thông phát hiện ra nguồn gốc 12 con giáp có xuất xứ từ Việt Nam. Hãy suy nghĩ như một triết gia và làm như một người thợ06/01/2010 09:28' AM Anh Giản Tư Trung - Hiệu trưởng Trường Doanh nhân PACE - người đang tâm huyết và mải mê với các dự án giáo dục của mình, cùng hy vọng nâng cao doanh trí và dân trí, đã có cuộc trò chuyện với SVVN về cách đào tạo hiện nay ở các trường ĐH ở VN. Bài khác: Quan niệm của Hêghen về xã hội công dân26/06/2009 10:00' AM Trong bài viết này, tác giả đã phân tích một cách khái quát quan niệm của G.V.Ph.Hêghen về xã hội công dân (xã hội dân sự), về các mối quan hệ kinh tế của xã hội công dân cũng như cơ cấu đẳng cấp và biện chứng của xã hội công dân. Theo tác giả, Hêghen đã đứng trên cơ sở của chủ nghĩa duy tâm khách quan, thần bí để xem xét mối quan hệ giữa xã hội công dân và nhà nước, coi nhà nước là cái có trước, là cơ sở và động lực của xã hội công dân. Vì vậy, có thể nói, quan niệm của Hêghen về xã hội công dân nói riêng và triết học của ông nói chung có tính chất mâu thuẫn. Chủ nghĩa tự do: Quá trình phát triển và ảnh hưởng của nó đối với thế giới hiện đại25/06/2009 04:58' PM Chủ nghĩa tự do (CNTD) - hệ tư tưởng chính trị, triết học, đạo đức, là át chủ bài của giai cấp tư sản trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa xã hội (CNXH). CNTD tuyệt đối hóa tự do cá nhân, phủ nhận vai trò của cộng đồng xã hội và sự can thiệp của nhà nước, do đó là hệ tư tưởng đối lập với chủ nghĩa xã hội. CNTD tuy có vai trò tích cực nhất định trong sự phát triển kinh tế, xã hội ở các nước tư bản, nhưng những hậu quả tiêu cực của nó cũng không nhỏ. Tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ về dân sinh và xây dựng xã hội hài hòa24/06/2009 02:25' PM Trong bài viết này, tác giả đã góp phần làm rõ hơn thêm những nội dung cơ bản trong các tư tưởng quan trọng của Nguyễn Trường Tộ về dân sinh và xây dựng xã hội hài hòa. Điều đáng chú ý ở Nguyễn Trường Tộ là, ông không những đưa ra những nội dung cụ thể, rõ ràng về dân sinh mà những tư tưởng sâu sắc về xã hội hài hòa cũng như phương pháp để thực hiện xã hội lý tưởng. Theo tác giả, tư tưởng về dân sinh và xã hội của Nguyễn Trường Tộ đầy sức sống, có giá trị gợi mở đối với việc xây dựng một đường lối phát triển kinh tế- xã hội phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể của nước ta hiện nay. Phật - Nho - Lão22/06/2009 02:44' PM Nếu xem văn hóa là một công cụ phát triển kinh tế, thì tích Kim đa văn hóa sẽ là công cụ cho phép chúng ta hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới. Điều kiện để sáng tạo đa văn hóa là chúng ta phải sáng tạo ra các sản phẩm mang bản sắc Việt mà vẫn có các nét quyến rũ của một nền văn hóa khác. Quản lý tri thức có nghĩa là quản lý bản thân20/06/2009 12:38' PM Ngày nay chúng ta nói về những trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Tôi hy vọng chúng ta sẽ sớm nói về tổ chức phi lợi nhuận như cơ hội xã hội lớn đối với doanh nghiệp. Đấy là cơ hội cho doanh nghiệp để phát triển các nhà quản lý hữu hiệu hơn bất cứ công ty hay đại học nào có thể phát triển. Đấy là một trong những lợi ích đơn nhất mà khu vực xã hội có thể chào mời – để cung cấp một chỗ nơi người lao động tri thức có thể thực sự khám phá ra mình là ai và có thể thực sự quản lý bản thân mình. Năng lực sáng tạo: Làm sao để có16/06/2009 04:53' PM Năng lực sáng tạo là vấn đề hưng vong của quốc gia, đất nước, nó cũng là vấn đề thành bại của mỗi tổ chức, doanh nghiệp; và cũng là vấn đề sống còn của mỗi cá nhân. Lợi ích chung và lợi ích riêng hòa hợp một cách hữu cơ trong cùng một nhiệm vụ là làm sao để nâng cao được năng lực sáng tạo chung đó? Triết học nước Pháp15/06/2009 02:24' PM Cái tính hiếu triết học đó thực là tiêu biểu cho tính tình cao thượng của người Pháp, chỉ ưa những nghĩa lý công minh chính đại ở đời. Như vậy thì hồn nước Pháp với hồn triết học tất có thanh khí với nhau, không phải không. Triết học và lịch sử12/06/2009 09:20' AM Bài giảng của giáo sư Hồ Ngọc Đại tại trường viết văn Nguyễn Du. Giáo sư đầu bạc trắng, áo trắng, quần trắng, giọng nói sang sảng, giọng điệu hài hước và thẳng thừng. |