Chỉ mới cách đây không lâu lắm, nói đến lịch sử là người ta chỉ biết đến lịch sử xã hội, lịch sử của con người, chứ chẳng ai buồn đả động gì đến lịch sử của tự nhiên. Bởi vì người ta, cho rằng tự nhiên làm gì có lịch sử, chẳng phải quan niệm quá quen thuộc rằng "dưới ánh mặt trời không có cái gì mới" đã làm cho người ta không thể nghĩ gì khác hơn ngoài điều đó. Nhưng rồi thiên hạ lại bắt đầu, nói đúng hơn là tiếp tục bàn về tự nhiên, nhưng là tự nhiên động, tự nhiên có lịch sử cũng như con người có lịch sử vậy.
Lịch sử tự nhiên đương nhiên là khác với lịch sử của con người. Lịch sử tự nhiên chẳng cần gì đến sự có mặt hay không có mặt của con người, nhưng lịch sử con người thì chẳng bao giờ có thể thiếu vắng tự nhiên được. Con người cũng là một loài như bao nhiêu loài khác trên đất. Bản thân con người cũng chính là tự nhiên và tự nhiên cũng là "thân thể vô cơ” của con người (Mác, Hệ tư tưởng Đức). Xã hội chẳng qua cũng chỉ là biểu hiện đặc thù của tự nhiên. Xét về bản thể luận thì con người là tính thứ hai (thực ra đó cũng chỉ là tương đối), còn xét về nhận thức luận hay thực tiễn luận thì con người là tính thứ nhất. Tuy nhiên, cho dầu như thế nào đi nữa thì một nửa không thể chia cắt của con người vẫn là tự nhiên. Cơn người mai sau dẫu có văn minh đến đâu đi nữa cũng không thể sống ngoài vũ trụ được .
Thông thường, đối tượng nhận thức càng xa bao nhiêu càng khó bấy nhiêu, nhưng khó nhất có lẽ không phải ở xa nhất mà ở gần nhất, ở ngay tại chính bản thân mình. Ai dám bảo rằng nhận thức quan hệ giữa một nửa là tự nhiên và một nửa là xã hội của con người là dễ? Cái hay của những nhà tư tưởng lừng danh của Pháp ở thế kỷ XVIII, thế kỷ mà người ta gọi là thế kỷ của nước Pháp, là đã "đòi" lại con người từ bàn tay của thượng đế để trả về cho con người tự nhiên. Con người là do hoàn cảnh và do giáo dục tạo ra chứ không cần đến sự ban phát nào của Thượng đế cả. Như vậy có nghĩa là đứng trước thượng đế thì họ cần đến hoàn cảnh tự nhiên, còn đứng trước con người thì họ lại "quên" mất tính năng động, tính thứ nhất của chính con người. Cho nên Mác mới nhắc họ để họ khỏi "quên rằng cần phải có những con người để làm thay đổi hoàn cảnh và bản thân nhà giáo dục cũng cần được giáo dục (Luận cương Feuerbach, III).
So với các nhà tư tưởng nói trên, J.J.Rousseau có lẽ là một người Pháp "yêu” tự nhiên hơn ai hết. Thậm chí người ta còn cho rằng ông đã khuyên con người hãy tránh xa cái xã hội, hãy "chạy trốn vào tự nhiên". Voltaire còn mỉa mai rằng Rousseau muốn quay ngược bánh xe lịch sử trở về với thời kỳ con người còn đi bốn chân. Ấy vậy mà lý luận của Rousseau lại là cơ sở cho cuộc cách mạng xã hội ở phương Tây. Văn nghệ Phục hưng thế kỷ XV là thời kỳ mà cái "tự nhiên" bị cái “siêu nhiên" đè bẹp suốt nghìn năm, bổng chuyển mình đứng dậy, đã tạo ra trang sử mới chưa từng có của nhân loại, trang sử "chiến thắng" của cái tự nhiên. Nhưng "chiến thắng cũng là chiến bại" (Hérachte), chiến thắng của dục vọng tự nhiên "bên trong” mở đường cho khoa học kỹ thuật càng ngày càng lao vào phá hoại tự nhiên "bên ngoài" để rồi không biết lịch sử sẽ kết thúc ở đâu, để rồi "nhận thức biến nó thành một tấm gương phản chiếu vũ trụ, kỹ thuật biến nó thành một kẻ sáng tạo ngạo mạn và sự điên rồ" biến nó thành “một sinh vật đau khổ và cô đơn” (André Bourglngnon, Con người không thể đoán trước).
Tuy rằng tính hai mặt của nó càng ngày càng bộc lộ, nhưng công lao trả con người về với tự nhiên của nó vẫn là công lao bất diệt, một cột mốc chưa từng có của nhân loại. Cho nên không phải ngẫu nhiên mà Hồ Chí Minh đã bắt đầu Tuyên ngôn độc lập bằng cái tất nhiên của cái tự nhiên đã được thừa nhận từ thế kỷ XVIII ở phương Tây:
"Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.
"Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi"
Hồ Chí Minh kết luận:
"Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được". "Tạo hóa" hay "Tự nhiên" là điểm tựa của nhân quyền, một lần nữa được tái khẳng định ở phương Đông, nơi mà chính những người đã từng tuyên bố nó ở thế kỷ XVIII đã làm ngược lại.
Không phải chỉ ở thế kỷ XVIII, sang thế kỷ XIX, Feuerbach ở Đức cũng được xem là nhà nhân loại học (anthropology) có một không hai. Ông vốn nổi danh là nhà triết học tự nhiên, bởi vì tự nhiên được ông xem như là chìa khóa để tháo gỡ mọi vấn đề của con người. Nếu muốn hiểu con người mà không đặt nó trong quan hệ với tự nhiên thì không thể nào hiểu được con người, cũng như muốn hiểu tự nhiên mà không đặt nó trong quan hệ với con người thì không thể hiểu tự nhiên. Feuerbach rất xem trọng dấu ngang ngắn giữa người và tự nhiên. Theo ông, bản chất của con người hay của bất cứ động vật nào trên đời đều do cái ăn và cách ăn của nó quy định. Đúng là ông đã giải thích tự nhiên từ tự nhiên. Cái hay của ông ở đó và cái dở của ông cũng chính là ở đó. Ông không hề thấy cái "xã hội" của lịch sử chút nào cả. Cho nên Mác vừa khen vừa chê ông rằng: "Khi Feuerbach là nhà duy vật thì ông không bao giờ vận dụng đến lịch sử, còn khi ông có tính đến lịch sử thì ông không phải là nhà duy vật”.
Sở dĩ khi nói về lịch sử, Feuerbach không phải là nhà duy vật bởi vì ông chỉ thấy quan hệ giữa người và tự nhiên chứ ông không thấy quan hệ giữa người với người trong đời sống hiện thực của họ. Con người đã tạo ra lịch sử của mình trong quan hệ hiện thực đó. "Hiện thực" ở đây không phải hoàn toàn chỉ có tính xã hội mà còn bao hàm cả tính tự nhiên, tự nhiên - xã hội. Nhưng đừng tưởng rằng Mác chỉ xem xét bản chất con người ở "quan hệ xã hội" mà thôi, cho dù quan hệ đó là quan hệ sản xuất, mà quên đi cái tự nhiên nơi con người. Bởi vì "con người không chỉ là thực thể tự nhiên, nó là thực thể tự nhiên có tính chất người , nghĩa là thực thể tồn tại cho bản thân và do đó là thực thể loài”. Cho nên Mác đã đánh giá rất cao về "chủ nghĩa tự nhiên” của Feuerbach:
"Chúng ta đồng thời cũng thấy rằng chỉ có chủ nghĩa tự nhiên mới có khả năng hiểu được hành vi của lịch sử toàn thế giới”.
Sở dĩ Mác đánh giá cao chủ nghĩa tự nhiên như vậy là bởi "Giống như mọi cái tự nhiên đều phải nảy sinh, con người cũng có hành vi phát sinh của mình, có lịch sử, nhưng lịch sử được phản ánh trong ý thức của con người và do đó với tính cách là hành vi phát sinh, nó là hành vi phát sinh tự tước bỏ mình một cách có ý thức . Lịch sử là lịch sử tự nhiên chân chính của con người”.
Chỉ có bốn từ "tự nhiên chân chính" mà lịch sử của con người vòng vo đến như vậy. Trong khi ở phương Tây, Feuerbach "thích" tự nhiên bao nhiêu thì ở phương Đông, xã hội phong kiến càng về sau càng “ghét” tự nhiên bấy nhiêu. Thực ra ở phương Đông, người đầu tiên cảnh cáo với thiên hạ rằng đừng bao giờ đánh mất cái "tự nhiên" của mình, đó là Lão Tử với tác phẩm Đạo đức kinh, chỉ vẻn vẹn có 5 nghìn chữ mà ai cũng biết. Người ta cho rằng giữa ông và Rousseau có nhiều điểm tương đồng tuy một người ở phía Đông, một người ở phía Tây, một người ở đầu vào một người lại ở đầu ra của xã hội phong kiến. Cái mà Lão Tử lo đã trở thành sự thực. Thuyết "vô vi" của ông đến triều đại nhà Tống, nghĩa là hơn một nghìn năm sau, quả nhiên bản thân nó đã được "vô vi". Giai cấp thống trị phong kiến không thích thú dấu gạch nơi giữa tự nhiên và con người, có lẽ bởi vì sự tồn tại của họ tỷ lệ ngược với điều đó. Lịch sử mà họ tạo ra đương nhiên được xem là lịch sử "chân chính", nhưng thực ra đó chỉ là lịch sử của bộ máy nhà nước do những "bọn nho học” đã đậu được cái bằng cử nhân, tấn sĩ, ngày nay bọn tây học đã được cái chức ký lục thông ngôn, có khi bồi bếp dựa vào thân thế của chủ cũng ra làm quan nữa. Những bọn quan lại đã nói trên đây chỉ còn một tiếng, chỉ đúng hơn là lũ ăn cướp có giấy phép vậy". Đó là nhận xét của Phan Châu Trinh đầu thế kỷ XX.
Cái "tự nhiên" ở phương Đông không phải nhường chỗ cho cái "siêu nhiên” như ở phương Tây mà là nhường chỗ cho cái "phản tự nhiên". Đáng lẽ “lịch sử tự nhiên chân chính" phải "tự tước bỏ mình” thì nó chỉ "tước bỏ" cái tự nhiên mà thôi. Nó không biết rằng chính cái Nhà nước phong kiến của nó là sự thú nhận xã hội đó bị lúng túng trong một mối mâu thuẫn với bản thân mà không sao giải quyết được, rằng xã hội đó đã bị phân thành những mặt đối lập không thể điều hòa mà xã hội đó bất lực không sao loại bỏ được... cần phải có một lực lượng cần thiết, một lực lượng tựa hồ như đứng trên xã hội, có nhiệm vụ làm dịu bớt sự xung đột và giữ cho sự xung đột đó nằm trong vòng "trật tự” và lực lượng đó nảy sinh ra tư xã hội, nhưng lại đứng lên trên xã hội và ngày càng xa rời xã hội chính là Nhà nước.
Như vậy, thay vì phải "tự tước bỏ mình một cách có ý thức", thì nó lại "khẳng định mình một cách kém ý thức". F.Ăngghen nhận xét chí lý về tai hại của những thời kỳ lịch sử mà cái tự nhiên bị đánh mất này:
"Lòng tôn kính không ép buộc mà trước kia người ta tự nguyện biểu thị với các cơ quan của xã hội thị tộc, là không đủ đối với bọn quan lại nữa, ngay trong trường hợp họ có thể có được sự tôn kính đó, họ là đại biểu cho một quyền lực đã trở nên xa lạ với xã hội, nên phải bảo đảm quyền này của họ bằng những đạo luật đặc biệt, những đạo luật khiến cho họ trở thành đặc biệt thần thánh và đặc biệt bất khả xâm phạm. Viên cảnh sát tồi nhất của một Nhà nước văn minh vẫn có "quyền uy” hơn tất cả những cơ quan của xã hội thị tộc cộng lại, nhưng một vương công có thế lực nhất, một chính khách hoặc một chỉ huy quân sự lớn nhất của thời đại văn minh vẫn có thể ghen với vị thủ lĩnh nhỏ nhất trong thị tộc về sự tôn kính tự nguyện và không thể tranh cãi được mà vị thủ lĩnh ấy được hưởng. Đó là vì vị thủ lĩnh thị tộc nằm ngay trong lòng xã hội, còn những người kia thì bắt buộc phải mong muốn đại biểu cho một cái gì ở bên ngoài và đứng trên xã hội".
Sự xa rời tự nhiên có tính "bắt buộc" đó làm cho nó càng ngày càng khó gần gũi trở lại được. Tuy nhiên, lịch sử là lịch sử tự nhiên, sự tồn tại tự nhiên đòi hỏi hoạt động có tính người viết thành lịch sử xã hội. Để lưu ý đến tầm quan trọng của lịch sử - tự nhiên nên F.Ăngghen đã đúc kết thành nguyên lý phổ biến: "Những cái gì là đứng với giới tự nhiên thì cũng đúng với xã hội".
Đầu thế kỷ XX, Phan Châu Trinh, ngay tại Sài Gòn trong bài diễn thuyết "Đạo đức và luân lý Đông Tây" cũng đã lưu ý:
"Xem đó thì cũng đủ biết rằng sự gì xây dựng ra không theo tính tự nhiên của loài người thì dâu có quyền chuyên chế mạnh đến đâu cũng không buộc người ta theo được”.
Ông kêu gọi người Việt Nam phải yêu nước Việt Nam."Yêu nước” vừa thuộc lĩnh vực chính trị lại vừa thuộc lĩnh vực đạo đức. Đạo đức có trước và gần với tự nhiên hơn chính trị. Theo Phan Châu Trinh, cái trước bị mất thì cái sau cũng khó tồn tại:
"Đạo đức mất trước nước mất sau thật không phải là lời nói ngoa vậy".
Mất đạo đức có hai xu hướng, xu hướng "tự nhiên" thiếu tính người và xu hướng "phản tự nhiên" hình thức, giả dối. Hai xu hướng hình như trái ngược nhau nhưng lại thường xuất hiện cùng một lúc. Chính trị xa tự nhiên hơn đạo đức, chính trị cao hơn tự nhiên nhưng ở trong chứ không phải ở ngoài tự nhiên. Giai cấp, nhà nước, chính quyền, chính trị... chỉ là một thời kỳ ngắn ngủi của lịch sử nhân loại. Cho nên nếu “chính trị hóa” cuộc sống tự nhiên thì lịch sử chỉ còn lại là "lịch sử chân chính”, thiếu mất tự nhiên. Nếu như cho rằng văn học, nghệ thuật phục vụ chính trị thì chi bằng nên quan niệm rằng cả văn học, nghệ thuật lẫn chính trị đều phải phục vụ cho cuộc sống tự nhiên của con người. Những bông hoa văn học, nghệ thuật thực sự chỉ có thể nảy nở trên mảnh đất tự nhiên mà thôi.
Kinh tế của nhiều nước phương Đông đang có chiều khởi sắc, dục vọng tự nhiên của con người càng được thoả mãn bao nhiêu thì điều kiện "thắng lợi" của cái tự nhiên càng nhiều bấy nhiêu. Chẳng biết bước sang thế kỷ XXI, 500 năm của thời kỳ Cinq Cento, liệu cái "tự nhiên” ở phương Tây có lặp lại ở phương Đông hay không? Lịch sử thường hay trùng lặp nhưng bao giờ cũng dưới hình thức khác. Bản Tuyên ngôn độc lập vì quyền tự nhiên chân chính của con người được Hồ Chí Minh tuyên bố giữa thế kỷ XX, thế kỷ đầy sóng gió, đã và sẽ mãi mãi trở thành lịch sử tự nhiên chân chính nhất không ai có thể phủ nhận được của dân tộc Việt Nam cũng như toàn nhân loại. Nguồn:
Xưa và Nay Số lượt đọc:
1377
-
Cập nhật lần cuối:
06/09/2008 09:49:42 PM
Ý kiến của bạn về bài viết: |  |
Thông tin liên quan: "Hiểu sử xưa mới ngẫm được những việc thời nay"16/09/2009 09:59' PM Phan Duy Kha vốn là một kỹ sư đo vẽ bản đồ. Thế nhưng người ta biết đến ông lại với tư cách là nhà nghiên cứu lịch sử. Sự ngược đời ấy bắt nguồn từ niềm đam mê lịch sử. Ông đã viết và đặt ra nhiều vấn đề về lịch sử. Tất cả những thành tựu ông đạt được ấy đều là kết quả của quá trình tự học... Đi tìm một hướng nghĩ về sử Việt Nam29/08/2009 04:35' PM Mấy năm nay ở ta có hiện tượng điểm sử của các học sinh trong các kỳ thi trung học kém một cách thảm hại. Và nói rộng hơn, lớp trẻ hiện nay ngán các bài sử ở trường đến tận mang tai, bất đắc dĩ phải học sử, lúc học lên có không biết thi vào trường nào khác mới chịu thi vào sử. Quá khứ27/08/2009 06:48' PM Cơn giận nào cũng có lý của nó. Cơn giận xã hội thông qua khủng hoảng lại càng có nguyên nhân từ bên trong quá khứ. Trong đời sống xã hội, không có cái gì tự nhiên có mà không trải qua một quá trình chuẩn bị trong quá khứ... Bài học lịch sử17/08/2009 11:08' AM Lịch sử không chỉ có tác dụng giáo dục; nó còn khích lệ. Nó làm nguôi ngoai, đem lại sự bình tâm; nó xoa dịu những nôn nóng cũng như những âu lo và cung cấp chỗ dựa cho niềm tin và hy vọng. Giữa những ưu tư nặng nề trước các khó khăn hiện tại, nó đưa lại sự tĩnh tâm thư thái khi thanh thản chiêm ngưỡng quá khứ vì dường như ta được tham dự vào sự bất tận của thời gian và vĩnh hằng của muôn vật. Nó là một phương thuốc tuyệt vời chống lại sự nản lòng và bi quan. Sự công bằng lịch sử được trả lại (*)16/06/2009 03:22' PM Là một trong những người dịch ông, tôi thấy có lẽ Phạm Quỳnh là một trong những người Việt viết tiếng Pháp hay nhất, một thứ tiếng Pháp trong sáng, sang trọng, trang nhã và đầy âm vang, chỉ có thể có được trên cơ sở một vốn tri thức uyên thâm về văn hóa và văn minh không chỉ của Pháp mà còn của cả phương Tây cổ kim. Ý nghĩa Lịch sử14/06/2009 11:50' AM Một ít người hóm hỉnh từng nhận xét rằng tất cả những gì ta học được từ lịch sử là: ta không học được gì từ lịch sử cả. Chúng ta có thể rút ra được sự hiểu biết hoặc sự hướng dẫn nào từ việc nghiên cứu lịch sử... Ryszard Kapuscinski: du hành trong không gian và thời gian23/12/2008 10:42' AM Một cuốn sách dành cho người yêu xê dịch. Xin nói thêm, xê dịch ở đây không dừng lại ở nghĩa đen địa lý thường thấy trong nhiều cuốn du ký hiện đại, mà là một cuộc “xê dịch” xuyên không gian và thời gian. Cuốn sách được viết bởi một tài năng lớn Đọng hay tan ký ức đời đời?20/12/2007 02:40' PM Có một phương ngôn lập tức khuất phục người ta, mạnh đến mức dường như nó không chỉ đánh quỵ chân mà còn bẻ gập cả sống lưng xuống, Đó là: “Một con người không có quá khứ thì chẳng khác nào một quốc gia không có lịch sử”... Ký ức chính là một phần của lịch sử06/02/2007 08:30' PM Nếu phải tìm một cái mốc thì có lẽ có một tác động nào đó từ cuốn tự truyện của nghệ sĩ Lê Vân. Cách suy nghĩ của một người đã đụng chạm đến quan điểm của nhiều nguời, nhất là về những vấn đề chung như đạo lý, lối sống... Trời đất không vô hạn27/10/2006 06:06' AM Sự tươi đẹp và trong lành trên quả đất ngày một biến đổi, tùy nơi tùy lúc người ta có thể làm cho nó tốt lên, hoặc kém đi phụ thuộc vào ý thức xã hội và trình độ khoa học của từng dân tộc và đất nước... Thách thức đối với việc dạy và học sử22/08/2006 12:43' PM Mùa thi phổ thông năm nay lại rộ lên những thông tin về sự yếu kém trong kiến thức lịch sử của thí sinh khiến xã hội lại bàn đến mối lo "mất gốc" của giới trẻ. Và cũng như năm ngoái, mọi người lại đi tìm xem nguyên nhân ở đâu thì mới có thể sửa được? Bài học nguyên thủy đáng giá03/07/2006 08:36' PM Đac-uyn đã viết trong nhật ký của mình: "nguyện vọng của một người và những kết quả mà anh tạ mong muốn đạt được không phải lúc nào cũng giống nhau. Những vấn đề phức tạp còn tồn tại của một dân tộc không thể nhờ vào một vài người "văn minh" để giải quyết được. Từ dã man tiến hóa đến văn minh là một quá trình đau đớn và dài lâu, dục tốc sẽ bất đạt... Cần đổi mới công tác lý luận01/06/2006 08:52' PM Một số nhà lý luận phát hiện ra sự bảo thủ, già cỗi, không thực tiễn của lý luận mỹ học nghệ thuật quy chiều vào nền nghệ thuật kinh tế thị trường, nhưng họ lại không đề ra được mô hình định hướng lý luận mỹ học mới và phát triển lâu dài. Đây là những biến động khủng hoảng, diễn biến phức tạp về nhận thức lý luận giữa bảo thủ và đổi mới... Về vai trò của triết học trong công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở nước ta05/05/2006 08:04' PM Cũng như mọi lí luận, triết học không chỉ làm nhiệm vụ lý giải những vấn đề của thế giới nói chung và của xã hội loài người nói riêng, mà còn trên cơ sở của sự lí giải ấy, nó trở thành cái định hướng đúng đắn cho con người trong hành động... Thế nào là đổi mới?11/04/2006 12:53' PM Đổi mới là trào lưu tư tưởng tiến bộ, là xu thế thời đại. Những ai không có tư duy đổi mới, hành động đổi mới thường dễ bị sa vào bảo thủ, duy trì những cái đã lỗi thời. Thậm chí có nhà văn đã phát biểu: "Trong thời đại này, không đổi mới tư duy coi như mù chữ”. Hệ sinh thái che chở chúng ta08/04/2006 08:36' PM Sự vận hành của các hệ sinh thái và vai trò của tính đa dạng sinh học trong những hệ này vẫn còn là điêu bí ẩn. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng chúng cung cấp miễn phí cho loài người những dịch vụ vô giá. Tồn tại và phát triển05/04/2006 08:23' PM Chính trị là gì? Cách nói của Tôn Trung Sơn có lẽ dễ hiểu hơn cả: “Về ý nghĩa của hai chữ “chính trị”, nói giản đơn thì “chính” là việc của dân chúng, “trị” là quản lý, quản lý việc của dân chúng thì gọi là chính trị... Vấn đề kế thừa và phát triển trong lịch sử triết học20/03/2006 07:10' AM Kế thừa và phát triển là quy luật chung của cả tự nhiên, xã hội và tư duy con người. Quy luật đó cùng tồn tại một cách khách quan trong lịch sử triết học. Nhưng cũng như mọi quy luật không phải ngay từ đầu mà phải đến một giai đoạn nhất định của lịch sử quy luật đó mới được phát hiện. Chân lý là cụ thể17/02/2006 04:26' PM Ta hiểu được những ai đã sai và có thể còn sai .Và chất người trong ta cộng sản thêm chút nữa Trút vỏ thần tượng đi càng lồng lộng con người...”. Những câu này trong tập thơ ra đời từ 1969 đã khiến cho tác giả lao đao một dạo. Thế rồi ba mươi sáu năm sau, tình cờ trong một lần chỉ hai anh em trên đường công tác, tác giả kể với tôi một chuyện xúc động về câu thơ ấy... Vài cảm nhận về thời đại11/01/2006 07:36' PM Những đặc trưng lớn của thời đại này là gì? Dòng chảy của lịch sử sẽ đi về đâu và vị trí của trí thức trẻ Việt Nam trong dòng chảy chung ấy thế nào? Cây tre thần08/03/2010 08:32' AM Thời Bắc thuộc, sau khi bị tước đoạt hết các tài sản tinh thần bằng văn bản, trong đó có cả Kinh Dịch, người Việt ta có cách lưu giữ lại bằng hiện vật (ví dụ trống đồng), phong tục lối sống, truyện cổ tích và dân ca tục ngữ. Quẻ Thuỷ Trạch Tiết là một ví dụ sống động. Lại bình về giá trị chất xám06/03/2010 09:54' AM Có lúc nào đó ta quen nghĩ hoặc bị ép nghĩ: Cuộc sống cách mạng không còn cái bi, chỉ có cái hùng, dẫu cuộc chiến đấu của dân tộc đầy những hy sinh, những khổ đau... Ta đã quên ý Mác: ngay sự ngu dốt cũng gây nhiều bi kịch. Mà sự dốt nát thì đâu phải là chuyện con người có thể thanh toán một lần là xong. Đó là chuyện đồng hành cùng nhân loại, để cho con người đi từ chỗ nhiều đến ít dần đi sự ngu dốt, ít dần đi chứ không bao giờ hết. Những điều cần phải biết trên hành trang đời người05/03/2010 09:02' AM Trên đường đời, ta có biết và biết đúng những kiến thức cần phải biết, ta mới có cơ sở để làm, làm đúng và làm tốt những việc cần phải làm. Có như vậy ta mới có cơ sở để tránh xa ba cái ngu dốt ở đời và tiệm cận với con người thật sự khôn ngoan. Trong các điều kiện cần phải biết, có điều chỉ cần học một câu cũng tạm đủ, có điều phải học cả chục năm. Bể học không bờ, siêng năng là bến, có học mới nên khôn, mới nên NGƯỜI. Dân chủ và dân trí03/03/2010 12:41' PM Ngày nay, hai từ "dân chủ" đang được nhắc đến nhiều trong xã hội. Không ít người nghĩ dân chủ là sự thoải mái đóng góp ý kiến, bàn bạc của bất kỳ người dân nào. Trí tuệ của tập thể, của cộng đồng là cần thiết song nói như Lênin: "Chân lý không phải bao giờ cũng thuộc về số đông". Không thể có dân chủ đứng một mình mà đi kèm theo nó phải là dân trí để thành một đôi chân bước trên đường dài, vượt qua những khó khăn, cản trở phía trước. Chủ nghĩa xã hội trên nền tảng dân chủ26/02/2010 04:20' PM Hơn 50 năm nay, cụm từ “chủ nghĩa xã hội” đã trở nên quen thuộc với đông đảo nhân dân ta. Trong quá trình đổi mới và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhận thức về chủ nghĩa xã hội đã có những thay đổi quan trọng, song chưa phải mọi vấn đề đã được giải đáp rõ ràng, phù hợp với cuộc sống thực tế. Minh triết Tam Giáo trong văn hóa Việt23/02/2010 04:07' PM Thời nào cũng vậy, nội lực mạnh mẽ trong đời sống tinh thần và hoạt động xã hội, tinh thần tự xét mình và tự giác cao, bản lĩnh độc lập và tinh thần cầu thị trong sự xem xét và phán xét riêng, coi trọng dư luận của quần chúng nhưng không bị ràng buộc bởi bất cứ dư luận nào..., những đức tính này thường là được thiên hạ quý trọng, ở đâu cũng vậy thôi, là người hẳn hoi không thể thiếu những đức tính nói trên. 12 con giáp gốc Việt13/02/2010 10:32' AM Xưa nay như người ta vẫn lầm lẫn nhầm tưởng rằng 12 con giáp có xuất xứ từ Trung Hoa. Tuy nhiên, mới đây trong một công trình nghiên cứu về ngôn ngữ Việt cổ- nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Nguyễn Cung Thông phát hiện ra nguồn gốc 12 con giáp có xuất xứ từ Việt Nam. Hãy suy nghĩ như một triết gia và làm như một người thợ06/01/2010 09:28' AM Anh Giản Tư Trung - Hiệu trưởng Trường Doanh nhân PACE - người đang tâm huyết và mải mê với các dự án giáo dục của mình, cùng hy vọng nâng cao doanh trí và dân trí, đã có cuộc trò chuyện với SVVN về cách đào tạo hiện nay ở các trường ĐH ở VN. Bài khác: Ý thức toàn cầu và vai trò của triết học trong việc xây dựng ý thức toàn cầu01/01/1900 12:00' AM Toàn cầu hoá là một xu thế tất yếu, khách quan, nó vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực đặt ra cho tất cả các quốc gia, dân tộc cả những vận hội lẫn những thách thức. Việc nhận thức những vấn đề toàn cầu đòi hỏi phải có ý thức toàn cầu. Ý thức toàn cầu, theo tác giả, có các đặc trưng:
- Phản ánh uy thế của các giá trị toàn nhân loại,
- Nó phải được chỉnh lý một cách căn bản trong sự tự ý thức của từng dân tộc cũng như của từng cá nhân,
- Có tính khoa học cao, để xây dựng ý thức toàn cầu, triết học đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Vai trò này thể hiện ở hai chức năng cơ bản của nó: chức năng thế giới quan và chức năng phương pháp luận.
Thay đổi từ đâu?01/01/1900 12:00' AM Kết thúc một năm cũ, suy nghĩ rất tự nhiên của mỗi người là mong những cái mới. Nam giới ưa mạo hiểm, lại chỉ thích làm chuyện "to tát" nên năm mới cũng là thời điểm để bắt đầu một dự án mới, một công việc mới hoặc một cuộc chinh phục mới. Tất cả đều mong muốn có sự thay đổi! Quan niệm của Gi.P.Xáctơrơ về con người trong “Hiện sinh một nhân bản thuyết”01/01/1900 12:00' AM Theo Gi.P.Xáctơrơ (Jean - Paul Sartre - 1905 - 1980), chủ nghĩa hiện sinh là một chủ nghĩa nhân đạo. Trong quan niệm của ông, chủ nghĩa nhân đạo này không phải là lý thuyết đề cao "lòng thương người, mà là một học thuyết về con người - một triết học về sự tồn tại của thực thể người trong thế giới. Mục tiêu của nó là mang lại tự do cho con người và vì thế, ông đã dồn công sức để nghiên cứu về con người. Bước đầu tìm hiểu con người trong triết học của Kant01/01/1900 12:00' AM (1724 - 1804), là người sáng lập triết học cổ điển Đức, nhà tư tưởng lớn của nhân loại. Hệ thống triết học của ông bao chứa lượng tri thức phong phú thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó nhân bản học chiếm vị trí không nhỏ. Ở thời đại văn minh hiện nay, khi có một số quan điểm quá coi trọng những thành tựu khoa học công nghệ, đến mức tuyệt đối hoá những giá trị vật chất, mà xem nhẹ những giá trị tinh thần nhân văn, thì việc tìm hiểu triết học của Kant có thể giúp chúng ta trở về với những quan điểm nhân văn hơn. Tiêu chuẩn logic trong nhận thức chân lý01/01/1900 12:00' AM Có thể nói, bằng sự tổng kết toàn bộ tiến trình phát triển lịch sử của nhận thức, Hêgen đã xác định rõ trình độ của mỗi giai đoạn nhận thức và vai trò của các học thuyết logic: "Phép biện chứng: phép biện chứng bên ngoài, sự suy luận không đâu vào đâu, mà trong đó linh hồn của bản thân sự vật không được hoà tan. Tạp bút Nghĩ09/06/2006 06:06' AM Thuở nhỏ tôi thường mơ thấy cây ruối sau nhà bay lên trời, dưới gốc của nó có một đám mây màu vàng ngà. Không nhìn thấy rễ cây nhưng tôi cảm giác chúng đang ngủ trong đám mây vàng ngà ấy, giấc ngủ dịu dàng mềm mại chẳng vướng bận bởi các ý nghĩ. Lớn lên, lao vào đời sống với bao nhiêu tác động xô dập của xã hội, đôi lúc tôi mơ lại cú bay lên... Xuân thu nhã tập bàn về người trí thức04/06/2006 07:57' AM Tôi muốn chúng ta chú ý nhiều đến bài viết bàn về “trí thức” của bộ ba tác giả: Phạm Văn Hạnh, Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Lương Ngọc. Riêng tôi, xin được nói ngay đấy là một luận văn xuất sắc, hiếm thấy trong việc bàn về trí thức. Bản luận văn đặt ra các câu hỏi: Trí thức là gì? Thế nào là kẻ trí thức? Làm sao tới được trí thức? Cái riêng và cái chung: một số vấn đề cần quan tâm27/04/2006 09:18' PM Một số vấn đề về cái riêng và cái chung ít được trao đổi trên các sách báo triết học nhưng lại cần được làm sáng tỏ. Những ý kiến được trình bày trong bài viết còn phải tiếp tục được trao đổi để tiến tới một sự hiểu biết đầy đủ và đúng biện chứng cái riêng, về cái chung và về phép biện chứng... |