Sao giờ lắm sách cổ học như kinh dịch, nho lão, tôn tử, đạo lão... thế nhỉ? Liệu hoài cổ quá có hay lắm không? Luận sâu sắc về lời Hegel - Mác dạy có khi còn ít hơn cả luận Kinh Dịch, Mạnh Tử, Tôn Tử ấy...
Bài này mong các bạn chia sẻ vài điểm khác biệt về triết học, triết lý Đông - Tây, từ đó quyết định xem cân đối kiến thức sao cho hợp lý, hiệu quả cho cuộc sống.
- Thứ nhất, ta sẽ phân biệt đâu là Đông, đâu là Tây.
- Thứ hai, ta so sánh bối cảnh xã hội ra đời, pt triết học phương Đông, phương Tây
- Thứ ba, ta so sánh đối tượng nghiên cứu của triết học Đông, Tây
- Thứ tư, ta so sánh phương pháp nhận thứ của 2 nền triết học đó
- Thứ năm, những nhận xét về vận dụng hai dòng kiến thức đó sao cho hợp lý
Phương Đông để chỉ các nước châu Á các nên văn minh trên ba lưu vực sông lớn: sông Nin, sông Hằng, sông Hoàng Hà, chủ yếu là Ai Cập, ả rập, ấn độ và Trung Hoa. Hầu hết các nền tôn giáo lớn của thế giới đều xuất hiện ở đây.
Phương Tây Phương Tây chủ yếu là các nước Tây âu như Anh, Pháp, Đức, Ý, Áo, Tây Ban Nha... Ngày nay chúng ta gộp cả Mỹ vào.
Đặc điểm hai loại hình cơ sở xã hội Đông - Tây là tĩnh, ổn định đối nghịch với động, biến động nhanh. Triết học lỏng lẻo, mềm dẻo của Đông đối lại là triết học chặt chẽ, thống nhất thành hệ thống của Tây. Triết học phương Tây đi từ gốc lên ngọn (từ thế giới quan, vũ trụ quan, bản thể luận... từ đó xây dựng nhân sinh quan con người;) trong khi triết học phương Đông đi từ ngọn xuống gốc (từ nhân sinh quan, vấn đề cách sống, lối sống sau đó mới là vũ trụ quan, bản thể luận...). Đó là 2 nét chính của hai nền triết học Đông - Tây.
Nếu như ở phương Tây, triết học được xây dựng bởi chủ yếu là các nhà khoa học, gắn liền với các thành tựu khoa học, đặc biệt là khoa học tự nhiên thì ở phương Đông, triết học gắn với những hiền triết - nhà tôn giáo, nhà giáo dục đạo đức, chính trị-xã hội.
Vậy nên đặc điểm chủ đạo là các nhà Triết học phương Tây thiên về giải thích thế giới theo nhiều cách còn mục đích chính của phương Đông là cải tạo thế giới gồm có: ổn định xã hội, giải thoát cho con người và làm sao cho con người hoà đồng với thiên nhiên.
Nguồn gốc là do ở phương Đông, thượng tầng kiến trúc ra đời trước và thúc đẩy dự phát triển của hạ tầng cơ sở, còn ở phương Tây hạ tầng cơ sở quyết định đến thượng tầng kiến trúc.
Về đối tượng nghiên cứu của triết học Đông, Tây Đối tượng của triết học phương Tây rất rộng gồm toàn bộ tự nhiên, xã hội, tư duy mà gốc là tự nhiên. Nó ngả theo hướng lấy ngoại (ngoài con người) để giải thích trong (con người), nói chung xu hướng nổi trội là duy vật.
Trong khi đó phương Đông lấy xã hội, cá nhân làm gốc là tâm điểm để nhìn xung quanh. Do đó đối tượng của triết học phương Đông chủ yếu là xã hội, chính trị, đạo đức, tâm linh và do vậy xu hướng là hướng nội, lấy trong để giải thích ngoài. Đa số trường phái thiên về duy tâm.
Về phương pháp nhận thức của 2 nền triết học đó
Triết học phương Tây ngả về tư duy duy lý, phân tích mổ xẻ còn phương Đông thì ngả về dùng trực giác.
Cái mạnh của phương Tây là cho khoa học, kỹ thuật và về sau là công nghệ phát triển... và nhận thức luôn hướng đến nhận thức cái chân lý vô hạn cùng. Phương Tây đi gần mãi đến chân lý qua hàng loạt những trừu tượng, khái niệm, quy luật... của toàm thể vũ trụ, liên tiếp đi từ cấp độ bản chất thấp đến mức độ bản chất cao hơn... cũng do vậy họ có xu hướng cô lập hoá , cách ly hoá, làm mất đi tính tổng thể.
Triết học phương Đông ngược lại thường dùng trực giác, tức là đi thẳng đến sự hiểu biết, vào cái sâu thẳm bản chất của sự vật, hiện tượng. Trực giác giữ được cái tổng thể mà tư duy phân tích, mổ xẻ đạt đến. Nhưng nó có tiềm tàng nhược điểm là không phổ biến rộng được. Trực giác mỗi người mỗi khác. Và không phải lúc nào trực giác cũng đúng. Thực ra 2 biện pháp kết hợp lẫn nhau, nhưng ở đây nói về thiên hướng.
Triết học phương Tây có xu hướng tách chủ thể với khách thể để nhận thức cho khách quan còn triết học phương Đông lại cho rằng người nhận thức và đối tượng nhận thức cùng hoà hợp vào nhau (đặt cùng trong 1 hệ quy chiếu.) thì nhận thức sẽ dễ dàng.
Phương tiện nhận thức của triết học phương Tây là khái niệm, mệnh đề, biểu thức lôgíc để đối tượng mô tả rõ ràng, thống nhất hơn thì trong triết học phương Đông lại là ẩn dụ, liên tưởng, hình ảnh, ngụ ngôn... để không bị lưới giả về nghĩa do khái niệm che phủ. Nhưng điểm yếu của triết học phương Đông chính là sự đa nghĩa, nhập nhằng khác biệt khi qua các phân tích khác nhau.
Triết học phương Đông biến đổi tuần tự thay đổi dần về lượng, dù thay đổi bao nhiêu vẫn giữa lấy phần gốc phần lõi làm nền, không rời xa gốc đã có.
Triết học phương Tây thay đổi theo hướng nhảy vọt về chất, nên càng tiến hoá càng phong phú hơn, xa rời gốc ban đầu. Thậm chí có xu hướng cái sau phủ định hoàn toàn cái ở giai đoạn trước.
Trong phép biện chứng giải thích quy luật của sự vận động - phát triển cũng có nét khác biệt. Phương Đông nghiêng về thống nhất hay vận động vòng tròn, tuần hoàn. Phương tây nghiêng về sự đấu tranh và vận động, phát triển theo hướng đi lên.
Một nét nữa của triết học Tây - Đông là theo thống kê thì triết học phương Tây thiện về hướng ngoại, chủ động, tư duy lý luận, đấu tranh sống còn, hiếu chiến, cạnh tranh, bành trướng, cá thể, phân tích, tri thức suy luận, khoa học, tư duy cơ giới, chú ý nhiều đến thực thể...
Khuynh hướng nổi trội của phương Đông lại là hướng nội, bị động, trực giác huyền bí, hoà hợp, quân bình chủ nghĩa, thống nhất, hợp tác, giữ gìn, tập thể, tổng hợp, minh triết, tôn giáo, tâm lý, tâm linh, tư duy hữu cơ, chú ý nhiều tới quan hệ...
|
Đông (Á) |
Tây (Âu) |
| Tinh thần - Đời người - Tĩnh lặng cảm nhận các mối quan hệ |
Vật chất - Máy móc - Mạnh mẽ, quyết liệt, Sức động, quan tâm thực thể độc lập |
| Thiên về tôn giáo, mỹ thuật, nghệ thuật |
Thiên về khoa học công nghệ |
| Sử dụng tình cảm, quan tâm đạo đức -- Con người, đạo học |
Sử dụng trí tuệ, tư tưởng, quan tâm sự vật/hiện tượng -- Vũ trụ, học thuyết |
| Dùng trực giác, tổng thể vẫn loanh quanh những lối cũ, bề ngòai |
Dùng lý trí, mất dần tổng thể, ngày càng phong phú, cụ thể |
| Quan tâm phần ngọn: nhân sinh quan, cách sống, lối sống |
Quan tâm phần gốc: thế giới quan, bản thể luận, nhận thức luận |
| Ảnh hưởng tới: kinh nghiệm/hoàn thiện cá nhân, ổn định xã hội |
Ảnh hưởng tới: giải thích/lý luận về thế giới, thực hành kỹ nghệ, tự do cá nhân, cách mạng xã hội | Số lượt đọc:
44561
-
Cập nhật lần cuối:
03/10/2008 12:22:42 AM
Trao đổi/Nhận xét | Tổng số:
7 |
Đông và Tây là hai nửa bổng sung cho nhau -Tôi nghĩ vậy Trước hết xin cám ơn tác giả bài viết rất bổ ích.
Có lẽ Triết học phương Đông và phương Tây tối cho rằng nó như là hai mặt của một vấn đề. Chúng bổ sung một cách hoàn hảo cho nhau.
Triết học phương Tây giải quyết rất tốt vấn đề phát triển của khoa học, kinh tế, chính trị - xã hội và có thể nói nó đóng góp rất lớn cho sự phát triển của xã hội loài người. Tuy nhiên có những bí ẩn về tự nhiên cũng như con người bằng trực quan ta thấy nhưng khoa học không giải thích được thì triết học phương Đông lại có thể giải thích được và được chúng ta chấp nhân. Có lẽ còn rất nhiều những điều huyền bí trên thế giới mà muốn hiểu được chung ta cần nghiên cứu triết học phương Đông một cách đầy đủ và nghiêm túc hơn. Từ xưa đến nay Có thể nói con người là chủ thể của tất cả các vấn đề mà họ đặt ra. Từ xưa đến nay,họ không ngừng đặt ra nhiều câu hỏi và vấn đề rồi họ lại tìm ra cách giải quyết, cách trả lời cho thoả đáng. Cứ tiếp tục như thế hoài nên mới có nhiều cách trả lời, nhiều quan điểm khác nhau nên mới xuất hiện sự phân chia của Triết học cũng như sự phân hoá trong đời sống xã hội loài người.
Nói cách khác,Triết học có phân hoá mới trả lời được các vấn đề của con người,có mâu thuẫn mới có so sánh, có so sánh mới có tiến bộ. Nhưng ngược lại nó cũng có những điểm hạn chế. Triết học chính là chúng ta nhưng chúng ta không phải là Triết học. Gốc và ngọn Theo tôi được biết thì triết học phương Đông là cơ sở, là gốc cho sự tiến hoá, phát triển của triết học phương Tây tuân theo quy luật dịch hoc phương Đông nhưng liệu như vậy thì những hiểu biết, những tư tưởng triết hoc cua các nhà hiền triết phương Đông có được khai thác hoá để con người chúng ta hiểu biết nhiều hơn về vũ trụ này, thế giới này trong khi hầu hết chỉ quan tâm đến triết học phuơng Tây. ĐÔNG-TÂY Tôi thấy phương Tây thì rõ ràng rành mạch, còn phương Đông thì mơ màng, bí ẩn! Suy cho cùng thì triết học phương Đông ngày càng được nhiều người quan tâm ví dụ như: yoga, khí công...rồi quan điểm của Lão, Trang... Góp ý trao đổi về THPD-THPT Theo tôi thấy, triết học Phương Đông (PD) đi từ gốc gác của vấn đề chứ không phải triết học Phương Tây (PT).
Bằng chứng là sự khó hiểu của nó: trong khi triết học PT khái niệm vật chất cấu tạo tự các nguyên tử, phân tử, electron... nói chung là thực thể có thể đo đếm cân đong được thì PD lại coi vũ trụ chỉ cấu tạo từ âm dương mà thôi, có chăng thì gượng cho thêm cả ngũ hành vào nữa, vậy mà họ lý giải rất tốt sự vận hành vũ trụ - cơ thể con người mà từ ngàn năm nay họ vẫn vận dụng cho y học, làm nhà của, làm lịch, dự đoán... mà có sai mấy đâu.
PT thì quá nhiều phép đo và trường phái khác nhau dẫn đến bế tắc khi lý giải vũ trụ - con người, trong y học họ nghiên cứu mãi mà vẫn loanh qoanh đối với ung thư, mất ngủ, trầm cảm, sinh lý, cao huyết áp, hạ huyết áp... còn PD thì tôi thấy sau khi nghiên cứu Lảo tử, Khổng tử, Phật học, y học lại thấy cao siêu huyền bí và ứng dụng rất tốt.
Còn bây giờ tôi đang tiếp tục chứng minh điều tôi nói. Có thể bạn không tán thành ý của tôi nhưng tôi tôn trọng ý đó của bạn! Góp ý nhè nhẹ Cảm nhận của tôi cách đây hai mươi năm cũng giống như của tác giả vậy.
Nghiên cứu triết học duy vật biện chứng, rồi vô cùng hào hứng với triết học của Mác. Dưới ánh sáng lung linh của triết học Mác tôi đã thấy nhiều dòng triết học từ Đông sang Tây Không có vũ trụ quan vững vàng và tư duy lý luận không được logic. Rồi một ngày kia Tình cờ được hiểu sâu hơn về triết học Phật giáo , tức là một đạo giáo tôi hết sức coi thường vì cảm giác nó thô sơ, ngớ ngẩn, thụ động , mờ ảo của nó. Nhưng thật bất ngờ, càng phủ định nó và càng nghiên cứu làm việc lâu trong khoa học và đặc biệt là càng lớn tuổi - tức là càng trải nghiệm cuộc sống, thì càng thấy tính đúng đắn khoa học của Nó - triết học Phật giáo. Rất là thâm thuý, rất là tích cực dũng mãnh như nó đã được ca tụng : Đại trí, Đại dũng , Đại bi.
Tại sao các nhà trí thức phật giáo CHÂN CHÍNH - những người rất giỏi lại không thấy họ tranh luận trên diễn đàn ? Trang Phật giáo của diễn đàn lại mờ nhạt thế ?Tìm hiểu , Tôi được biết có nhiều nguyên nhân lắm. Tự nói gọn lại : Vì họ quá giỏi và rất đạo đức, Họ cần thời gian để hành động cho mình và mọi người. nên không có thời gian để tranh cãi. Nếu chúng ta thật tâm muốn học hỏi thì hãy chủ động mời họ. Họ không để mất thời gian và công sức cho những người không thiện tâm học hỏi.
Tại sao là Phật tử mà tôi lại đóng góp ý này ý nọ? Không, Tôi thật tâm không muốn tỏ ra mình là người có hiểu biết. Tôi nhận thấy Triết Phật có ích cho khoa học, chính trị, tôn giáo, cho loài người và từng con người. Thật là bất ngờ, vui ,lý thú, tôi muốn chia sẻ với mọi người. Nói lại lời người khác Phương Đông và phương Tây là 2 nửa của một bộ não. Các khu vực còn lại cũng đều đóng góp những giá trị cụ thể cho nền văn minh của Trái Đất.
Đã qua rồi cái thời mà chúng ta coi Châu Âu là trung tâm của thế giới. Cần nhìn về các vấn đề dị biệt và tương đồng giữa các khu vực Địa lý - Văn hóa của thế giới bằng cái nhìn có tính bao quát và khái quát hơn!
Ý kiến của bạn về bài viết: |  |
Thông tin liên quan: Tiếu lâm và triết học03/03/2010 03:33' PM Chuyện tiếu lâm và triết học là hai lĩnh vực rõ ràng không liên quan gì đến nhau; một bên đọc lướt để cười, một bên nghiền ngẫm để giải đáp những bí ẩn của cuộc đời. Thế nhưng hai tác giả Thomas Cathcart và Daniel Klein lại bỏ công viết một cuốn sách nhằm “tìm hiểu triết học thông qua chuyện tiếu lâm” với tựa đề “Plato và Platypus bước vào quán rượu…”. Trở về cội nguồn minh triết Việt10/10/2009 09:15' AM Trong ý nghĩa nào đó thì minh triết là “Sự khôn ngoan và sáng suốt trầm tích trong chiều sâu nhất của văn hóa và tỏa năng lượng nuôi dưỡng nền văn hóa dân tộc.” Vì vậy, muốn tìm cội nguồn của minh triết, trước hết phải tìm ra cội nguồn văn hóa. Luận bàn về những vấn đề minh triết10/09/2009 11:11' AM Minh triết trong vốn trí tuệ và tâm linh của chúng ta không tách rời minh triết nhân loại bao gồm minh triết của nhiều nền văn minh, nhiều khu vực văn hóa, tôn giáo…. Ngay trong bản thân minh triết lưu hành ở Việt Nam có thể tìm thấy nhiều vết tích vang vọng của minh triết những nền văn hoá, văn minh khác. Người Việt không thể không tìm hiểu minh triết của những nền văn hoá khác. Công việc này giúp chúng ta thấy được rõ hơn, tinh tế hơn bản sắc riêng của mình. Đồng thời thấy được tính phổ quát của minh triết, thấy dược cái chung giữa ta và người, cũng có thể xem đây là một sự chuẩn bị tinh thần đi vào con đường hội nhập. Ba bình diện21/08/2009 01:54' PM Bài toán về những mối quan hệ tinh thần giữa Phương Tây và Phương Đông đặt ra vấn đề các con đường và các cách thức những mối quan hệ đó cần phải được thể hiện như thế nào để thật sự là có ích. Bởi ai cũng hiểu rằng hai bộ phận đó của thế giới không thể cứ đối lập với nhau mãi, chúng không thể cứ sống mà không hề biết đến nhau, và chúng cần phải tìm được một mảnh đất để có thể thâm nhập vào nhau và thấu hiểu nhau. Địa thiên thái01/06/2009 02:58' PM Bức tranh cổ minh họa một vị quan đang bắc thang lên vầng quế nguyệt là ý nói sự thăng tiến trong quan trường; thi cử; một con hươu ngậm tấm thiếp báo tin vui hoặc có lộc tài mang đến, một cậu bé đang ngồi trên mây là vị thế vinh hiển sáng ngời và khá bất ngờ, nhưng từ tầm cao ấy mà càng cần phải chú ý củng cố chăm lo nền tảng gốc thực sự vững chắc dưới mặt đất. Trời bao giờ cũng hướng lên trên còn đất bao giờ cũng hướng xuống dưới, đó là biểu thị sự thống nhất tồn tại của sự vật đối lập và sự vững chắc của luận thuyết dịch lý. Từ một bài thơ suy nghĩ về sự khác biệt và thống nhất15/05/2009 01:36' PM Từ bài thơ “Khúc ca Đông- Tây”của R.Kipling, tác giả trình bày suy nghĩ của mình về sự thống nhất và khác biệt giữa Đông và Tây, rộng ra là sự thống nhất trong đa dạng của văn hoá. Với giả thiết rằng sự khác biệt Đông- Tây nằm ẩn sâu trong truyền thống văn hoá, văn minh Đông - Tây, tác giả đi tìm nguyên nhân của sự khác biệt đó. Cuối cùng, tác giả khẳng định rằng, thống nhất trong đa dạng chính là nguyên tắc để đi đến một sự phát triển hoà bình, ổn định và bền vững cho nhân loại. Sự an tâm04/03/2009 09:25' AM Thái độ an tâm cho mình là phải là một thái độ rất thông thường, vì ai cũng thường cho mình là đúng, ít người có lương tâm áy náy, sợ đã lầm lỗi. Thái độ an tâm là thái độ của một người cảm thấy mình không có điều gì đáng trách trong những việc mình làm, những lý tưởng theo đuổi hay những quan niệm mình chủ trương. Những quan niệm mình chủ trương là đúng, những lý tưởng theo mình theo đuổi là cao cả, những việc mình làm là tốt... Hành trình nhận thức duy niệm của nhân loại25/02/2009 11:39' AM Người Việt nói riêng, người châu Á nói riêng rất ngại dính mắc vào những vấn đề của triết học. Phần lớn cho rằng, triết học bao gồm những cặp phạm trù khô khan, phức tạp, khó hiểu, chẳng liên quan gì mấy đến cuộc đời nhãn tiền tươi rói, tinh khôi, thực chứng sức sống đang ào ạt tuôn chảy hồn nhiên trào ra khỏi mọi khuôn thức cứng nhắc – mô phạm của triết lý. Và nhiều người hầu như an nhiên tận hưởng bất chấp triết học... Tư duy phương Tây vs. tư duy phương Đông07/12/2008 10:55' PM Giáo sư Nisbet cho rằng tư duy của Đông và Tây là khác nhau và người phương Tây thường không ý thức được tư duy của họ bám chặt vào các nguyên tắc logic đến mức nào, trái ngược với kiểu tư duy “biện chứng” của phương Đông. Phương Đông và phương Tây27/01/2008 04:20' PM Chúng ta sống trong một thời kỳ khủng hoảng của lịch sử thế giới. Đấy không phải là một lời sáo rỗng tầm thường, một công thức mơ hồ và có phần cường điệu. Đấy là một nhận xét cần thiết nếu ta nghĩ đến những hậu quả kinh khủng của bi kịch do cuộc va chạm giữa Phương Đông và Phương Tây gây ra trên thế giới... Thế nào là một bài viết có tính triết học?26/07/2007 06:53' AM Trao đổi xoay quanh vấn đề đánh giá tính triết học của một bài viết. Tác giả đã luận giải để làm rõ ràng, một bài viết được coi là có tính triết học phải thể hiện được ít nhất một trong những nội dung: 1) Đề cập đến những vấn đề triết học chung, 2) Nêu lên những vấn đề triết học cuộc sống, 3) Đề cập đến những vấn đề của các khoa học khác từ góc độ triết học... Triết học trong “thế giới phẳng”23/07/2007 09:10' PM Tác giả đã đưa ra những suy tư của mình về diện mạo của triết học trong kỷ nguyên toàn cầu này. Đó là: Tại sao triết học, trong khi vẫn có đầy đủ uy tín của mình trên diễn đàn quốc tế, lại kém đi vào cuộc sống đến thế. Một khi các nhà triết học không biết cách ngăn chặn cái ác, cái xấu thì khi đó, tiếng nói nhân đạo, những định hướng giá trị sáng suốt sẽ ra sao. Liệu triết học trong kỷ nguyên toàn cầu có đủ khôn khéo để nhắc nhở loài người tôn trọng những giá trị quý báu của những bài học đã từng phải trả giá cho quá khứ... Tiếp tục đổi mới nghiên cứu và giảng dạy triết học ở nước ta18/04/2007 08:11' PM Việc nghiên cứu và giảng dạy triết học vẫn còn yếu kém, bất cập. Nhiều vấn đề do thực tiễn cuộc sống đặt ra chưa được các nhà triết học nghiên cứu đầy đủ và do đó, chưa có sự trả lời thoả đáng. Công tác giảng dạy triết học chưa khắc phục được tình trạng "thầy không thích dạy, trò không thích học". Cần làm gì để khắc phục những yếu kém trong nghiên cứu và giảng dạy triết học ở nước ta? Giá của tri thức23/02/2007 10:39' AM “Tri thức, bao gồm cả tri thức về phát triển là hàng hóa công cộng toàn cầu” (J.Stiglitz), nhưng các quốc gia giàu có đang sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để ngăn cản sự truyền bá tri thức cho sự phát triển chung cứu thế giới. Nếu tri thức sớm được công nhận là hàng hoá công cộng toàn chữ sẽ đáp ứng yêu cầu của một nền kinh tế tri thức toàn cầu hoá.
“Trà dư tửu hậu” và triết học03/02/2007 11:09' AM Quanh năm quay cuồng với chuyện làm ăn, bàn chuyện kinh tế, chính trị, thời sự; cuối năm có lẽ là dịp để mỗi chúng ta chiêm nghiệm, suy ngẫm về cuộc đời... Thử một lần không bàn về chuyện kinh tế, TBKTSG đã “trà dư tửu hậu” với nhà nghiên cứu triết học phương Tây Bùi Văn Nam Sơn... Bí ẩn Châu Á trong tấm gương triết học Châu Á25/12/2006 08:52' AM Triết học Châu Á hay là triết lý Châu Á không phải là một khái niệm triết học. Đây chỉ là một cách gọi tương đối. Nó khá mơ hồ, không đủ rõ ràng, không có nội hàm xác định, càng không được hiểu như nhau trong mọi văn cảnh. Nếu coi là một khái niệm triết học, thì triết học Châu Á còn mơ hồ hơn cả khái niệm triết học phương Đông... Văn hóa truyền thống Đông Á: có hay không các giá trị nhân quyền?21/12/2006 01:14' PM Bực tức trước việc các quốc gia Châu Á đề cao và khẳng định các giá trị nhân quyền trong truyền thống văn hoá của châu lục, gần đây, một số người phương Tây đã chỉ trích rằng, văn hoá truyền thống ở phương Đông nói chung, ở Đông Á nói riêng chủ yếu bao hàm những tư tưởng độc tài, phi dân chủ, tàn bạo mà không hoặc chứa đựng rất ít những giá trị nhân quyền Tìm hiểu về tư tưởng cải cách triết học của L.Phoiơbắc05/10/2006 12:00' AM Phoiơbắc là đại biểu cuối cùng của triết học cổ điển Đức, người đã đem đến sự kết thúc đầy ý nghĩa toàn bộ nền triết học phương Tây cổ điển nói chung, triết học cổ điển Đức nói riêng. Tư tưởng cải cách triết học ở Phoiơbắc được hình thành từ năm 1829, khi ông vừa hoàn thành Luận án Tiến sĩ và bắt đầu giảng môn logic học và siêu hình học tại Erlangen... Khoa học hiện đại và triết học24/09/2006 06:03' PM Thế giới ngày nay hiện ra như một tấm thảm rộng mênh mông làm bằng nhiều mảnh bị tung toé ra, không sao ghép lại một cách khoa học được,- điều không giống như người ta nghĩ trước đây. Đầu thế kỷ chúng ta, khoa học đi chậm lại vì đường đi trước mắt không còn tỏ tường. Triết học đã làm cho con đường đó sáng lên. Khoa học đã nhìn thấy gốc của mình ở siêu hình học và từ đó nó vươn vai đứng lên mạnh mẽ như ngày hôm nay... Triết học có thể đóng vai trò gì trong cuộc sống?06/08/2006 06:32' AM ...đề cập đến hai thái cực trái ngược nhau khi đánh giá vai trò của triết học trong cuộc sống: Thái cực coi thường vai trò của triết học và thái cực ngược lại, lại tuyệt đối hoá vai trò của triết học, cho rằng chỉ cần nắm được triết học thì sẽ giải quyết được tất cả các vấn đề cụ thể của cuộc sống... Cây tre thần08/03/2010 08:32' AM Thời Bắc thuộc, sau khi bị tước đoạt hết các tài sản tinh thần bằng văn bản, trong đó có cả Kinh Dịch, người Việt ta có cách lưu giữ lại bằng hiện vật (ví dụ trống đồng), phong tục lối sống, truyện cổ tích và dân ca tục ngữ. Quẻ Thuỷ Trạch Tiết là một ví dụ sống động. Lại bình về giá trị chất xám06/03/2010 09:54' AM Có lúc nào đó ta quen nghĩ hoặc bị ép nghĩ: Cuộc sống cách mạng không còn cái bi, chỉ có cái hùng, dẫu cuộc chiến đấu của dân tộc đầy những hy sinh, những khổ đau... Ta đã quên ý Mác: ngay sự ngu dốt cũng gây nhiều bi kịch. Mà sự dốt nát thì đâu phải là chuyện con người có thể thanh toán một lần là xong. Đó là chuyện đồng hành cùng nhân loại, để cho con người đi từ chỗ nhiều đến ít dần đi sự ngu dốt, ít dần đi chứ không bao giờ hết. Những điều cần phải biết trên hành trang đời người05/03/2010 09:02' AM Trên đường đời, ta có biết và biết đúng những kiến thức cần phải biết, ta mới có cơ sở để làm, làm đúng và làm tốt những việc cần phải làm. Có như vậy ta mới có cơ sở để tránh xa ba cái ngu dốt ở đời và tiệm cận với con người thật sự khôn ngoan. Trong các điều kiện cần phải biết, có điều chỉ cần học một câu cũng tạm đủ, có điều phải học cả chục năm. Bể học không bờ, siêng năng là bến, có học mới nên khôn, mới nên NGƯỜI. Dân chủ và dân trí03/03/2010 12:41' PM Ngày nay, hai từ "dân chủ" đang được nhắc đến nhiều trong xã hội. Không ít người nghĩ dân chủ là sự thoải mái đóng góp ý kiến, bàn bạc của bất kỳ người dân nào. Trí tuệ của tập thể, của cộng đồng là cần thiết song nói như Lênin: "Chân lý không phải bao giờ cũng thuộc về số đông". Không thể có dân chủ đứng một mình mà đi kèm theo nó phải là dân trí để thành một đôi chân bước trên đường dài, vượt qua những khó khăn, cản trở phía trước. Chủ nghĩa xã hội trên nền tảng dân chủ26/02/2010 04:20' PM Hơn 50 năm nay, cụm từ “chủ nghĩa xã hội” đã trở nên quen thuộc với đông đảo nhân dân ta. Trong quá trình đổi mới và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhận thức về chủ nghĩa xã hội đã có những thay đổi quan trọng, song chưa phải mọi vấn đề đã được giải đáp rõ ràng, phù hợp với cuộc sống thực tế. Minh triết Tam Giáo trong văn hóa Việt23/02/2010 04:07' PM Thời nào cũng vậy, nội lực mạnh mẽ trong đời sống tinh thần và hoạt động xã hội, tinh thần tự xét mình và tự giác cao, bản lĩnh độc lập và tinh thần cầu thị trong sự xem xét và phán xét riêng, coi trọng dư luận của quần chúng nhưng không bị ràng buộc bởi bất cứ dư luận nào..., những đức tính này thường là được thiên hạ quý trọng, ở đâu cũng vậy thôi, là người hẳn hoi không thể thiếu những đức tính nói trên. 12 con giáp gốc Việt13/02/2010 10:32' AM Xưa nay như người ta vẫn lầm lẫn nhầm tưởng rằng 12 con giáp có xuất xứ từ Trung Hoa. Tuy nhiên, mới đây trong một công trình nghiên cứu về ngôn ngữ Việt cổ- nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Nguyễn Cung Thông phát hiện ra nguồn gốc 12 con giáp có xuất xứ từ Việt Nam. Hãy suy nghĩ như một triết gia và làm như một người thợ06/01/2010 09:28' AM Anh Giản Tư Trung - Hiệu trưởng Trường Doanh nhân PACE - người đang tâm huyết và mải mê với các dự án giáo dục của mình, cùng hy vọng nâng cao doanh trí và dân trí, đã có cuộc trò chuyện với SVVN về cách đào tạo hiện nay ở các trường ĐH ở VN. Bài khác: Ý thức toàn cầu và vai trò của triết học trong việc xây dựng ý thức toàn cầu01/01/1900 12:00' AM Toàn cầu hoá là một xu thế tất yếu, khách quan, nó vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực đặt ra cho tất cả các quốc gia, dân tộc cả những vận hội lẫn những thách thức. Việc nhận thức những vấn đề toàn cầu đòi hỏi phải có ý thức toàn cầu. Ý thức toàn cầu, theo tác giả, có các đặc trưng:
- Phản ánh uy thế của các giá trị toàn nhân loại,
- Nó phải được chỉnh lý một cách căn bản trong sự tự ý thức của từng dân tộc cũng như của từng cá nhân,
- Có tính khoa học cao, để xây dựng ý thức toàn cầu, triết học đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Vai trò này thể hiện ở hai chức năng cơ bản của nó: chức năng thế giới quan và chức năng phương pháp luận.
Thay đổi từ đâu?01/01/1900 12:00' AM Kết thúc một năm cũ, suy nghĩ rất tự nhiên của mỗi người là mong những cái mới. Nam giới ưa mạo hiểm, lại chỉ thích làm chuyện "to tát" nên năm mới cũng là thời điểm để bắt đầu một dự án mới, một công việc mới hoặc một cuộc chinh phục mới. Tất cả đều mong muốn có sự thay đổi! Quan niệm của Gi.P.Xáctơrơ về con người trong “Hiện sinh một nhân bản thuyết”01/01/1900 12:00' AM Theo Gi.P.Xáctơrơ (Jean - Paul Sartre - 1905 - 1980), chủ nghĩa hiện sinh là một chủ nghĩa nhân đạo. Trong quan niệm của ông, chủ nghĩa nhân đạo này không phải là lý thuyết đề cao "lòng thương người, mà là một học thuyết về con người - một triết học về sự tồn tại của thực thể người trong thế giới. Mục tiêu của nó là mang lại tự do cho con người và vì thế, ông đã dồn công sức để nghiên cứu về con người. Bước đầu tìm hiểu con người trong triết học của Kant01/01/1900 12:00' AM (1724 - 1804), là người sáng lập triết học cổ điển Đức, nhà tư tưởng lớn của nhân loại. Hệ thống triết học của ông bao chứa lượng tri thức phong phú thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó nhân bản học chiếm vị trí không nhỏ. Ở thời đại văn minh hiện nay, khi có một số quan điểm quá coi trọng những thành tựu khoa học công nghệ, đến mức tuyệt đối hoá những giá trị vật chất, mà xem nhẹ những giá trị tinh thần nhân văn, thì việc tìm hiểu triết học của Kant có thể giúp chúng ta trở về với những quan điểm nhân văn hơn. Tiêu chuẩn logic trong nhận thức chân lý01/01/1900 12:00' AM Có thể nói, bằng sự tổng kết toàn bộ tiến trình phát triển lịch sử của nhận thức, Hêgen đã xác định rõ trình độ của mỗi giai đoạn nhận thức và vai trò của các học thuyết logic: "Phép biện chứng: phép biện chứng bên ngoài, sự suy luận không đâu vào đâu, mà trong đó linh hồn của bản thân sự vật không được hoà tan. Những thách đố của tính phức hợp09/11/2006 06:59' PM Tính phức hợp là một vấn đề, một bài toán, đó là một thách đố chứ không phải là lời giải đáp. Thế nhưng tính phức hợp là gì? Nan đề và hóa giải nan đề từ hướng tiếp cận toàn thể của I.Cantơ đến toàn thể luận cương đại04/11/2006 11:53' AM Trong lịch sử triết học và khoa học, I.Cantơ là người đã có công làm rõ những vấn đề nan giải của triết học và khoa học. Tôi gọi tắt vấn đề nan giải là nan đề. Nan giải là khó giải chứ không giải được. Như đã biết, I.Cantơ đã bàn về hai loại nan đề cơ bản có liên quan với nhau. Một là song đề nhận thức luận, đó là sự đối lập loại trừ nhau giữa các chủ thuyết duy lý và duy nghiệm và hai là song đề logic dưới dạng các antinomien: chính đề - phản đề... Tổng - tích hợp lý thuyết - một đóng góp quan trọng cho tiến trình phát triển tư duy lý luận16/09/2006 08:26' AM Gần đây, trong giới nghiên cứu triết học, ngày càng có nhiều tác giả quan tâm tới trào lưu tổng - tích hợp lý thuyết. Chẳng hạn, trong bài viết Triết học phương Tây hiện đại: một cái nhìn khái quát, Đỗ Minh Hợp đã ghi nhận các song đề lý thuyết trong triết học hiện đại: Triết học chống tôn giáo - triết học tôn giáo, Triết học thực chứng - triết học hiện sinh, Triết học duy lý - triết học phi duy lý… |