Đang tải dữ liệu...
ChúngTa.com.NET CommunityHanoi Software JSCDoanh nhân 360
Home
 
Suy ngẫm
 
Giáo dục
 
Trải nghiệm Trưởng thành
 
Kinh doanh
 
CNTT
 
Góc Giải trí
 
Tác giả
   Bản chất thế giới    Nhận thức    Hệ giá trị    Thực tiễn-Hành động    Ngẫm nghĩ Việt Nam    Điểm sách hay
Tìm bài viết
Tìm kiếm nâng cao
Thống kê
Số lượt truy cập: 44.540.966
Số người trực tuyến: 109
Bạn đọc đến từ đâu?

Bạn đọc của ChúngTa.com đến từ đâu?

Suy nghĩ về việc tìm lại giấc mơ Mỹ

Hy vọng táo bạo

   
08:45' AM - Thứ tư, 12/11/2008

Chương 1. Đảng Cộng hòa và đảng Dân chủ

Tôi vẫn nhớ ngày trước lễ tuyên thệ nhậm chức thượng nghị sĩ, tôi và các nhân viên quyết định nên tổ chức một cuộc họp báo ở văn phòng. Lúc đó tôi xếp ở vị trí 99 về mức độ thâm niên trong thượng viện. Đó cũng là ngày làm việc đầu tiên của tôi ở đây.

Tôi chưa hề tham gia một lần bỏ phiếu nào, chưa hề đề xuất một dự luật nào - thực tế là tôi còn chưa ngồi vào bàn làm việc của mình khi một phóng viên rất nghiêm chỉnh giơ tay và hỏi: “Thưa thượng nghị sĩ Obama, đâu là chỗ ngồi lịch sử của ông?”.

Điểm sáng hiếm hoi

Ngày 4-1-2005, tôi và một phần ba thượng viện đọc lời tuyên thệ nhậm chức thượng nghị sĩ khóa 109. Từ Illinois, Hawaii, London và Kenya, gia đình và bạn bè tôi tụ tập trên dãy bao lơn dành cho khách để chúc mừng khi tôi và các đồng nghiệp mới đứng cạnh bục đá cẩm thạch, giơ cánh tay phải đọc lời tuyên thệ. Một ngày của những nụ cười và lời cảm ơn, của sự lịch thiệp và hào nhoáng - đó là hình ảnh trong mắt những vị khách đến Capitol.

Sau khi gia đình và bạn bè đều đã về nhà, sau khi buổi tiếp tân kết thúc và mặt trời lại trốn sau bức màn xám xịt của mùa đông, một sự thật duy nhất, có vẻ như không thể thay đổi, chắc chắn lại lơ lửng trên thành phố này: đất nước chúng ta đang bị chia rẽ, và Washington cũng bị chia rẽ, sự chia rẽ về chính trị chưa từng có kể từ trước Thế chiến thứ hai. Đối với tôi, những chuyện này hoàn toàn không đáng ngạc nhiên. Tôi đã quan sát từ xa những cuộc chiến chính trị leo thang ở Washington.

Về cá nhân mà nói, một chính quyền nếu thật sự đại diện cho người Mỹ - và thật sự phục vụ người Mỹ - sẽ đòi hỏi phải có một nền chính trị kiểu khác. Nền chính trị đó cần phản ánh cuộc sống thực tế của chúng ta, chứ không phải là loại sản phẩm đã được đóng gói và chỉ việc lấy ra khỏi giá. Nó phải được dựng nên từ những gì là truyền thống tốt đẹp nhất và phải nhìn nhận đến cả những phần tối trong lịch sử của chúng ta.

Kim chỉ nam cho hoạt động chính trị

Một phẩm chất mà tôi nhận thấy khi ngày càng lớn tuổi thì tôi càng coi trọng hơn, đó là sự thấu cảm. Phẩm chất này là cốt lõi quy tắc đạo đức của tôi, là ý nghĩa của cái gọi là quy tắc vàng đối với tôi - không chỉ đơn giản là đòi hỏi cần phải thông cảm hay nhân ái mà còn là một yêu cầu khác cao hơn, đòi hỏi phải biết đứng vào vị trí của người khác và nhìn mọi việc bằng con mắt của người đó.

Giống như các giá trị khác, tôi học được tính thấu cảm từ mẹ tôi. Mẹ tôi khinh ghét mọi biểu hiện của sự độc ác, thiếu suy nghĩ và lạm dụng sức mạnh, bất kể chúng biểu hiện qua định kiến màu da, trẻ con bắt nạt nhau ở trường hay công nhân bị trả lương quá thấp. Bất cứ khi nào bà thấy dấu hiệu của những tính xấu đó trong con người tôi, bà thường nhìn thẳng vào mắt tôi và hỏi: “Con nghĩ việc đó sẽ khiến con cảm thấy thế nào?”.

Đến giờ tôi thấy mình ngày càng quay lại gần hơn với nguyên tắc sống cơ bản của mẹ tôi. “Con nghĩ việc đó sẽ khiến con cảm thấy thế nào?” - câu nói đó trở thành kim chỉ nam cho hoạt động chính trị của tôi.

Tôi có cảm giác mình như một anh chàng lính mới, xuất hiện sau cuộc chiến với bộ quân phục sạch bóng, không một hạt bụi, hăm hở được tham gia trong khi đồng đội vấy đầy bùn đang chăm sóc vết thương.

Khi tôi đang bận rộn với những buổi phỏng vấn và chụp ảnh, với đầy những ý tưởng cao cả rằng cần giảm bớt tư tưởng đảng phái và thái độ gay gắt thì phe Dân chủ bị đánh bại trên toàn bộ các mặt trận - vị trí tổng thống, số ghế đa số trong thượng viện và hạ viện đều thuộc đảng Cộng hòa. Các đồng sự Dân chủ đã chào đón tôi một cách không thể nhiệt tình hơn; họ gọi chiến thắng của tôi là “một trong những điểm sáng hiếm hoi của đảng ta”.

Buổi lễ tuyên thệ nhậm chức vào thượng viện đã chấm dứt chuỗi ngày dài kể từ khi tôi tuyên bố ứng cử hai năm trước đó - tôi đã đánh đổi một cuộc sống tương đối vô danh lấy một cuộc sống hết sức công khai trước mọi người.

Chắc chắn nhiều thứ vẫn không thay đổi. Gia đình tôi vẫn sống ở Chicago. Nhưng đối với tôi, cả thế giới đã thay đổi một cách sâu sắc, theo những cách mà không phải bao giờ tôi cũng để ý chấp nhận. Lời nói, hành động, kế hoạch đi lại và bản khai thu nhập cá nhân của tôi, tất cả đều xuất hiện trên mặt báo buổi sáng hoặc bản tin ban đêm. Các con tôi bị nhiều người lạ tử tế chặn lại trên đường mỗi khi cùng tôi đi chơi vườn bách thú.

Hội nghị tranh luận lớn nhất thế giới

Hầu hết mọi ngày tôi vào điện Capitol qua đường tầng hầm. Phòng họp thượng viện không phải là nơi đẹp nhất điện Capitol, nhưng nó cũng gây ấn tượng mạnh. Trên những bậc thang thoai thoải, 100 chiếc bàn bằng gỗ gụ xếp thành bốn vòng hình móng ngựa vây quanh khu chủ tọa. Một vài chiếc trong số này có từ năm 1819, và trên mỗi bàn có một hộp nhỏ để lọ mực và bút lông. Mở ngăn kéo của bất kỳ bàn nào bạn cũng sẽ thấy tên của thượng nghị sĩ đã từng sử dụng nó, được chính tay những người đó viết hoặc khắc lên: Taft và Long, Stennis và Kennedy.

Đôi khi đứng trong căn phòng này, tôi tưởng như nhìn thấy Paul Douglas hay Hubert Humphrey đang ngồi ở một trong những chiếc bàn, kêu gọi thông qua luật quyền công dân; hay Lyndon B. Johnson đang đi đi lại lại giữa các dãy ghế, túm cổ áo mọi người và đòi phiếu bầu.

Trừ vài phút đến để bỏ phiếu thì tôi và các đồng nghiệp không dành nhiều thời gian trong phòng này. Phần lớn các quyết định như nên đề xuất dự luật gì, vào thời điểm nào, cần sửa đổi gì, và làm thế nào để những người bất hợp tác quay sang hợp tác... đều đã được giải quyết ổn thỏa từ trước giữa thủ lĩnh phe đa số, chủ tịch ủy ban liên quan, nhân viên của họ và (tùy thuộc mức độ bất đồng cũng như sự rộng rãi của đảng viên Cộng hòa đang xử lý dự luật này) đồng nhiệm của họ ở đảng Dân chủ.

Khi chúng tôi lên đến tầng này và viên thư ký đọc danh sách điểm danh, mỗi thượng nghị sĩ phải quyết định quan điểm của mình sau khi đã tham khảo ý kiến của nhân viên, lãnh tụ phe họ, nhóm vận động hành lang và các nhóm lợi ích, cũng như thư cử tri và khuynh hướng tư tưởng. Ở cái hội nghị tranh luận lớn nhất thế giới này, không ai là người lắng nghe.

Mỗi tuần ở Washington ba ngày nên tôi thuê một căn hộ đơn nhỏ gần Trường Luật Georgetown, trên một tòa nhà cao tầng nằm giữa đồi Capitol và trung tâm thành phố. Ban đầu, tôi cố gắng thưởng thức sự cô đơn mới mẻ, tự ép mình nhớ lại những niềm vui của cuộc sống độc thân. Nhưng vô ích, sau 13 năm lập gia đình, tôi phát hiện mình đã hoàn toàn trở thành người thích sống ở nhà, yếu đuối và không tự làm được cái gì.

Buổi sáng đầu tiên thức dậy ở Washington, tôi nhận thấy mình đã quên mua rèm che bồn tắm và phải bám vào tường để khỏi làm ướt sàn nhà tắm. Đêm tiếp theo, khi ngồi xem thể thao và làm ít bia, tôi ngủ quên sau một hiệp đấu, hai giờ sau tỉnh dậy thấy mình đang ngủ trên ghế xalông và bị vẹo cổ trầm trọng. Mấy món ăn mang về nhà không còn ngon lành, sự tĩnh lặng làm tôi khó chịu.

Tôi gọi điện về nhà thường xuyên chỉ để nghe giọng nói của hai con gái, tôi nhớ da diết cái ôm ấm áp của bọn trẻ và mùi thơm ngòn ngọt trên da thịt chúng. “Chào con yêu!”. “Con chào bố”. “Có gì hay không con?”. “Từ lần trước bố gọi ấy ạ?”. “Ừ đúng rồi”. “Chả có gì bố ạ. Bố muốn nói chuyện với mẹ không ạ?”.

Chương 9. Một gia đình

Vào đầu năm thứ hai làm việc ở thượng viện, cuộc sống của tôi đã đi vào ổn định. Tôi thường rời Chicago vào đêm thứ hai hoặc sáng thứ ba, tùy lịch bỏ phiếu của thượng viện.

Chiều thứ năm chúng tôi được phòng hậu cần thông báo ngày giờ lần bỏ phiếu cuối cùng trong tuần, đến giờ đã định, tôi xếp hàng ở phòng họp thượng viện cùng các đồng nghiệp để bỏ phiếu rồi vội vàng chạy xuống những bậc thang điện Capitol, hi vọng sẽ bắt kịp chuyến bay về đến nhà trước khi bọn trẻ đi ngủ.

Michelle

Phần lớn mọi người khi gặp vợ tôi đều nhanh chóng kết luận cô ấy rất đặc biệt: thông minh, hài hước và luôn duyên dáng. Michelle cũng rất đẹp, mặc dù không phải đẹp theo kiểu làm cho đàn ông cảm thấy nguy hiểm hay phụ nữ cảm thấy khó chịu. Đó là vẻ đẹp sâu thẳm của một người mẹ, của một người bận rộn chứ không phải cái đẹp đập vào mắt như ảnh bìa các tạp chí hào nhoáng.

Tôi gặp Michelle vào mùa hè năm 1988, lúc đó chúng tôi cùng làm việc cho Sidley & Austin, một công ty luật lớn ở Chicago. Mặc dù Michelle trẻ hơn tôi ba tuổi nhưng cô ấy đã hành nghề luật sư và đã từng theo học Trường Luật Harvard ngay sau khi tốt nghiệp. Lúc đó tôi mới học xong năm thứ nhất ở trường luật và làm việc với tư cách cộng tác viên mùa hè. Tôi được biết Michelle lớn lên ở vùng nam Chicago, trong một ngôi nhà nhỏ ngay phía bắc khu dân cư mà tôi làm việc.

Cha Michelle là người điều khiển máy bơm nước cho cả thành phố; mẹ làm nội trợ cho đến khi con cái trưởng thành và hiện bà làm thư ký ở ngân hàng. Vài tuần sau đó, ngày nào chúng tôi cũng gặp nhau, trong thư viện công ty, ở quán cà phê hoặc những lần đi chơi do công ty tổ chức cho cộng tác viên mùa hè để thuyết phục nhân viên rằng gắn bó với nghề luật không có nghĩa là phải nghiên cứu tài liệu giờ này qua giờ khác.

Nhưng cô ấy vẫn từ chối hẹn hò, bảo rằng thế là không thích hợp vì cô ấy là người hướng dẫn tôi. “Lý do đấy chưa đủ - tôi bảo cô ấy - Nói đi, em hướng dẫn anh những gì? Em chỉ cho anh cách dùng máy photocopy. Em gợi ý anh nên thử ăn ở nhà hàng nào đó. Anh không nghĩ ban lãnh đạo sẽ coi một cuộc hẹn là vi phạm nghiêm trọng quy định công ty đâu”. Cô ấy lắc đầu: “Em xin lỗi”. “Thôi được, anh sẽ thôi. Giờ thế nào? Em là người hướng dẫn anh. Nói cho anh biết anh phải nói chuyện với ai”. Cuối cùng tôi cũng cưa đổ được Michelle.

Đám cưới của Obama và Michelle năm 1992

Tôi nghĩ tôi đã học kiên nhẫn hơn trong vài năm qua, với những người khác cũng như từ chính bản thân. Nếu quả vậy, đó là một trong vài sự cải thiện tính cách cá nhân mà tôi cho là nhờ vợ mình Michelle. Cô ấy lớn lên trong một căn nhà gỗ kiểu một tầng mà tôi đã dành nhiều giờ thăm viếng suốt năm đầu tiên của tôi ở Chicago. Tôi nhớ lần đầu tiên tôi đưa Michelle về Hawaii, ông ngoại đã thúc vào hông tôi và nói Michelle quả là một “người đẹp”. Bà ngoại, mặt khác, miêu tả vị hôn thê tương lai của tôi là “một cô gái rất biết điều” - mà Michelle hiểu là lối tán thưởng cao nhất của bà tôi.

Sau khi đính hôn, tôi đưa Michelle về Kenya để gặp gia đình bên nội của tôi. Cô ấy ngay lập tức là một người thành công ở đó, phần nào vì số từ của người Luo trong vốn từ vựng của cô ấy rất nhanh chóng vượt qua tôi. Chúng tôi đã có một thời gian tốt đẹp ở làng Alego, gặp gỡ những bà con mà tôi chưa từng được gặp.

Trích cuốn sách đầu tay Những giấc mơ từ cha tôi (Dreams from my father) của Barack Obama

Sáu tháng sau khi tôi và Michelle gặp nhau, cha Michelle đột ngột qua đời vì biến chứng sau khi phẫu thuật thận. Tôi bay về Chicago, đứng trước huyệt mộ. Michelle gục đầu trên vai tôi. Khi quan tài được hạ xuống, tôi hứa với Frasier Robinson là sẽ chăm sóc con gái ông. Tôi cảm thấy theo một cách nào đó, tuy không nói ra và vẫn chưa chắc chắn, nhưng cô ấy và tôi đã thành một gia đình.

Tình yêu thương

Trong vài năm đầu sau khi kết hôn, Michelle và tôi đã trải qua những giai đoạn điều chỉnh bình thường như mọi cặp vợ chồng khác: học cách đọc cảm xúc của người kia, chấp nhận thói quen và tật xấu của một người xa lạ ngay bên cạnh.

Cả hai đều làm việc chăm chỉ: tôi hành nghề luật ở một công ty nhỏ chuyên về quyền công dân và bắt đầu giảng dạy ở Trường Luật Chicago; còn Michelle lại quyết định bỏ nghề luật, lúc đầu cô ấy làm ở Sở Quy hoạch Chicago, sau đó phụ trách hoạt động ở Chicago cho một chương trình quốc gia tên là Liên minh Xã hội. Thời gian chúng tôi bên nhau càng ít hơn khi tôi tranh cử vào cơ quan lập pháp bang, và dù tôi thường vắng mặt dài ngày và Michelle không thích chính trị, cô ấy vẫn ủng hộ quyết định của tôi: “Em biết đó là điều anh muốn”.

Rồi Malia ra đời, sinh ngày 4-7-1999, rất hiền lành và xinh đẹp. Malia sinh ra vào khoảng thời gian lý tưởng với cả hai chúng tôi: vì tôi không phải họp và cũng không có giờ giảng vào mùa hè nên tối nào tôi cũng có thể ở nhà; trong khi đó Michelle đồng ý làm việc bán thời gian ở Đại học Chicago để có nhiều thời gian chăm sóc con hơn. Nhưng rồi sang mùa thu - khi các lớp tôi dạy bắt đầu vào học, nghị viện bang cũng quay lại làm việc và Michelle đi làm, quan hệ giữa hai chúng tôi bắt đầu xuất hiện căng thẳng.

Tôi thường đi vắng ba ngày liền và kể cả khi về Chicago tôi vẫn phải đi họp buổi tối, phải chấm bài hoặc phải viết báo cáo. Khi Sasha ra đời năm 2001 thì vợ tôi gần như không kiềm chế sự tức giận với tôi nữa. “Anh chỉ nghĩ đến bản thân anh thôi - Michelle thốt lên - Em chưa bao giờ nghĩ em lại phải một mình chăm sóc cả gia đình”.

Khi những năm thử thách đó qua đi và bọn trẻ bắt đầu đi học, chỉ khi nghĩ lại quá khứ, tôi mới bắt đầu cảm kích Michelle với những gì cô ấy đã phải trải qua. Đó là nỗ lực rất điển hình của người mẹ phải đi kiếm tiền thời hiện đại. Vì bất kể tôi nghĩ mình là người theo quan điểm tự do đến mức nào, bất kể tôi tự nhủ Michelle và tôi đều bình đẳng và giấc mơ, khát vọng của cô ấy cũng quan trọng như của tôi bao nhiêu lần đi nữa, thì thực tế khi bọn trẻ ra đời, chính Michelle chứ không phải tôi là người phải điều chỉnh cuộc sống. Dĩ nhiên tôi có giúp đỡ, nhưng luôn tùy thuộc khả năng, kế hoạch làm việc của tôi. Còn Michelle mới là người phải tạm dừng sự nghiệp.

Cơ bản thì tôi đã hoàn thành vai trò của mình. Hôn nhân của chúng tôi vẫn nguyên vẹn và gia đình tôi có cuộc sống đầy đủ. Tôi đi họp phụ huynh và có mặt ở buổi biểu diễn múa, các con gái tôi được sống trong tình yêu thương. Tôi nhận ra rằng mình không đơn độc. Tôi nhớ đến câu trả lời của Michelle hồi vận động tranh cử, khi một phóng viên hỏi Michelle làm vợ một chính trị gia là thế nào. “Thật là khó”, cô ấy đáp. Rồi theo như anh chàng phóng viên đó thì cô ấy nói thêm với một nụ cười: “Đó là lý do tại sao Barack lại luôn có thái độ cảm kích như vậy”.

Chương 8. Thế giới ngoài kia

Tháng 1-2006, tôi đáp chiếc máy bay vận tải quân sự C-130 đi thăm Iraq lần đầu tiên. Hai đồng nghiệp cùng đi với tôi là thượng nghị sĩ Evan Bayh bang Indiana và hạ nghị sĩ Harold Ford, Jr. bang Tennessee đều từng đến đây.

Đã bốn năm rưỡi trôi qua kể từ ngày tôi nghe tin máy bay đâm vào Trung tâm Thương mại thế giới, tôi đang bay đến Baghdad với tư cách là một thượng nghị sĩ, phần nào đó có trách nhiệm tìm ra cách giải quyết tình trạng lộn xộn ở đây.

Sự căng thẳng đang chịu đựng

Tôi chỉ có một ngày rưỡi ở Iraq, chủ yếu là ở Vùng Xanh, một khu vực rộng mười dặm nằm ở trung tâm Baghdad, trước đây từng là trái tim của chính quyền Saddam Hussein, hiện là khu vực cách ly do Mỹ kiểm soát, bao quanh là tường an ninh và hàng rào dây thép gai. Nhóm phụ trách tái thiết trình bày ngắn gọn về khó khăn khi duy trì việc cung cấp điện và sản xuất dầu trước sự phá hoại của các lực lượng nổi dậy; các sĩ quan tình báo nói về nguy cơ ngày càng cao đến từ phiến quân Hồi giáo và những cuộc tấn công của nhóm này vào lực lượng an ninh Iraq.

Sau đó, chúng tôi gặp gỡ các thành viên của Ủy ban bầu cử Iraq, họ rất hăng hái trước những thay đổi lớn trong kỳ bầu cử gần đây, và trong một giờ chúng tôi lắng nghe đại sứ Mỹ Khalilzad nói về những hoạt động ngoại giao con thoi phức tạp mà ông đang đảm nhiệm để đưa người Shiite, Sunni và người Kurd hợp tác với nhau trong một chính phủ thống nhất.

Vào buổi chiều muộn, đoàn chúng tôi tổ chức một cuộc họp báo với các đại diện báo chí quốc tế ở Baghdad. Sau phần hỏi và trả lời, tôi đề nghị các phóng viên ở lại để nói chuyện vui, không chính thức. Tôi nói tôi muốn biết về cuộc sống ngoài Vùng Xanh. Họ vui vẻ đồng ý nhưng nói chỉ có thể ở lại thêm 45 phút - lúc đó đã muộn, và cũng như nhiều người dân Baghdad, họ tránh đi lại sau khi mặt trời lặn.

Nhìn chung cả nhóm đều trẻ, phần lớn mới ở tuổi 20 hoặc ngoài 30, tất cả đều ăn mặc đơn giản đến mức có thể nghĩ họ là sinh viên. Tuy nhiên, trên khuôn mặt họ đã in dấu những căng thẳng đang chịu đựng - đến thời điểm đó đã có 60 nhà báo bị chết ở đây. Tôi hỏi liệu họ có nghĩ căng thẳng sẽ giảm bớt nếu Mỹ rút quân không và đoán rằng họ sẽ khẳng định điều đó. Nhưng ngược lại, họ lắc đầu. “Tôi đoán nếu thế đất nước này sẽ rơi vào nội chiến chỉ trong vòng một tuần - một người trả lời - Một trăm, có thể là 200.000 người chết. Chúng ta là thứ duy nhất giữ cho nơi này còn gắn bó với nhau”.

Đêm đó tôi không ngủ được; tôi xem một trận bóng chày được truyền trực tiếp qua vệ tinh đến ngôi nhà bên hồ trước đây dành cho Saddam và khách của ông ta. Có đôi lần tôi tắt tiếng tivi và nghe tiếng súng cối phá tan sự tĩnh lặng.

Rút quân

Sáng hôm sau, chúng tôi lại lên chiếc Black Hawk đến căn cứ thủy quân lục chiến ở Fallujah nằm ở vùng phía tây khô cằn của Iraq, thuộc tỉnh Anbar. Ở phần Anbar do người Sunni chiếm đóng đã diễn ra một trong những cuộc giao tranh đẫm máu nhất chống lại quân nổi dậy, và không khí doanh trại ở đây khắc nghiệt hơn nhiều so với ở Vùng Xanh; chỉ hôm trước thôi năm lính thủy đánh bộ đi tuần đã chết do bom bên vệ đường hoặc do vũ khí nhẹ của quân nổi dậy. Quân lính ở đây trông cũng ít kinh nghiệm hơn, phần lớn mới ngoài 20 tuổi, rất nhiều anh chàng mặt còn mụn và cơ thể vẫn đang lớn.

Vị tướng chỉ huy doanh trại đã thu xếp một cuộc gặp ngắn và chúng tôi nghe các sĩ quan cao cấp nói về tình trạng tiến thoái lưỡng nan của quân Mỹ: nhờ khả năng được cải thiện nên họ bắt được ngày càng nhiều thủ lĩnh quân nổi dậy, nhưng cũng giống như các băng đảng đường phố ở Chicago, cứ mỗi khi họ bắt được một tên thì có vẻ như luôn có hai tên khác sẵn sàng thay thế. Không chỉ chính trị mà điều kiện kinh tế cũng góp phần gây ra tình trạng nổi loạn - chính phủ thì bỏ mặc Anbar, còn tỉ lệ đàn ông thất nghiệp lên tới xấp xỉ 70%.

“Chỉ cần hai hay ba USD là anh thuê được bọn trẻ đặt bom rồi - một sĩ quan nói - Ở đây chừng đó là một số tiền lớn”.

Đến cuối cuộc họp thì trời hơi có sương mù nên chúng tôi phải hoãn bay đến Kirkuk. Trong khi chờ đợi, nhân viên phụ trách chính sách ngoại giao Mark Lippert đi lại nói chuyện với một sĩ quan cao cấp, còn tôi bắt chuyện với một trong những viên thiếu tá phụ trách chống phiến quân vùng này. Khi viên sĩ quan tùy tùng ra hiệu máy bay đã sẵn sàng cất cánh, tôi chúc viên thiếu tá gặp may mắn và đi ra máy bay. Mark đi ngay cạnh tôi và tôi hỏi anh thu được gì sau khi nói chuyện với viên sĩ quan cao cấp kia. “Tôi hỏi ông ta nghĩ cách tốt nhất để giải quyết tình trạng này là gì”. “Thế ông ta bảo sao?”. “Rút quân”.

Câu chuyện Mỹ can thiệp vào Iraq sẽ còn được phân tích và tranh cãi trong nhiều năm tới - thật ra đó vẫn là một câu chuyện đang dở dang. Nhưng cũng không quá sớm để rút ra một vài kết luận từ những gì chúng ta đã làm ở Iraq. Bởi khó khăn xuất hiện không chỉ do làm việc kém mà chúng còn phản ánh nhận thức sai lầm. Thực tế là gần năm năm sau sự kiện 11-9 và 15 năm sau khi Liên Xô tan rã, nước Mỹ vẫn chưa có chính sách an ninh quốc gia mang tính gắn kết.

Tại sao lại đưa quân đến Iraq chứ không phải Bắc Triều Tiên hay Myanmar? Có phải chúng ta định sử dụng sức mạnh quân sự ở bất cứ đâu có chế độ độc tài khủng bố người dân, và nếu như vậy thì phải ở lại bao lâu để đảm bảo đất nước đó có nền dân chủ vững chắc? Chúng ta cần thông qua Liên Hiệp Quốc trong mọi vấn đề hay chỉ thông qua khi họ sẵn lòng phê chuẩn các quyết định của chúng ta?...

Tôi không dám nói tôi có sẵn chiến lược lớn này trong túi. Nhưng tôi biết tôi tin vào cái gì và tôi sẽ đề xuất một vài vấn đề mà người dân Mỹ sẽ thống nhất, đó là những điểm khởi đầu cho sự đồng thuận mới.

Mùa thu năm 2002, tôi quyết định sẽ tranh cử vào thượng viện liên bang và tôi biết cuộc chiến diễn ra ở Iraq sẽ là đề tài lớn trong mọi chiến dịch vận động. Một nhóm các nhà hoạt động xã hội ở Chicago đề nghị tôi phát biểu trong một cuộc biểu tình lớn chống chiến tranh sẽ diễn ra vào tháng mười.

Trước 2.000 người tập trung ở quảng trường liên bang ở Chicago, tôi giải thích rằng không như nhiều người trong đám đông, tôi không phản đối mọi cuộc chiến tranh, rằng ông tôi đã nhập ngũ ngay sau ngày Trân Châu cảng bị ném bom. Tôi cũng nói “sau khi chứng kiến vụ giết chóc và phá hủy, khói bụi và nước mắt, tôi ủng hộ quyết tâm của chính phủ sẽ tìm kiếm và nhổ tận gốc bất cứ kẻ nào đã giết hại những người vô tội nhân danh sự tàn ác”, và “chính tôi cũng sẵn lòng cầm vũ khí để ngăn không cho thảm kịch đó tái diễn”. Cái tôi phản đối là “một cuộc chiến ngớ ngẩn, vội vàng, không dựa trên nguyên nhân nào ngoài sự giận dữ, không dựa trên nguyên tắc gì ngoài phục vụ chính trị”.

Và tôi nói tôi biết ngay cả thắng được chiến tranh Iraq thì Mỹ vẫn sẽ mất không biết bao nhiêu thời gian, bao nhiêu chi phí và không thể lường hết được hậu quả. Tôi biết nếu chúng ta xâm lược Iraq mà không có lý do cụ thể cũng như không được quốc tế ủng hộ, hành động đó chỉ thổi bùng lên ngọn lửa ở Trung Đông, khuyến khích thái độ xấu nhất chứ không phải tốt nhất của thế giới Ả Rập, cũng như đẩy mạnh quá trình tuyển mộ của Al Qaeda.

Trang:  3/3«   1   2   3 
Số lượt đọc:  2910  -  Cập nhật lần cuối:  15/11/2008 08:43:23 AM
  Ý kiến của bạn về bài viết:
Bài mới:  
Trò chuyện cùng họa sĩ
11/03/2010 11:15' AM
Tiếu lâm và triết học
03/03/2010 03:33' PM
Trai nước Nam làm gì?
30/01/2010 03:53' PM
Bài khác:
Liên kết web
Trang chủGiới thiệuLiên hệ