Đề tài hội nhập văn hóa như một quy luật sống còn của lịch sử dân tộc được chúng tôi đeo đuổi từ thập kỷ 80 thế kỷ XX đến nay, dưới nhiều khía cạnh, trong nhiều bài viết từng công bố đây đó. Lần này, trong khuôn khổ một hội thảo, chúng tôi chỉ tóm lược lại một vài điểm nổi nhất về hiện tượng này tại chùa Quỳnh Lâm, mong từ góc nhìn hiện đại cập nhật hóa một câu chuyện tưởng như đã là chuyện của quá vãng, và trong con mắt thông tục chỉ còn là đối tượng của nhà “khảo cổ”.
1. Hiện tượng hội nhập ba thành tố Phật, Nho và Đạo là một hiện tượng đặc sắc hiếm có trong sinh hoạt của cộng đồng người Việt dưới thời đại Lý-Trần (xin dùng danh từ này để gọi chung một thời kỳ lịch sử kéo dài từ năm 938 đến 1406, mà chủ yếu là hai triều đại Lý: 215 năm, và Trần: 175 năm), nó là nét riêng góp phần tạo nên một bầu không khí về sau dường như không còn tìm thấy lại; cũng chính nó đã góp phần tạo nên bản sắc ưu mĩ của văn hóa Việt Nam trong năm thế kỷ tự chủ buổi đầu này. Có thể coi đây là kết quả của nhiều điều kiện, nhiều nhân tố khác nhau, nhưng trong đó, theo chúng tôi, có một điều kiện hết sức quan trọng - đó là sự cởi mở về quan điểm chính trị của các chính quyền nhà nước đương đại thuở ấy, do bản lĩnh, tầm nhìn, và sự mẫn cảm phi thường của người nắm vận mệnh đất nước thấu hiểu được các yêu cầu của lịch sử, thể hiện cụ thể hóa bằng nhiều chủ trương chính sách của triều đình. Những công việc song song và đan cài vào nhau suốt cả thời kỳ này, bao giờ cũng biểu hiện sự đối xử cân bằng vị thế giữa cả Phật, Nho và Đạo, như: vừa cho dựng chùa, lập các đạo cung, đạo quán, xây đền miếu, vừa cấp độ điệp cho sư sãi, đặt giai phẩm cho tăng đạo, sắc phong cho các vị Nho thần, lại vừa cho dựng Văn Miếu và Quốc Tử Giám, mở khoa thi Nho học, đồng thời cũng mở cả khoa thi Tam giáo dành cho những quan chức chuyên trách việc tôn giáo, tế lễ hoặc những người làm Giám đốc các đền miếu, chùa chiền.
Chỉ dẫn chứng một ông vua là Trần Nhân Tông (1258-1308) thôi, ta thấy vừa đánh xong giặc Nguyên-Mông ít lâu, ông đã cởi áo hoàng bào đi tu, làm vị tổ đầu tiên của Giáo hội Trúc Lâm Yên Tử. Nhưng ông vẫn quan tâm bồi dưỡng nhân cách bậc "nhân nhân quân tử” theo các tiêu chuẩn của đạo Nho cho ông vua con kế vị và cho hàng ng̣ũ bề tôi rường cột của triều đình. Mặt khác, ông cũng lo tổ chức cho nhiều đại thần công khanh thụ giới ưu bà tắc, tức là không xuất gia nhưng vẫn làm Phật tử tại gia.
Đặc biệt, chủ trương dung hợp Nho, Phật, Đạo của các vua Trần thời này lại không hề đi kèm với những biện pháp cứng rắn, mệnh lệnh, mà được thực hiện khá uyển chuyển, lấy việc thuyết phục và tự nguyện làm phương châm hàng đầu. Khi vua Trần Anh Tông (1293-1320) viết bài thơ Chiêu ẩn rủ Nguyễn Trung Ngạn đi tu, ông không theo, nhà vua cũng không ép. Thấy nhà Nho Trương Hán Siêu là người hăng hái bài Phật, vua Trần Minh Tông (1314-1357) liền cử ông đến làm Giám tự chùa Quỳnh Lâm (khoảng sau 1342). Và có lẽ những ảnh hưởng sâu sắc của sinh hoạt Phật giáo tại chùa này đã làm cho tư tưởng Trương Hán Siêu vào cuối đời thay đổi hẳn :
Đời lênh đênh trước khác nay, Thân nhàn mới biết trước ngày lầm to.
(Dục Thúy sơn - Trần Văn Giáp dịch)
Và Trần Thì Kiến, một vị đại thần khác, cũng đã nói lên được cái ý nghĩa sâu xa của việc dung hợp Phật-Nho bằng những câu thơ thâm thúy :
Rừng suối phải đâu là đại ẩn, Chùa nhà ấy mới thực chân tu...
(Tặng An Lãng tự Phổ Minh Thiền sư - Nguyễn Đổng Chi dịch)
Chính là từ nhiều dạng thức hoạt động phong phú và mềm dẻo như trên, nền chính trị của các vương triều thuở bấy giờ đã có tác dụng cố kết lòng dân, giải tỏa dần mọi ức chế, ổn định tâm lý xã hội, và đưa ba hệ thống giáo lý, tư tưởng vốn rất xa cách là Phật, Đạo và Nho xích lại gần nhau; mặt khác, quan trọng hơn, nó tạo điều kiện cho sự xuất hiện một đội ng̣ũ trí thức cấp tiến, những tinh hoa (élites) chắt lọc từ trong hàng triệu con người mới có, tinh thông về nhiều mặt, sắc bén về trí tuệ, đáp ứng được mọi yêu cầu đa dạng của đời sống chính trị, xã hội và cả nhu cầu vi diệu của tâm linh, có thể gọi là một lực lượng xã hội định hướng (groupe social orienté) - một động lực thiết yếu làm mũi tên chỉ đường cho đất nước mà bất kỳ giai đoạn phát triển nào của lịch sử cũng đương nhiên phải có (song tiếc thay giai đoạn lịch sử đương đại lại chưa hội tụ được những điều kiện cần và đủ để lực lượng này xuất hiện, cố kết và tác động như một xung lực). Đại Việt sử ký toàn thư đã phải nói là thời bấy giờ "nhân tài đầy dẫy”, và nhà sử học Lê Quý Đôn cũng nhận định: "Bởi vì nhà Trần đãi ngộ sĩ phu rộng rãi mà không bó buộc, hòa nhã mà có lễ độ, cho nên nhân vật trong một thời có chí khí tự lập, hào hiệp, cao siêu, vững vàng vượt ra ngoài thói thường, làm rạng rỡ sử sách" (Kiến văn tiểu lục). Lê Quý Đôn tuy hình dung họ như những gương mặt sĩ phu tiêu biểu, nhưng muốn hiểu được sức mạnh tinh thần của những con người ấy thì phải nhìn sâu hơn vào những nhân tố nhiều mặt kết hợp ở bên trong - một tổng lực thâm hậu - mà phải trải qua một quá trình dài thật sự được giải phóng và tự do về tư tưởng mới có thể hun đúc nên được.
Như vậy, không thể không thừa nhận sự cởi bỏ một cách có ý thức (dù rằng không thể nào triệt để) những ràng buộc khắt khe về một hệ tư tưởng cực quyền nào đấy, về một thứ chính trị độc chuyên nào đấy, về một thứ tôn giáo toàn trị nào đấy, nhằm đi đến một sự hỗn dung, điều hòa, đa nguyên về ý thức hệ, là một thực tế có ý nghĩa tích cực đáng coi là kỳ lạ ở các xã hội quân chủ dưới thời Lý-Trần, đã giúp cho sự hội nhập văn hóa thời này diễn ra thuận lợi, dễ dàng.
2. Là một trong những trung tâm văn hóa Phật giáo tiêu biểu bậc nhất vào thời Lý-Trần, chùa Quỳnh Lâm chắc chắn phải có những bằng chứng về sự hội nhập Phật, Nho, Đạo đã nói. Nhưng ngày nay, thời gian và con người đã làm cho tất cả những gì tồn tại ở đây đều bị tàn phá. Để đi tìm dấu vết của sự hội nhập, thế tất phải dựa vào các cứ liệu gián tiếp, nhằm dựng lên một giả thuyết làm việc cho người nghiên cứu. Có 3 loại cứ liệu :
a) Sự tích các nhân vật "truyền thừa” ở chùa Quỳnh Lâm còn biết được, như Không Lộ, Pháp Loa...
b) Những truyền thuyết, giai thoại về chùa Quỳnh mà nhân dân quanh vùng vẫn kể.
c) Thơ văn của Bích Động thi xã, một thi xã gắn bó mật thiết với chùa Quỳnh Lâm vào thời Trần.
Lần lượt, các mảng tài liệu nói trên sẽ bổ sung cho nhau, rọi một vài tia sáng vào màn tối của quá khứ, giúp nhận dạng phần nào các lớp nền đã bồi đắp thành bề dày văn hóa ở Quỳnh Lâm.
Với nhân vật không Lộ (?-1119) và các truyền thuyết xoay quanh Không Lộ đời Lý, như việc đúc tượng đồng chùa Quỳnh Lâm cao 6 trượng 6 thước (bia trước chùa còn ghi lại), hoặc các phép thuật siêu việt của con người này, ta thấy hiện diện ở đây một nền văn hóa Phật giáo bắt rễ sâu vào văn hóa dân gian bản địa cổ truyền, kể cả tín ngưỡng Đạo giáo đã được dân gian hóa từ lâu đời. Phật giáo thời Lý-Trần không chỉ có Thiền mà còn có Tịnh độ tông, có Mật tông trộn lẫn. Lễ hội chùa Quỳnh rất nổi tiếng trước đây có gốc rễ xa xưa trên cơ sở những thành tố hỗn hợp đó (Không Lộ là một trong những bằng chứng của sự kết hợp chặt chẽ giữa Thiền và Mật giáo). Triết lý dân gian làm cho tư tưởng nhà Phật thêm khỏe mạnh, và các hình thức sinh hoạt phong phú của dân gian giúp nó thâm nhập vào nhiều mặt của đời sống. Màu sắc của sinh hoạt phồn thực rất đậm nét trong các hình thức lễ hội vùng này còn được thơ ca dân gian trong vùng ghi lại :
Nức tiếng Quỳnh Lâm khắp xứ Đông, Ai qua không đứng lại mà trông. Tháp cao chín đợt màu mây ám, Chùa rộng năm gian gác ngựa lồng. Trước điện thông reo cùng trúc múa, Trong am khánh đá với chuông đồng. Vua tu Phật hóa vui vui nhỉ, Chả trách ngày xưa gái lộn chồng. (Thơ do chúng tôi sưu tầm điền dã năm 1970)
Với các hoạt động của nhân vật Pháp Loa (1284-1330) vào thời đại Trần, chùa Quỳnh Lâm bước vào chặng đường phát triển thứ hai, trở thành một Thiền viện, một trường sở Phật học quy mô, bề thế, nơi đào tạo rất bài bản người tu Phật thông qua kinh sách và mọi nghi thức thụ giới nghiêm ngặt của nhà chùa. Nhưng nói chung, cách thức giảng tập đạo Thiền lại không phải là khô khan trừu tượng, cũng không phải thụ động theo lối thầy nói trò nghe, mà diễn ra như những sinh hoạt văn nghệ dân gian lý thú, có đối thoại, có diễn xướng, có lời ca, thậm chí có cả những động tác có tính chất đóng trò rất sinh động. Mặt khác, quan điểm Phật giáo chiếm ưu thế ở các bài giảng của Pháp Loa là tư tưởng Thiền phái Trúc lâm Yên Tử, nó nặng phần nhập thế, hiện hữu và không cứng nhắc trong tư duy, cũng không xóa bỏ mất bản ngã. Phật giáo ở đây rõ ràng đã được điều chỉnh bởi tinh thần thực tiễn.
Với phần thơ văn còn lại của Bích Động thi xã, Quỳnh Lâm còn là nơi trú ngụ của các nhà thơ-chính khách-cư sĩ, biết tìm cách giải thoát mình khỏi những ràng buộc nặng nề của bộ máy nhà nước quân chủ cũng như sự lục đục nội bộ bắt đầu dấy lên giữa các phe phái trong triều ở giai đoạn chuyển sang vãn Trần, để tìm cho mình những phút giây thanh tịnh, tìm cái “bản năng tự do” trong con người trở về hòa hợp với tự nhiên, có lúc thấm đậm tư tưởng Thiền quyện lẫn với tinh thần thoát ly của Đạo giáo, như ở nhiều bài thơ của Trần Quang Triều, Nguyễn Sưởng, Nguyễn Ức, Nguyễn Trung Ngạn... mà chỉ xin dẫn dưới đây một bài :
Nguội ngắt lòng danh lợi, Am thiền rảo gót qua. Xuân chầy, hoa mỏng mảnh, Rừng thẳm, ve ngân nga. Mưa tạnh, da trời biếc, Ao trong, ánh trăng ngà. Khách về sư biếng nói, Thông rụng nức mùi hoa
(Đề Gia Lâm tự - Trần Quang Triều - Huệ Chi dịch)
Tuy nhiên, trong chỗ sâu nhất của tâm hồn, tư tưởng, lớp người tưởng chừng thoát tục này lại vẫn ẩn giấu tình cảm sâu nặng của những nhà Nho nhập cuộc, không thôi băn khoăn thao thức về ý thức trách nhiệm của kẻ sĩ đối với nước và dân:
Gió vờn trụ đá hạc lên tiên, Mây phủ nhà tranh rồng ngủ yên. Chợt nghĩ đến dân rầu khúc ruột, Chuông Quỳnh lạnh thấm ánh trăng đêm.
(Trùng đáo Quỳnh Lâm Bích Động am lưu đề - Nguyễn Sưởng - Huệ Chỉ dịch)
3. Tóm lại, dưới hình thức một Thiền viện, Quỳnh Lâm thời Lý-Trần thực chất là hình ảnh thu nhỏ của một sự dung hợp văn hóa, bắt nguồn từ mạch sống của một xã hội đang tự phát hay tự giác kéo giãn những ràng buộc khắt khe về hệ tư tưởng, làm cho đời sống an lạc kéo dài, tâm hồn dân chúng thảnh thơi tự tại, và mọi tiềm năng ngày càng nẩy nở. Chỉ từ giữa thế kỷ XV trở đi, Nho giáo trở thành độc tôn, hiện tượng dung hợp nói trên mới bị quan điểm chính thống của vương triều Lê sơ xóa bỏ. Tuy vậy, trong tâm lý cũng như trong thói quen sinh hoạt lâu đời của người dân, việc xóa bỏ đâu phải là chuyện dễ dàng. Trên Phật điện ở các chùa chiền Việt Nam, cho đến tận ngày nay, bên cạnh bàn thờ Phật vẫn cứ có một tòa riêng thờ Mẫu, biểu tượng sự chung sống của Phật giáo với Đạo giáo và các tín ngưỡng khác của dân tộc. Và trong đời sống thực tế ở nhiều làng xã, cuộc đấu tranh dai dẳng giữa Nho và Phật cũng đã diễn ra, kéo dài suốt nhiều thế kỷ mà thơ ca dân gian xung quanh chùa Quỳnh Lâm còn ghi lại:
Một bên Phật giáo thách đố:
Quỳnh Lâm khánh đá chuông đồng, Muốn chơi thì bỏ của chồng mà chơi.
Ẩn ý của hai vế thơ: hãy thoát khỏi lễ giáo trói buộc của Nho để đền với Phật.
Một bên Nho giáo thách đố lại :
Của chồng lắm lắm em ơi, Bao giờ trả hết đi chơi chùa Quỳnh.
(Như trên, đều do chúng tôi sưu tầm năm 1970)
Ẩn ý của hai vế thơ đối lập: lễ tục Nho giáo đã rất sâu nặng, gắn với cả quyền lợi kinh tế trong chế độ gia trưởng phong kiến, khó lòng hất đổ được.
Cuộc đấu tranh không phân thắng bại này chính là một biểu hiện âm thầm tự phát và trường kỳ của người dân, như một bản năng thâm căn cố đế phản kháng lại chủ trương cực quyền của giai cấp thống trị trong mọi thời đại về sau, những kẻ muốn dùng chỉ một hệ tư tưởng để áp đặt và duy trì ách thống trị của họ. Kết quả, như đã thấy, thời đại Lê sơ với bộ máy chuyên chế hùng mạnh và với một vị vua khai sáng nằm gai nếm mật trong mười năm kháng Minh gian khổ là Lê Lợi (1385-1433), với một vị vua tài năng quả đoán khác là Lê Thánh Tông (1442-1497), thế mà cũng chỉ trụ được trong chưa đầy một trăm năm là sụp đổ (1428-1527) (trên thực tế, sau khi triều đại Lê Thánh Tông chấm dứt vào năm 1497, với những vua Quỷ vua Lợn - cần được hiểu là một cách ví von hình tượng không chỉ để châm biếm hai ông vua Lê Uy Mục (1488-1509) và Lê Tương Dực (1493-1516) mà còn nhằm chỉ chung những đấng con trời dâm ác, có tầm nhìn ngu tối như “quỷ chột” và hành vi độc địa, hồ đồ, thô lậu như “đồ tể, hoạn lợn”... - sức sống của triều đại này đã sớm kết liễu rồi). Còn các triều đại tiếp theo thì khỏi phải nói, nội bộ luôn luôn lục đục, mâu thuẫn, có hư vị đấy nhưng uy tín thực trong dân chúng rất ít ỏi, có triều vua chỉ tồn tại được mấy tháng hoặc mấy ngày.
Đây chính là bài học vô cùng sinh động, quý giá, giúp ta soi tỏ đến tận gốc quy luật suy thoái không cưỡng nổi của bất kỳ cơ chế cực quyền nào trong trường kỳ lịch sử của dân tộc Việt Nam - cái quy luật lòng dân như nước mà dân gian từ xưa đã đúc thành những câu ngạn ngữ thâm thúy:
Nước đâu dám sánh non cao, Nước xuôi chỗ trũng, nước vào đầm sâu. Nước nào có phụ non đâu, Nhưng non chớ tưởng bền lâu muôn đời. Nước hèn mọn lắm non ơi, Nước xuyên đá thủng non trôi không chừng. Nguồn:
Tham luận Hội thảo Phật giáo thời Trần, 8/10/2005 Số lượt đọc:
4507
-
Cập nhật lần cuối:
06/09/2008 05:30:29 PM
Ý kiến của bạn: |  |
Thông tin liên quan: Lạc sở hữu10/04/2007 06:18' PM Khi doanh gia đọc sách Phật là cốt tìm một chút lắng đọng trong tâm hồn. Nhưng không ngờ từ những giờ phút bình yên nay lai nhận biết thêm nhiều điều mới mẻ sâu sắc... Quả, triết lý nhà Phật có sức dẫn dù lòng người, kể cả những người quanh năm bận rộn mua và bán... Triết lý nước và hội nhập27/03/2007 02:29' PM Đặc điểm tự nhiên của việt Nam mang tính chất bán đảo nổi trội. Trung bình cứ 1 km2 đất đai có 1km đường sông. Bởi vậy, nếu hiểu văn hóa là môi trường được con người thích nghi và biến đổi, thì tính sông nước được xem là một đặc trưng của văn hóa Việt Nam. Làm gì để hội nhập?12/03/2007 10:26' AM Toàn cầu hóa đã phát sinh nhiều vấn đề mà chúng ta cần nhận diện và giải quyết. “Chúng ta có dám suy nghĩ và làm như các doanh nhân thành công trên thế giới từng nghĩ” Trước khi bàn về chuyện doanh nhân Việt Nam là ai, cần làm gì để tồn tại và phát triển trong môi trường toàn cầu hóa, chúng ta hãy nhận diện một số vấn đề mới phát sinh do toàn cầu hóa mang lại. Hội nhập thành công phải là theo kịp bước đi của thời đại13/03/2007 10:09' AM Năm 1907, phong trào Duy tân được phát động với mục đích mở ra một cuộc hội nhập cho dân tộc nhưng cuối cùng thất bại. Cuối năm 2006, Việt Nam gia nhập WTO, đánh dấu việc Việt Nam chính thức hội nhập với thế giới. Với góc nhìn “hồi cố”, ĐBQH, Nhà sử học Dương Trung Quốc đã có những đánh giá sắc sảo về tiến trình hội nhập của Việt Nam qua đối thoại cuối năm với người đai biểu nhân dân… Toàn cầu hóa và hội nhập văn hóa07/11/2006 06:34' PM Toàn cầu hóa là một xu thế không thể cưỡng lại đối với tất cả các quốc gia. Chủ động để hội nhập là một thái độ tích cực, khôn ngoan. Chủ động hội nhập là khẳng định đường hướng có chiến lược, có chiến thuật, có kế hoạch cho tùng bước đi. Chủ động hội nhập sẽ khai thác được nhiều nhất những thuận lợi, những cơ hội để dân tộc có nhiều lợi ích nhất... Hoài bão đích thực và một nhân hiệu của Barack Obama14/11/2008 10:54' AM Có một hoài bão đích thực và một nhân hiệu liên quan là một tài sản vô cùng quan trọng trong thời đại ngày nay, thời đại của internet, của thực tế và của cá nhân. Đó là những điều cốt yếu tác động đến thành công cá nhân. Nó có vị trí chiến lược bên cạnh những người thành công nhất thế giới, như Barack Obama.... Bi kịch con người29/10/2008 09:07' PM Cuộc đời là một tấn thảm kịch ! ... Bằng một trái tim lạc quan hào hùng có lẽ bạn muốn chối bỏ thực tại đầy yếm thế đó chăng? Bạn hãy thử hình dung cuộc đời ngắn ngủi của con người bị kẹt giữa bao cuộc tranh sát tương tàn: biết bao kẻ ăn mày đói rách, biết bao kẻ lang thang cơ nhỡ không chốn nương thân đi giữa cuộc đời nhung lụa, và bất hạnh đến từ đâu? Con người là trung tâm: sự khác biệt giữa hai quan điểm tiêu biểu22/10/2008 09:18' PM Quan niệm coi con người là trung tâm đã trở thành cách nhìn, cách nghĩ có sức hấp dẫn, thu hút sự quan tâm của đông đảo các nhà lý luận và các nhà hoạt động chính trị - xã hội. Cùng với quá trình đổi mới, nhiều nhà khoa học xã hội và nhân văn nước ta đã tiếp cận được với không khí học thuật chung của thế giới; mà một trong những đặc điểm của khoa học xã hội và nhân văn thế giới từ thập kỷ 90 là cung cấp cơ sở khoa học, giúp cho các quyết sách tránh thái độ bằng mọi giá nhằm đến tăng trưởng kinh tế, định hướng cho các kế hoạch xã hội đừng quên mục tiêu phát triển con người... Triết học không còn là đặc sản của những "thiên tài"…01/10/2008 10:52' AM (TT&VH) - Bùi Văn Nam Sơn sinh năm 1947 tại Vĩnh Trinh, Duy Xuyên, Quảng Nam, từng học khoa Triết, Đại học J. W. Goethe, Frankfurt/M, CHLB Đức. Trong khoảng 5 năm trở lại đây, khoảng 15 tác phẩm do ông dịch, chú giải, hoặc giới thiệu, chú thích, hiệu đính… được giới học thuật và bạn đánh giá rất cao. Sau ba quyển Phê phán của I. Kant và Hiện tượng học Tinh thần của Hegel, nay ông vừa cho ra mắt bản dịch và chú giải quyển Khoa học Lôgíc của Hegel (NXB Tri thức, 2008). TT&VH có một cuộc trò chuyện đặc biệt với ông. Một vài suy nghĩ về vai trò triết học Hegel và “ý niệm tuyệt đối” của ông16/09/2008 08:09' AM Triết học Hêgen là một thứ "chủ nghĩa duy tâm thông minh", có những "hạt nhân hợp lý" và rất có giá trị, trở thành một trong những tiền đề trực tiếp của chủ nghĩa Mác, được các học giả và các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đánh giá rất cao... Gặp “ông chủ” Viet-studies13/09/2008 09:43' AM Các “fan” bất ngờ gặp ở Press Café trong cơn mưa lạ Sài Gòn. Hiểu vì sao trên trang web được coi như bộ lọc tri thức lớn nhất, có dòng báo cáo: “Cho đến ngày 16.8 trang này không được cập nhật thường xuyên – người làm trang về quê”. Vị khách cao gầy, áo pun giản dị, kêu “1 ly cà phê đá lớn” – giáo sư tại Mỹ nổi tiếng nhưng khiêm nhường - Trần Hữu Dũng... Nghĩ về người tri thức12/09/2008 09:05' AM Từ đòi hỏi phát triển của xã hội hiện đại mà hiểu sâu hơn cái logic của tư duy truyền thống khi đặt kẻ “ sĩ” đứng đầu trong thang bậc phận vị xã hội khi các cụ ta từng hiểu rõ “ phi thương bất phú, phi công bất hoạt, phi nông bất ổn, phi trí bất hưng”. Khi tiến trình phát triển và hội nhập của đất nước đi vào chiều sâu, vấn đề tri thức và trí thức càng nổi rõ... Bài khác: Phan Châu Trinh và sự thức tỉnh dân tộc thế kỷ XX03/11/2005 01:22' PM Về Phan Châu Trinh, trước đây đã có nhiều người nghiên cứu, nhất là về vai trò, vị trí của ông đối với phong trào cách mạng đầu thế kỷ. Tuy nhiên, do phương pháp, trình độ nhận thức, cững như do hạn chế về tư liệu mà sự đánh giá về ông cũng có nhiều điểm chưa thỏa đáng. Vấn đề Phan Châu Trinh trong điều kiện cho phép hiện nay đặt ra trước các nhà nghiên cứu nhiều khía cạnh mới mẻ. Trong bài viết này tác giả cố gắng tìm hiểu những đóng góp của ông vào sự thức tỉnh dân tộc đầu thế kỷ XX như là một thử nghiệm, một sự lựa chọn con đường phát triển cho dân tộc... Tiêu chí kiểm định đạo đức con người qua tục ngữ, thơ ca dân gian Việt Nam02/11/2005 08:15' AM Tục ngữ, thơ ca dân gian Việt Nam là kết quả lao động sáng tạo, thể hiện những tài triết lý sâu sắc được đúc rút từ thực tiễn của cha ông ta. Chúng ta thấy trong đó chứa đựng nhiều việc cụ thể, hoặc nhận thức cảm tính và suy luận… Mặc dù vậy, tục ngữ, thơ ca dân gian Việt Nam cũng thừa nhận rằng, việc kiểm định đạo đức con người không phải là dễ dàng, đơn giản; song không phải vì thế mà ý nghĩa của tục ngữ, thơ ca dân gian Việt Nam giảm đi, mà trái lại, càng nói lên giá trị hiện thực của loại hình văn học độc đáo này... Triết lý môi trường01/11/2005 07:27' AM Định nghĩa hay nhất về con người xưa nay vẫn là câu nói của cổ nhân: Nhân thân: tiểu vũ trụ. Không gian Euclide là không gia ba chiều. A.Einstein đã “cắm” thêm vào không gian Euclide một chiều nữa là “chiều thời gian” (cũng là chiều lịch sử) và hình thành nên quan niệm triết học - khoa học “không gian - thời gian liên tục”. Quan niệm “Vũ trụ”, “Không gian thời gian liên tục” như thế thì con người là một “Tiểu vũ trụ” đã thống nhất, hòa đồng với “Đại vũ trụ”, thống nhất hòa đồng thế giới vĩ mô và thế giới vi mô. Đấy chính là tiền đề để ta triết lý về môi trường thời hiện đại... Về nguồn gốc triết học Việt Nam28/10/2005 07:53' AM Mặc dù một số tài liệu cả trong nước và ở nước ngoài đã nói về triết học Việt Nam (1), song một câu hỏi mà cho đến nay vẫn chưa có sự trả lời thống nhất trong giới lý luận - đó là: Việt Nam có triết học không? Nếu có thì đó là triết học gì? Nguồn gốc ra đời, sự tồn tại và phát triển cũng như vai trò của nó đối với hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của dân tộc ta như thế nào? Cảm nhận triết lý tục ngữ, ca dao27/10/2005 08:31' AM Theo một lối suy ngẫm nào đó, có thể coi những thể ngữ ca dao đọng lại cho đến bây giờ là kết quả của vô vàn những cuộc tuyển chọn, nên thường là những điều người hôm nay vẫn tâm đắc, gật gù, thấy chúng. nghiệm đúng với mình. Thế là chúng mang tính triết lý. Triết lý chẳng qua là những kinh nghiệm sống, nghiệm đúng nhiều trường hợp. Nghiệm đúng càng nhiều thì triết lý càng nâng cao... Cái tâm đời thường20/10/2005 08:06' AM Cái Tâm con người gắn với đời sống con người. Đời sống dù là của một vĩ nhân hay của một người thường thì cũng cần phải có cái đế sống, tức là phải ăn, mặc, duy trì nòi giống. Vòng đi trở lại, chả thiếu gì những kẻ cao siêu rút cuộc cũng phải thừa nhận cái đời thường thế mà hoá ra to lắm. Có người còn cho là hơn cả sự to: Sống cho trọn một cái đời thường là khó nhất... Tiến tới một triết học về hợp tác vì sự giải phóng con người16/10/2005 10:05' AM Vượt thời gian là một khả năng tuyệt vời của nhận thức. Khả năng vượt thời gian cho phép người ta có thể truy đuổi, suy ngẫm về tương lai, hay ít nhất là chuẩn bị tiền đề tâm lý để đi đến với nó. Và ngay cả những người hôm nay đã tìm ra công nghệ để đi đến tương lai nếu trong quá trình tiến đến tương lai tiếp theo, tương lai cấp hai, vẫn khư khư giữ lấy bản đồ án của tương lai thứ nhất thì cũng sẽ trở thành kẻ bảo thủ trong giai đoạn thứ hai này. Cơ sở của công nghệ đi đến tương lai là tư duy không ngừng, lựa chọn không ngừng và loại bỏ không ngừng... |