Đang tải dữ liệu...
ChúngTa.com.NET CommunityHanoi Software JSCDoanh nhân 360

Giới thiệuGiáo dụcSuy ngẫm & Triết lýKinh doanhKỹ năng - Nghề nghiệpCNTT - Viễn thôngThư giãn & Giải trí 
Chào mừng đến với ChúngTa.com

ChúngTa.com kiên trì 4 năm qua theo đuổi mục đích cung cấp những "món ăn tinh thần" hữu ích, hàm lượng tri thức cao giúp bạn trẻ nối dài phương pháp suy nghĩ, có thêm tư liệu tốt cho nhận thức và cải tạo thế giới.

Để xây dựng tòa nhà tri thức và sử dụng tòa nhà với nhiều tiện nghi, giúp bạn đọc thực sự làm chủ được toàn bộ khối lượng tri thức, ChúngTa.com chuyển sang giai đoạn 2 là tổ chức và tăng cường các khả năng khai thác/chia sẻ tri thức.

Giới thiệu... Trao đổi...
Tìm bài viết
Tìm kiếm nâng cao
Thống kê
Số lượt truy cập: 14.002.242
Số người trực tuyến: 590

Trang chủ  >  Suy ngẫm  >  Về Hiện hữu  >  Siêu hình học

Bản thể luận Huxéc với chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm I.Cantơ

Đỗ Minh Hợp
Tạp chí Triết học
   
06:49' PM - Thứ hai, 18/09/2006

Bản thể luận Huxéc cho thấy mối liên hệ khăng khít nhất của triết học Cantơ nói chung và chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm Cantơ nói riêng với triết học phương Tây hiện đại, đồng thời nó cũng làm bộc lộ rõ vai trò và đóng góp thực sự của triết học Cantơ đối với "cuộc cách mạng bản thể luận" trong triết học phương Tây hiện đại. Đây thực chất là vấn đề "tái chú giải" triết học Cantơ trong văn cảnh cần phải xác định lại đối tượng và phương pháp của triết học trong sự khác biệt của nó so với khoa học tự nhiên...

Huxéc đã hiểu Cantơ và triết học tiên nghiệm Cantơ như thế nào, khi ông quyết định xây dựng bản thể luận thay thế cho triết học truyền thống nhờ dựa vào và đồng thời khắc phục chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm Cantơ?

Bản thể luận thường được hiểu là học thuyết về những tính quy định chung nhất của tồn tại, những tính quy định đóng vai trò là cơ sở của thực tại kinh nghiệm và của tính đa dạng hiện thực của thế giới. Khái niệm này thường được sử dụng chính là theo nghĩa đó trong truyền thống triết học gắn liền với việc xây dựng các hệ thống triết học tự nhiên có kỳ vọng trở thành học thuyết về thế giới một cách không phụ thuộc vào những điều kiện cụ thể của quá trình nhận thức và năng lực nhận thức của bản thân con người.

Vậy tại sao khi tự đem đối lập mình và các hệ thống triết học tự nhiên ấy, bản thể luận Huxéc cũng có kỳ vọng trở thành một học thuyết như vậy? Huxéc đã hiểu bản thể luận là gì? Để trả lời cho vấn đề này chúng ta cần phải tìm hiểu bối cảnh triết học đã sản sinh ra bản thân chủ nghĩa tiêm nghiệm Cantơ mà Huxéc coi là cơ sở của bản thể luận của ông.
Chủ nghĩa duy lý thường tự đặt ra cho mình nhiệm vụ đạt tới tri thức tuyệt đối tới các chân lý phổ biến và tất yếu với tư cách cái phản ánh tồn tại. Luận điểm xuất phát của chủ nghĩa duy lý là: tư duy đồng nhất với tồn tại về mặt nội dung, còn cơ sở của tồn tại là các quy luật logic chi phối nhận thức chân thực. Luận điểm này đã trở thành quan điểm nền tảng của chủ nghĩa phiếm logic - một hình thức cực đoan trong việc thừa nhận sự đồng nhất giữa bản thể luận và logic học.

Theo chủ nghĩa duy lý, ngoài nó ra, mọi khoa học khác đều phải tuân thủ các chân lý đã được hình thành trong hệ thống triết học tự nhiên, phải căn cứ vào những chân lý này và cung cấp những khẳng định kinh nghiệm cho lĩnh vực tri thức tuyệt đối đã được hình dung từ trước. Thế nhưng, khoa học và hiện thực kinh nghiệm lại thường chỉ ra tính chất giáo điều và ảo tưởng trong những luận điểm như vậy của chủ nghĩa duy lý. Một mặt, chủ nghĩa duy lý không thể giải thích được tính đúng đắn của việc nó chuyển các quy luật của logic học sang bản thân tồn tại. Mặt khác, nó không thể giải quyết được vấn đề về mối quan hệ giữa thế giới siêu cảm tính (logic), các chân lý bất di bất dịch và hiện thực kinh nghiệm - cái mà theo nó, không thể dùng phép diễn dịch để giải thích và tách biệt các sự kiện khoa học. Tính chất tư biện và kỳ vọng xây dựng khoa học của "mọi khoa học" của chủ nghĩa duy lý đã bị phá sản cùng với quá trình phát triển của bản thân khoa học.

Trái ngược với chủ nghĩa duy lý, chủ nghĩa kinh nghiệm luôn cố hòa nhịp với sự phát triển của bản thân khoa học bằng cách hướng tới một số nguyên tắc chung của tồn tại dựa trên những dữ kiện của các khoa học thực nghiệm. Xét về phương diện này thì bản thể luận cần phải căn cứ trên những dữ liệu do khoa học thực nghiệm ung cấp, còn nguyên tắc đồng nhất giữa tư duy và tồn tại được kiên định dựa trên cơ sở kinh nghiệm chủ nghĩa. Tuy nhiên, bất chấp tính hữu ích của định hướng duy thực này, chủ nghĩa kinh nghiệm vẫn không hoàn thành được một yêu cầu quan trọng đối với nghiên cứu triết học thời Cận đại - đạt tới các chân lý khách quan (phổ biến và tất yếu). Trái ngược với chủ nghĩa duy lý, chủ nghĩa kinh nghiệm thường xuyên thực hiện theo hướng ngược lại - từ hiện thực kinh nghiệm và lĩnh vực cái phổ biến, - định hướng mà xuất phát từ đó, chủ nghĩa tương đối và chủ nghĩa hoài nghi đã khẳng định hoàn toàn không có các chân lý như vậy hay lý tính con người không thể đạt tới chúng.

Chúng tôi muốn lưu ý rằng, bậc thầy của Huxéc trong lĩnh vực bản thể luận là Brentanô cũng đã phê phán gay gắt chủ nghĩa kinh nghiệm. Theo Brentanô, chỉ có thể đạt tới tri thức tất yếu, hiển nhiên nhờ phân tích đời sống tâm lý cụ thể của ý thức với điều kiện phân biệt rõ hành vi trực giác bên ngoài (hướng vào khách thể nằm ngoài chủ thể) và hành vi trực giác bên trong (hướng vào việc vạch ra các cơ cấu nhận thức của ý thức) . Trong trường hợp trực giác bên ngoài, theo Brentanô, chân lý với tư cách thực tại tất yếu, hiển nhiên là cái không đạt tới được vì con đường nhận thức này không đưa tới việc khắc phục mâu thuẫn "bản chất - hiện tượng". Chân lý chỉ có thể đạt tới được trong trường hợp thừa nhận xuất phát điểm là trực giác bên trong, vì bản thân nó là chân lý tự nó, còn tính hiển nhiên thì lại dựa vào chính điểm này. Brentano cho rằng, ưu thế của cách tiếp cận như vậy là ở chỗ, nó hướng vào cái vốn có trong chúng ta, cho phép chúng ta nhìn nhận ý thức từ bên trong. Đây chính là quan niệm mà Huxéc đã phát triển tiếp theo cách của mình.
Huxéc cho rằng, bất chấp toàn bộ sự đối lập về định hướng triết học, chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa kinh nghiệm vẫn đi theo một hướng chung - đó là dự định không tính đến tính chủ quan con người, ảnh hưởng của các cơ chế nhận thức và đời sống ý chí - tình cảm của con người trong nhận thức. Cả chủ nghĩa duy lý lẫn chủ nghĩa kinh nghiệm đều coi nhận thức được giải phóng hoàn toàn khỏi những hạn chế và ảnh hưởng chủ quan tất yếu sẽ dẫn tới chân lý với tư cách cái đồng nhất với tồn tại. Và, triết học phân tích những chân lý như vậy phải trở thành bản thể luận, hay học thuyết về thế giới một cách không phụ thuộc vào bản thân chủ thể nhận thức.

Theo Huxéc, triết học tiên nghiệm Cantơ ra đời đã cho thấy rõ dự định của cả chủ nghĩa duy lý lẫn chủ nghĩa kinh nghiệm đều là vô căn cứ, bởi chúng đã bỏ qua tính chủ quan trong nhận thức. Cantơ đã thay thế bản thể luận tư biện bằng triết học tiên nghiệm. Về thực chất, sự thay thế này có nghĩa là không thể bỏ qua các năng lực nhận thức của con người, rằng các năng lực nhận thức ấy tất yếu để lại dấu ấn của chúng ở bản thân quá trình nhận thức và ở kết quả nhận thức. Theo Cantơ, chân lý nhận được trong quá trình nhận thức không phải là chân lý ở bên ngoài khuôn khổ của bản thân kinh nghiệm nhận thức. Chính vì vậy mà, một mặt, không thể có bản thể luận tư biện, tức bản thể luận có kỳ vọng đạt tới thế giới tự nó chỉ dựa trên lý tính mà không tính đến kinh nghiệm, mặt khác, vì kinh nghiệm cảm tính với tư cách cơ sở của mọi nhận thức là cái mang tính chủ quan về nguyên tắc, nên không thể có thứ chủ nghĩa kinh nghiệm mà dường như có thể đạt tới "vật tự nó" chỉ dựa trên cơ sở làm sáng tỏ và chuẩn xác hóa dữ liệu cảm tính. Tuy nhiên Cantơ lại cho rằng, như vậy không có nghĩa là không thể có bản thể luận. Bản thể luận là cái có thể có nhưng chỉ với tư cách là học thuyết trùng khít với nhận thức luận, hay học thuyết làm sáng tỏ những thành tố đầu tiên, những điều kiện chủ yếu điều kiện của nhận thức tiên nghiệm.
Về luận điểm này của Cantơ, Huxéc cho rằng, bản thân việc sử dụng khái niệm "bản thể luận" trong cách đặt vấn đề của Cantơ là đúng hay sai - điều đó là không quan trọng, mà điều quan trọng là ở tu tưởng về bản thể luận như định hướng phản tư vào "cái khởi thuỷ" trong ý thức mà ông ta đã đưa ra. Đó là bản thể luận không những hướng đến việc vạch ra những điều kiện khởi thuỷ cho sự hoạt động của các hành vi nhận thức, mà còn hướng đến việc giải thích rõ những cơ sở và cội nguồn của toàn bộ kinh nghiệm về đời sống ý thức. Khái niệm "bản thể luận" cũng đã thể hiện với chính nghĩa như vậy trong triết học hiện tượng học - hiện sinh.

Thế nhưng, để hiểu Huxéc đã "chỉnh lý" Cantơ và phát triển bản thể luận hiện tượng học của ông như thế nào, trước hết chúng ta hãy trở lại với đánh giá của ông về chủ nghĩa tiên nghiệm Cantơ.

Theo Huxéc, chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm là đỉnh cao của triết học duy lý cổ điển, và việc thừa nhận nó đã trở thành thành tố mang tính xây dựng của tư tưởng bản thể luận phương Tây hiện đại. Nhưng, đến lượt mình, bản thân việc thừa nhận ấy lại được quy định bởi khả năng mà chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm này cho phép xem xét vấn đề chủ thể và tính chủ quan trên bình diện bản thể luận.

Với quan điểm đó, trước hết, Huxéc buộc tội toàn bộ triết học duy lý truyền thống về việc đã “nhận thức luận hóa triết học", đã thổi phồng hệ vấn đề nhận thức lý luận và cách tiếp cận thuần tuý tri thức luận, về việc nó xem xét khái niệm "chủ thể" và tính tích cực của con người chủ yếu trên phương diện nhận thức luận.

Vậy, quan điểm của Cantơ với tư cách người sáng lập chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm trong vấn đề này là gì?

Khi nhận thấy sự tồn tại của nhiều quan điểm bất đồng trong việc giải quyết các vấn đề triết học nảy sinh do không nghiên cứu một cách có hệ thống bản chất của nhận thức, các năng lực nhận thức, của chủ thể, và điều chủ yếu là không xác định giới hạn chân thực của nhận thức, Cantơ cho rằng, việc xác định giới hạn này trước hết là ở việc bác bỏ kỳ vọng của lý tính tư biện nhằm nhận thức những thực tại ở bên ngoài kinh nghiệm của chúng ta.
Tuy nhiên, ở đây, không đi sâu vào học thuyết Cantơ, chúng tôi chỉ xin lưu ý rằng, triết học hiện đại đã tính đến cách đặt vấn đề này của Cantơ và cho rằng cách giải quyết vấn đề của Cantơ là không thoả đáng. Bản thân Cantơ nhấn mạnh vấn đề có thể nhận thức được cái gì và như thế nào nhờ lý trí và lý tính, chứ không phải vấn đề bản thân năng lực nhận thức là gì. Về quan điểm này của Cantơ, A.Sôpenhauơ đã nhận xét một cách mỉa mai như sau: "Chủ thể - đó là cái nhận thức vạn vật nhưng lại không được ai nhận thức".

Vậy Huxéc đã chỉnh lý Cantơ như thế nào?

Theo Huxéc, quan điểm của Cantơ về ý thức tiên nghiệm vừa biểu thị những điều kiện của nhận thức, vừa biểu thị sự cấm bản thể luận hóa những khái niệm tiên nghiệm. Hêghen đã loại bỏ cấm đoán này khi biến tư duy thành bản chất của thế giới Khi tiếp nhận sự cấm đoán này của Cantơ: Huxéc không quan niệm "cái tôi", ý thức, tính chủ quan là bản chất của thế giới và của ý thức, mà xem chúng như các khái niệm biểu thị điều kiện nhận thức. Nhưng, chính ở đây, đã nảy sinh một vấn đề nan giải mà Cantơ đã bỏ qua, còn Huxéc thì cố giải quyết. Đó chính là vấn đề bước chuyển từ các khái niệm tiên nghiệm sang bản chất của ý thức và của thế giới bị cấm (điểm chung của Cantơ và Huxéc), bởi chúng được sử dụng để nhận thức những gì đứng đối lập với chủ thể, với tính chủ quan và được đem lại cho con người thông qua chính tính chủ quan ấy và các hình thức của nó. Nếu chủ thể muốn nhận thức bản thân tính chủ quan đang nhận thức, thì tất sẽ xa vào cái vòng luẩn quẩn là: điều kiện để nhận thức tính chủ quan lại chính là tính chủ quan, nói cách khác, bản thân khách thể nhận thức lại là điều kiện để nhận thức khách thể ấy. Vậy, phải chăng nhận thức tính chủ quan là không thể? Câu trả lời cho vấn đề này đánh dấu bước ngoặt của triết học phương Tây hiện đại trong thái độ đối với Cantơ, cũng như trong việc xác định lại bản chất và phương pháp của triết học.

Ngay cả Bécxông cũng trách cứ Cantơ ở chỗ Cantơ không đoạn tuyệt được vôi chủ nghĩa nhận thức luận truyền thống, khi giải quyết mọi vấn đề triết học dựa trên hệ chuẩn khách - chủ thể, tức là bằng các phương pháp của khoa học tự nhiên. Theo ông, triết học có nhiệm vụ mô tả tính chủ quan nhờ trực giác trí tuệ. Sau Bécxông, Huxéc cũng đã nói tới việc mô tả tính chủ quan (ý thức tự nó như điều kiện của nhận thức và như một thực tại đặc biệt), nhưng ông muốn giữ lại tính khách quan (khoa học) của triết học. Do vậy, một lần nữa, ông lại quay về với chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm Cantơ.

Theo Huxéc, đóng góp chính của chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm Cantơ là ở chỗ, Cantơ trước sau chỉ xem xét thế giới thông qua các hành vi và các hình thức của tính chủ quan con người. Tính chủ quan này chính là cái mà chỉ nhờ đó, thế giới mới được đem lại cho con người. Do vậy, theo Huxéc, việc xem xét thế giới ở bên ngoài mối liên hệ (tương liên) với tính chủ quan là một điều nhảm nhí. Thực ra thì sự nhảm nhí này chỉ có trong triết học, bởi tâm thế tự nhiên (ý thức hàng ngày và đặc biệt là khoa học) có thể và cần phải xem xét thế giới như vậy, nhưng với triết học thì trước hết, nó cần phải làm sáng tỏ tính được đem lại, tính hiện diện của thế giới trong ý thức và các hành vi của nó. Đây cũng chính là sự khác biệt căn bản của triết học so với các khoa học khác. Triết học không giành lấy một bộ phận xác định của thế giới để nghiên cứu, mà nó có một lập trường, một nhãn quan, một cái nhìn đặc biệt của mình về thế giới. Nhưng, nếu lập trường của triết học là ở sự định hướng nhãn quan đặc biệt - xem xét thế giới như cái được đem lại trong các hành vi và các hình thức của ý thức, thì ý thức và tính chủ quan đối với triết học không phải là một bộ phận của thế giới. Nói cách khác, đối với triết học, ý thức không nằm trong thế giới như một khách thể ở bên cạnh các khách thể khác, ý thức là một thực tại mà thế giới được đem lại cho con người được các hình thức của nó.

Vậy, phải chăng đây là sự tái hiện cách đặt vấn đề của Cantơ?

Chính Cantơ cũng đã từng khẳng định, trái ngược với việc siêu hình học tư biện tự đặt ra cho mình mục đích làm sáng tỏ bản chất của thế giới, ông chỉ đặt ra cho mình một mục đích khiêm tốn hơn là làm sáng tỏ việc chủ thể nhận thức có thể nhận thức được cái gì và nhận thức như thế nào, tức cái gì hiện ra với ý thức và hiện ra như thế nào với một điều kiện quan trọng - cái hiện ra đó phải đáp ứng được tiêu chí về tính khách quan và xác thực. Theo chúng tôi, sự phụ thuộc của Huxéc vào Cantơ ở đây là rất rõ, song giữa hai nhà triết học này cũng có những "bất đồng" không nhỏ.
Sự bất đồng ấy thể hiện ở chỗ, nếu Cantơ cố xem xét các phương tiện nhận thức của tính chủ quan, thì Huxéc lại muốn hiểu và mô tả bản thân tính chủ quan như một thực tại đặc biệt. Nói cách khác, cùng đề cập tới tính chủ quan, nhưng lập trường của Cantơ là lập trường nhận thức luận, còn lập trường của Huxéc là lập trường bản thể luận. Do vậy, về thực chất, nếu Cantơ đã minh biện cho sự tồn tại của khoa học tự nhiên (cụ thể là cơ học Niutơn) nhờ "phiên dịch" bản thân hệ thống khái niệm (tức tri thức) khoa học tự nhiên đương thời sang ngôn ngữ triết học (khoa học tự nhiên và toán học có thể như thế nào - vấn đề được Cantơ đặt ra), thì Huxéc lại chuyển hoàn toàn sang vấn đề quyền tồn tại của triết học (đối tượng và phương pháp) như một lĩnh vực tri thức nhân văn đặc biệt nhờ tiếp cận với nó từ phương diện văn hóa học (thể hiện rõ nhất qua khái niệm "thế giới sống"). Chính từ phương diện bản thể của mình, tính chủ quan ở Huxéc thể hiện ra như là cơ sở thứ nhất tạo ra nghĩa ban đầu cho mọi hình thức hoạt động của con người. Nói cách khác, tính chủ quan (tính quy định văn hóa của tồn tại người) thể hiện ra là cái tuyệt đối mà triết học cần phải xuất phát từ đó để giải thích vạn vật, kể cả và chủ yếu là bản thân mình.
Có thể coi sự phụ thuộc nêu trên của Huxéc vào Cantơ là sự phụ thuộc về phương diện triết học lý thuyết. Nhưng, chúng ta còn nhận thấy một sự phụ thuộc cĩmg ở mức độ như vậy thể hiện trên phương diện triết học thực tiễn.

Cantơ cho rằng, nhận thức của con người diễn ra như một quá trình sắp xếp dữ liệu cảm tính nhờ các hình thức tiên nghiệm của lý trí. Nhưng, theo ông, còn có một lĩnh vực kinh nghiệm của con người mà dữ liệu về nó thì không một cảm tính nào có thể cung cấp - đó là lĩnh vực đạo đức hay “lý tính thực tiễn". Các đối tượng của lĩnh vực này hoàn toàn do con người tạo ra, vì chúng không hiện diện dưới bất ký hình thức nào. Cantơ viết: "Việc sử dụng lý tính về mặt lý luận chỉ có quan hệ với các đối tượng của năng lực nhận thức. Vấn đề sử dụng lý tính về mặt thực tiễn lại khác. Lý tính ở đây quan tâm chỉ tới những cơ sở mang tính quyết định của ý chí, mà ý chí - đó là năng lực hoặc tạo ra các đối tượng phù hợp với biểu tượng, hoặc tự quy định mình để tạo ra chúng, tức là nó tự quy định tính nhân quả của mình". Trong lĩnh vực này, con người thể hiện là cá nhân tự do, tự quyết, tự "lập pháp", và đối với nó, câu trả lời cho câu hỏi "Tôi cần phải làm gì?" không phụ thuộc vào câu trả lời cho câu hỏi "Tôi có thể biết gì?".

Huxéc đã cố gắng nghiên cứu lĩnh vực này không phụ thuộc vào các vấn đề nhận thức lý luận. Mặc dù vậy, theo chúng tôi, ở đây không nên nói tới việc phát triển hay tái hiện cách đặt vấn đề của Cantơ, bởi triết học hiện đại đã chuyển hẳn từ bản thể luận nhận thức sang bản thể luận văn hóa. Chúng ta có thể chỉ ra những sự khác biệt quan trọng trong trường hợp này. Chẳng hạn, khi nghiên cứu đạo đức học, Cantơ quan tâm đến hành vi theo bổn phận - con người cần phải hành động như thế nào với kỳ vọng trở thành con người có đạo đức ông đề ra cho hành vi như vậy ít nhất hai điều kiện - tính phi vụ lợi (không phải vì một cái gì đó, mà quy tắc đạo đức tự nó đòi hỏi phải như vậy) và tính phổ biến (quy tắc đạo đức biểu thị bản tính con người tự nó, từ đó là tính bắt buộc chung của các yêu cầu đạo đức).

Với nhiệm vụ xây dựng bản thể luận mới thay cho triết học tự nhiên cổ điển, Huxéc đã không quan tâm tới phương diện tình thái của vấn đề: không phải cái gì hợp bổn phận và cái gì đáng nguyền rủa, mà là cái gì đang tồn tại (bản chất con người không ác cũng không thiện, nó trước hết là cái tồn tại tự nó và bản thể luận có nhiệm vụ mô tả nó tồn tại như thế nào). Bổn phận, đạo đức, cái thiện, cái ác… tất cả đều là những hiện tượng phái sinh, là những hình thức xác định của sự hiện thực hóa tồn tại người. Bản thể luận có nhiệm vụ mô tả tồn tại người trước khi nó thể hiện dưới các hình thức hoạt động và tư duy khác nhau của con người, tức là trước khi con người trở thành chủ thể, còn thế giới thể hiện ra với con người như một khách thế. Gắn liền với sự tái định hướng về mặt đối tượng này là những biến đổi về mặt phương pháp luận. Đây cũng là sự khác biệt căn bản của Huxéc so với Cantơ: Huxéc cấm việc viện dẫn cái phổ biến như tiêu chí và cơ sở của cái có tính người trong con người khi mô tả tồn tại người.

Trang:  1/2  1   2   »
Số lượt đọc:  1615  -  Cập nhật lần cuối:  13/10/2008 11:48:08 PM
  Ý kiến của bạn:
Bài mới:  
Bài khác:
Luân lý & Giá trị
Những chấn thương tâm lý hiện đại
Thế hệ trẻ văn minh hay bơ vơ
Vật chất hấp dẫn nên lòng tham ngự trị
Trang chủGiới thiệuLiên hệ