Đang tải dữ liệu...
ChúngTa.com.NET CommunityHanoi Software JSCDoanh nhân 360

Giới thiệuGiáo dụcSuy ngẫm & Triết lýKinh doanhKỹ năng - Nghề nghiệpCNTT - Viễn thôngThư giãn & Giải trí 
Chào mừng đến với ChúngTa.com

ChúngTa.com kiên trì 4 năm qua theo đuổi mục đích cung cấp những "món ăn tinh thần" hữu ích, hàm lượng tri thức cao giúp bạn trẻ nối dài phương pháp suy nghĩ, có thêm tư liệu tốt cho nhận thức và cải tạo thế giới.

Để xây dựng tòa nhà tri thức và sử dụng tòa nhà với nhiều tiện nghi, giúp bạn đọc thực sự làm chủ được toàn bộ khối lượng tri thức, ChúngTa.com chuyển sang giai đoạn 2 là tổ chức và tăng cường các khả năng khai thác/chia sẻ tri thức.

Giới thiệu... Trao đổi...
Tìm bài viết
Tìm kiếm nâng cao
Thống kê
Số lượt truy cập: 13.997.077
Số người trực tuyến: 244
Trong đó có 1 thành viên: thanhthuy

Trang chủ  >  Suy ngẫm  >  Điểm sách hay
Giới thiệu sách

Nền đạo đức Tin Lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản

Minh Bùi tổng hợp   
09:29' PM - Thứ hai, 29/09/2008

Quyển "Nền đạo đức Tin Lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản" của Max Weber, đã được dịch ra trên 20 thứ tiếng, và cho đến nay có lẽ là quyển được đọc và thảo luận nhiều nhất trong ngành xã hội học. Tác phẩm này trở thành một tài liệu giáo khoa không thể thiếu trong các phân khoa học xã hội ở các đại học trên thế giới. Trong công trình này, Weber đi tìm nguồn gốc của sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản cận đại Âu châu nơi ethos và nền đạo đức khổ hạnh duy lý Tin Lành...

Giới thiệu về nội dung

Max Weber (tên đầy đủ là Maximilian Carl Emil Weber) (1864 - 1920), nhà xã hội học người Đức, là một trong số ít tác giả có tầm ảnh hưởng lớn lao trong ngành xã hội học, và được xem là một trong những ông tổ của ngành khoa học xã hội này, bên cạnh những tác giả tên tuổi như Karl Marx, E'mile durkheim,....

Một số luận điểm và công trình nghiên cứu của ông đã và vẫn còn tiếp tục là đề tài gây tranh luận trong giới học thuật, kể cả về phía những người ngưỡng mộ lẫn phía những kẻ phê phán. Kể từ khi có bản dịch đầu tiên sang tiếng Nga cho tới những bản dịch sang tiếng Nhật sau này, các công trình của ông đã không ngừng gây ảnh hưởng lớn lao tới các bước phát triển của ngành xã hội học ở hầu như tất cả các nước trên thế giới.

Quyển "Nền đạo đức Tin Lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản" (1904 - 1905) của Max Weber, đã được dịch ra trên 20 thứ tiếng, và cho đến nay có lẽ là quyển được đọc và thảo luận nhiều nhất trong ngành xã hội học. Tác phẩm này trở thành một tài liệu giáo khoa không thể thiếu trong các phân khoa học xã hội ở các đại học trên thế giới.

Trong công trình này, Weber đi tìm nguồn gốc của sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản cận đại Âu châu nơi ethos và nền đạo đức khổ hạnh duy lý Tin Lành. Luận điểm độc đáo của Weber một mặt đã phác hoạ một cái khung phương pháp luận nhằm tìm hiểu những động lực văn hoá - tinh thần vốn luôn luôn chi phối, thúc đẩy hoặc cản trở các quá trình biến đổi kinh tế - xã hội, nhưng mặt khác cũng gợi ra cho chúng ta nhiều câu hỏi bổ ích cần tiếp tục nghiên cứu và giải đáp trong bài toán phát triển ở từng "nền văn hoá", từng quốc gia trong thế giới hiện đại.

Đâu là nguồn gốc ra đời của chủ nghĩa tư bản cận đại ở Châu Âu? Thế nào là "tinh thần" của chủ nghĩa tư bản? Cần hiểu thế nào về mối quan hệ giữa kinh tế và văn hoá? Đấy chỉ là một vài trong số nhiều vấn nạn mà Max Weber cố gắng đưa ra lời lý giải trong công trình này.


Mục lục

Vài ghi chú của nhóm dịch giả
Những chữ viết tắt
Những chữ viết tắt các quyển Kinh Thánh mà Max Weber trích dẫn

Lời giới thiệu
Lời nhận xét mở đầu

Max Weber - Nền đạo đức tinh lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản

Phần I: Vấn đề

Chương 1: Tôn giáo và sự phân tầng xã hội
Chương 2: "Tinh thần" của chủ nghĩa tư bản
Chương 3: Khái niệm "Beruf" theo Luther. Các mục tiêu nghiên cứu

Phần II: Quan niệm đạo đức về nghề nghiệp trong đạo tin lành khổ hạnh

Chương 4: Các nền tảng tôn giáo của nền khổ hạnh tại thế
Chương 5: Nền khổ hạnh và tinh thần của chủ nghĩa tư bản
Các giáo phái tin lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản
Thư mục các công trình được Max Weber trích dẫn trong quyển sách này
Niên biểu tóm tắt cuộc đời và một số công trình chính của Max Weber

Tác phẩm của Max Weber
Thư mục chọn lọc một số công trình nghiên cứu về Max Weber


Tinh thần kinh doanh (theo quan điểm của Weber)
Trần Hữu Quang, Thời báo kinh tế Sài Gòn


Để tìm hiểu khái niệm tinh thần kinh doanh, trước hết chúng ta cần trở lại với những tư tưởng độc đáo của Max Weber, nhà xã hội học Đức, người thường được coi là một trong những ông tổ của ngành xã hội học, khi ông viết về tinh thần của nhà kinh doanh để giải thích sự ra đời của xã hội tư bản chủ nghĩa.

Thoạt tiên, Weber nhấn mạnh rằng, trái ngược với quan niệm ngộ nhận thông thường, chủ nghĩa tư bản hoàn toàn không phải là hệ quả của ham muốn chiếm hữu hay ham muốn chạy theo tiền bạc, vốn là hiện tượng có thể bắt gặp ở bất cứ xã hội nào vào bất cứ thời đại nào. “Lòng hám lợi vô độ không hề giống chút nào với chủ nghĩa tư bản, và lại càng không mảy may liên quan gì tới tinh thần của nó”. Ngược lại, chủ nghĩa tư bản, theo Weber, “chính là sự chế ngự, hay chí ít là sự điều tiết bằng lý tính, cái bản năng phi lý tính ấy” [8].

Theo Weber, trên khắp thế giới ở đâu cũng có thương nhân, những người cho vay, những nhà kinh doanh trong chế độ thực dân, những ông chủ đồn điền sở hữu nô lệ, những kẻ đầu cơ, những “kẻ phiêu lưu tư bản chủ nghĩa”… Nhưng phần lớn hoạt động của những loại người này “đều mang tính chất thuần túy phi lý tính và đầu cơ, hoặc là thiên về cách chiếm hữu bằng bạo lực, nhất là chiếm đoạt chiến lợi phẩm thông qua chiến tranh, hay dưới hình thức chiến lợi phẩm tài chính, nghĩa là thông qua việc bóc lột những người bị trị” [8]. Theo Weber, đấy chỉ là những loại hình chủ nghĩa tư bản thương mại, chủ nghĩa tư bản hướng đến chiến tranh, hoặc là một thứ chủ nghĩa tư bản phiêu lưu mà thôi.

Weber cho rằng chủ nghĩa tư bản đúng nghĩa chỉ bắt đầu xuất hiện ở xã hội Âu châu thời cận đại. Ông định nghĩa “hành vi kinh tế tư bản chủ nghĩa” là “hành vi dựa trên hy vọng đạt được doanh lợi bằng cách tận dụng những cơ hội trao đổi, nghĩa là dựa trên những cơ may chiếm hữu một cách hòa bình (về mặt hình thức)”. Và ông định nghĩa chủ nghĩa tư bản chính là sự tồn tại và sự hoạt động của những doanh nghiệp mang mục đích làm ra lợi nhuận “luôn luôn tái sinh” và có lối tổ chức thuần lý đối với lao động và sản xuất [8]. Từ xưa tới nay, thương nhân nào cũng muốn kiếm lời tối đa qua mỗi vụ buôn bán. Nhưng nét đặc trưng của nhà kinh doanh tư bản chủ nghĩa không phải là đi tìm “lợi nhuận tối đa”, mà là ở chỗ ông ta luôn nung nấu ham muốn tích lũy không ngừng ngày càng nhiều, và do vậy mà ý chí sản xuất-kinh doanh của ông ta cũng trở nên không có giới hạn. Chính là sự kết hợp giữa ham muốn lợi nhuận với tính kỷ luật thuần lý và lối tổ chức sản xuất thuần lý mới tạo nên nét đặc trưng của chủ nghĩa tư bản Tây phương [1].

Ngoài việc nhìn nhận vai trò tác động quan trọng của những yếu tố như thị trường và kỹ thuật, Max Weber còn đặc biệt nhấn mạnh tới sự tồn tại hết sức cần thiết của một nền luật pháp và một bộ máy hành chính được xây dựng trên cơ sở thuần lý, vì chỉ có như vậy mới có thể hình thành được một nền kinh doanh hiện đại và một tinh thần kinh doanh lành mạnh. Ông viết: “Chủ nghĩa tư bản doanh nghiệp thuần lý hiện đại đòi hỏi phải có sự tiên liệu có tính toán, không chỉ về mặt kỹ thuật sản xuất, mà cả về mặt luật pháp, cũng như một bộ máy hành chính với những quy tắc hình thức rõ ràng. Không có những yếu tố này, thì chắc chắn sẽ có thể nảy sinh thứ chủ nghĩa tư bản phiêu lưu và thương mại đầu cơ, cũng như đủ mọi loại chủ nghĩa tư bản chịu sự chi phối của chính trị, chứ không thể nảy sinh loại hình doanh nghiệp thuần lý được điều khiển bởi sự chủ động của cá nhân với một số vốn thường trực và sự tiên liệu vững chắc” [8].

Khái niệm “tinh thần của chủ nghĩa tư bản” (the spirit of capitalism) của Weber, theo nhà xã hội học Mỹ Talcott Parsons, không phải chỉ nói về sự chiếm hữu như nhiều tác giả thường lầm tưởng, mà trước hết và chủ yếu bao hàm tư duy lý tính (rationalism) - hiểu như là một tâm thế mở luôn hướng đến những cách giải quyết vấn đề mới, đối lập với óc thủ cựu (traditionalism); và một thái độ tận tâm và chuyên cần đối với công việc vì chính công việc chứ không vì mục đích nào khác, thái độ mà Weber diễn giải trong một khái niệm mang ý nghĩa kép là “Beruf” (tiếng Đức, có nghĩa là nghề nghiệp-thiên chức, hay nghề nghiệp-bổn phận) [4]. Giả thuyết nổi tiếng của Weber là chính quan niệm đạo đức và tinh thần “khổ hạnh” (Askese) duy lý của đạo Tin lành đã tạo ra một tâm thế và một môi trường xã hội thuận lợi cho sự ra đời của chủ nghĩa tư bản. Con người có bổn phận lao động một cách cần cù và duy lý nhằm tạo ra doanh lợi và phải có một lối sống cần kiệm - đây chính là lối ứng xử cần thiết cho sự hình thành của nhà kinh doanh, bởi nó có nghĩa là phải lao động cật lực và không ngừng tái đầu tư số lợi nhuận mới được tạo ra nhằm có thể tiếp tục phát triển các phương tiện sản xuất [8].

. . . .

Tài liệu tham khảo:

[1] Raymond Aron, Les étapes de la pensée sociologique (1967), Paris, Gallimard, 1993.

[2] Peter Drucker, Innovation and Entrepreneurship (1985), New York, Harper&Row Publ., Perennial Library, 1986.

[3] Peter Drucker, The Effective Executive, HarperCollins, 1966.

[4] Talcott Parsons, “Introduction”, trong Max Weber: The Theory of Social and Economic Organization (1947), New York, The Free Press, 1964.

[5] Joseph Schumpeter, Théorie de l’évolution économique (1911).

[6] Joseph Schumpeter, Capitalisme, socialisme et démocratie (1942), Paris, Petite Bibliothèque Payot, 1963.

[7] Trần Văn Thọ, “Nếu không có tinh thần doanh nghiệp…” (bài thuyết trình do Công Thắng lược ghi), TBKTSG, 10-10-2002, tr. 34.

[8] Max Weber, Nền đạo đức Tin lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản (1904-1905), bản dịch của Bùi Văn Nam Sơn, Nguyễn Nghị, Nguyễn Tùng và Trần Hữu Quang, Nhà xuất bản Tri thức, tủ sách Tinh hoa tri thức thế giới.


Chủ nghĩa tư bản ra đời từ đâu?

K. Thức, Sài Gòn tiếp thị

Trong Lời nhận xét mở đầu cuốn Nền đạo đức Tin Lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản (1) viết năm 1919, Max Weber phản bác lại quan niệm ngộ nhận thông thường cho rằng chủ nghĩa tư bản hoàn toàn không phải là hệ quả của lòng hám lợi hay máu tham tiền vốn là những hiện tượng mà người ta có thể bắt gặp ở bất cứ xã hội nào vào bất cứ thời đại nào. Ông viết: “(…) Ham muốn ấy đã từng tồn tại và đang tồn tại nơi những người hầu bàn, bác sĩ, người xà ích, nghệ sĩ, người đàn bà lẳng lơ, viên chức tham ô nhũng lạm, người lính, kẻ trộm cắp, kẻ viễn chinh, cờ bạc, ăn mày. (…) Lòng hám lợi vô độ không hề giống chút nào với chủ chủ nghĩa tư bản, và lại càng không mảy may liên quan gì tới tinh thần của nó”.

Ngược lại, chủ nghĩa tư bản, theo Weber, “chính là sự chế ngự, hay ít nhất cũng là sự điều tiết bằng lý tính, cái bản năng phi lý tính ấy”. Sự chế ngự và điều tiết ấy lại phù hợp với một số yếu tố của đạo Tin Lành, tạo ra được động cơ thuận lợi cho sự hình thành của chế độ tư bản chủ nghĩa trong xã hội phương Tây thời cận đại, chứ không ở bất cứ nơi nào khác.

Nền đạo đức Tin Lành mà Weber phân tích trong quyển sách nói trên chủ yếu là quan niệm giáo thuyết của phái Calvin. Theo đó, tín đồ không thể biết được là mình sẽ được cứu độ hay sẽ bị kết án, và đây là điều làm cho họ cảm thấy lo âu, khắc khoải. Để thoát ra khỏi nỗi lo âu này, do xu hướng tâm lý tự nhiên, họ sẽ đi tìm trong thế giới này những dấu hiệu chứng tỏ mình được chọn. Weber cho rằng chính vì thế mà một số tông chứng tỏ mình được Thiên Chúa chọn thông qua thành quả và sự nghiệp của mình trong thế gian, trong đó có sự thành công về mặt kinh tế. Do vậy cá nhân bị thúc đẩy đến chỗ phải cần cù làm việc để vượt qua nỗi khắc khoải là không biết mình có được cứu rỗi hay không. Weber viết: “(…) Để đạt tới sự tự tin này, cách thức thích hợp nhất được khuyến khích là “hãy làm việc không ngơi nghỉ trong một nghề” [rastlose Berufsarbeit].

Từ khái niệm Beruf mang ý nghĩa thiên chức của con người, Weber viết như sau: “Một trong các bộ phận cấu thành của tinh thần tư bản chủ nghĩa hiện đại, tức là lối sống thuần lý dựa trên ý tưởng Beruf, đã được phát sinh từ tinh thần của nền khổ hạnh Kitô giáo – đó chính là điều mà các trình bày của chúng tôi muốn chứng minh”.

Trong một công trình khác, Weber đã từng so sánh giáo thuyết Thanh giáo ở châu Âu với tư tưởng Nho giáo ở Trung Hoa: nhà Nho điển hình chi tiêu những khoản tiết kiệm của mình và của gia đình để đỗ đạt cao, ra làm quan, bảo đảm cho mình cơ sở xã hội của một cuộc sống giàu sang. Tín đồ Thanh giáo điển hình kiếm được nhiều tiền, tiêu xài ít, và do bị thúc bách phải tiết kiệm bởi tư tưởng khổ hạnh, nên tái đầu tư các khoản lợi nhuận của mình dưới hình thức tư bản vào các doanh nghiệp tư bản chủ nghĩa thuần lý. “Tư duy duy lý” Nho giáo hàm nghĩa là một sự thích nghi duy lý với thế gian; còn tư dư duy lý Thanh giáo là một sự làm chủ duy lý đối với thế gian.

Theo Weber, cả hai đều không thể làm nảy sinh được “tinh thần tư bản chủ nghĩa”.

Max Weber là một trong những ông tổ của ngành xã hội học. Cuốn sách trên viết vào những năm 1904 - 1905, đã được dịch ra trên 20 thứ tiếng và cho đến nay có lẽ là cuốn được đọc và thảo luận nhiều nhất trong ngành xã hội học.

Qua cuốn sách, người đọc sẽ thấy một cách kiến giải về nguồn gốc của chủ nghĩa tư bản cận đại ở châu Âu, thế nào là tinh thần của chủ nghĩa tư bản, mối quan hệ giữa kinh tế và văn hoá, v.v.

(1) Bản dịch của Bùi Văn Nam Sơn, Nguyễn Nghị, Nguyễn Tùng và Trần Hữu Quang, NXB Tri Thức, quý 1/2008.

Trang:  1/2  1   2   »
Số lượt đọc:  930  -  Cập nhật lần cuối:  30/09/2008 02:50:46 PM
  Ý kiến của bạn:
Bài mới:  
Hy vọng táo bạo
12/11/2008 08:45' AM
Ghi chú về nghệ thuật
25/10/2008 11:18' AM
Bài khác:
Luân lý & Giá trị
Những chấn thương tâm lý hiện đại
Thế hệ trẻ văn minh hay bơ vơ
Vật chất hấp dẫn nên lòng tham ngự trị
Trang chủGiới thiệuLiên hệ