Đang tải dữ liệu...
ChúngTa.com.NET CommunityHanoi Software JSCDoanh nhân 360
Home
 
Suy ngẫm
 
Giáo dục
 
Trải nghiệm Trưởng thành
 
Kinh doanh
 
CNTT
 
Góc Giải trí
 
Tác giả
   Bản chất thế giới    Nhận thức    Hệ giá trị    Thực tiễn-Hành động    Ngẫm nghĩ Việt Nam    Điểm sách hay
Tìm bài viết
Tìm kiếm nâng cao
Thống kê
Số lượt truy cập: 44.358.356
Số người trực tuyến: 231
Bạn đọc đến từ đâu?

Bạn đọc của ChúngTa.com đến từ đâu?

Nhận thức lại toàn cầu hóa và chỉ số toàn cầu hóa của Việt Nam trong 72 nước năm 2007

PGS. TS. Hồ Sĩ Quý (hosiquy@fpt.vn)
Tạp chí Thông tin khoa học xã hội
   
08:51' PM - Thứ tư, 14/05/2008

Đằng sau môn kinh tế học phức tạp, toàn cầu hóa đã tạo ra một kết quả cực kỳ giản đơn: sự thịnh vượng của bất kỳ một nước nào trong hệ thống thương mại toàn cầu ngày càng lệ thuộc vàosự thịnh vượng của các nước khác.

(“Behind the complicated economics, globalization produces one ooutcome that is very straightfoward: the prosperity of any one country in the global trading system is increasingly dependent on the prosperity of others”)

Human Developmant Report 2005

Tóm tắt

Nếu trước đây, toàn cầu hóa (TCH) hiện ra trong nhận thức chủ yếu là một hiện tượng đa diện, phức tạp, không dễ nắm bắt, thì ngày nay TCH dường nhưđã lộ diện một cách rõ hơn, dễ nhận biết hơn với những ảnh hưởng, ý nghĩa (thuận và nghịch) ít nhiều có thể đo đếm được. Bảng chỉ số TCH 2007 là một cố gắng lượng hóa trình độ TCH của các quốc gia theo hướng đó. Thực tế ngày càng chỉ ra rằng, TCH, dù nhìn từ góc độ nào cũng không phải là sản phẩm nảy sinh từ ý muốn chủ quan của các cường quốc hay của một thế lực nào khác (dù thiện ý hay không thiện ý, mà trước hế nó là kết quả khách quan của sự phát triển kinh tế thế giới cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI. Bởi vậy, về cơ bản,TCH là một hiện tượng đi theo logic của tiến bộ xã hội. Nhưng cũng giống như mọi nấc thang tiến bộ khác, không có bước tiến bộ nào thuần tuý bằng phẳng, giản đơn. Để tiến bộ, đôi khi sự phá triển lại phải đi theo những lối quanh co, thậm chí, những bước thụt lùi với những cái giá phải trả có thể sẽ rất đắt nếu như các chính phủ thiếu tầm nhìn xa và không kịp thời đưa ra được những quyết sách thông minh. Với nội dung chính như vậy, bài viết bàn tới 6 vấn đề: 1/ Thời điểm xuất hiện TCH, 2/ Bộ mặt của TCH, 3/ TCH và tình trạngđói nghèo, 4/ Vấn đềTCH văn hoá, 5/ TCH ở châu Á 6/ Chỉ số toàn cầu hoá.

Trong bảng xếp hạng chỉ số TCH 2007, Việt Nam xếp thứ 48/72 quốc gia và vùng lãnh thổ. Vị trí 48/72 là một khích lệ lớn đối với mọi hoạt động kinh tế - xã hội. Vấn đề là ở chỗ, ở những bước đầu tiên vào hội nhập toàn cầu, Việt Nam hầu như chưa có những trải nghiệm hội nhập kinh tế quốc tế. Còn ngày nay hành trang để đi những bước tiếp theo, phải nói rằng,đã có ít nhiều.

I. Vấn đề thời điểm xuất hiện toàn cầu hóa

1. Sau vài thập niên thảo luận, lịch sử TCH dường như dài hơn, khi thời điểm xuất hiện của nó được các nhà nghiên cứu xác định ngày càng lùi xa hơn về quá khứ. Lúc đầu, toàn cầu hoá được hiểu là một hiện tượng mới của thế giới hiện đại ra đời cùng với việc gia tăng kinh tế thương mại nhờ xuất hiện các công ty đa quốc gia, liên quốc gia sau Chiến tranh thế giới II và từ lúc thuật ngữ “toàn cầu hoá” được sử dụng phổ biến hơn sau những năm 60 của thế kỷ trước. Sau đó, khi nhận ra nhiều nội dung của toàn cầu hoá đã có từ lâu trong quan niệm về các vấn đề toàn cầu, hoặc về các thểchế quốc tế hoá, người ta nhận thấy việc sử dụng vàng làm bản vị trao đổi (Gold Standard, 1870) giữa các loại tiền tệ cùng với sự bành trướng của đế quốc Anh hồi thế kỷ XIX đã có ý nghĩa như một sự khởi đầu TCH. Khi mở rộng quan niệm về toàn cầu hoá ra ngoài các nội dung thương mại, người ta lại thấy cuộc vượt biển tìm ra châu Mỹ của Christopher Columbus năm 1492, hay chuyến thám hiểm vòng quanh thế giới của Ferdinand Magellan năm 1522 cũng chính là những hình thức rất điển hình của toàn cầu hoá. Nhưng nếu công nhận Columbus hay Magellan là thủy tổ của hiện tượng toàn cầu hoá, thì cũng tương tự như thế, người ta khó có thể phủ nhận, TCH phải chăng đã bắt đầu từ khi các “thương nhân lạc đà” vào thế kỷ thứ 2 trước công nguyên khai thông “con đường tơ lụa” với chiều dài khoảng 7000 cây số nối liền phương Đông với phương Tây.

2. Quả thực, việc xác định thời điểm xuất hiện TCH ở hầu hết các nhà nghiên cứu chuyên nghiệp đều có những lý lẽ khó bác bẻ. Nhưng nếu kéo lùi lịch sử TCH đến tận “con đường tơ lụa” thì vấn đề sẽ trở nên kém ý nghĩa hoặc chuyển sang ý nghĩa khác. Bởi vậy, chúng tôi chú ý đến ý kiến của Thomas L. Friedman (dù chỉ là một nhà báo, nhưng uy tín của ông khi phát ngôn về những vấn đề toàn cầu thì chính học giả uyên bác Joseph E. Stiglitz cũng phải coi là có giá trị). Trong “Chiếc Lexus và cây ôliu” 1999, Friedman chọn thời điểm bức tường Berlin sụp đổ năm 1989 và dùng hình tượng “thế giới tròn 10 tuổi” để chỉ TCH với sự mới mẻ của nó. Trong “Thế giới phẳng: Tóm lược lịch sử thế giới thế kỷ XXI”, 2005, Friedman tiếp tục khẳng định ý nghĩa của giai đoạn lịch sử hiện đại này bằng việc chọn thời điểm năm 2000 với sự ra đời của Internet và thương mại điện tử làm mốc để đánh giá. Theo Friedman, hiện thời thế giới đang ở trong giai đoạn TCH “ba chấm không” (3.0). Nghĩa là, “chúng ta đang ở trong một hệ thống quốc tế mới. Hệ thống này có logic, có quy luật, có áp lực và có động lực riêng của nó - nó đáng được gọi bằng cái tên riêng - TCH” [6. tr. 26-27]. Friedman đã phân tích những quan hệ kinh tế - xã hội phức tạp do sự xuất hiện của các liên kết toàn cầu để làm rõ quan điểm này. Con số mà Friedman dẫn ra làm minh chứng là, nếu ở thời điểm năm 1975, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của toàn thế giới chỉ vỏn vẹn có 23 tỷ USD, thì đến năm 1997 con số đó đã là 644 tỷ USD, gấp 28 lần nhiều hơn. Gần đây, theo công bố của Tổ chức Thương mại và Phát triển (UNTAD) thuộc Liên Hợp Quốc, FDI toàn cầu năm 2000 đã lên tới 1.400 tỷ USD, và năm 2007 đã tăng đến mức kỷ lục là 1.538 tỷ USD [Xem thêm: 25].

Joseph E. Stiglitz và tác phẩm nổi tiếng của ông về TCH

Xem thêm: http://www2.wwnorton.com/catalog/spring03/032439.htm

Thomas Friedman và hai tác phẩm nổi tiếng của ông về TCH

3. Con số FDI trước hết thể hiện khối lượng và giá trị của các liên kết kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, thông qua khối lượng và giá trị, con số đó cũng gián tiếp bộc lộ quy mô và trình độ của các liên kết. Với tỷ lệ 23/1500, nếu không tính tới sự mất giá của đồng Dollar thì sau hơn 30 năm, giá trị các liên kết kinh tế toàn cầu đã tăng hơn 65 lần. Ẩn giấu bên trong và đằng sau các liên kết kinh tế đó, là các liên kết khác (bao gồm cả sự liên minh, hợp tác, thoả hiệp, cạnh tranh, đối đầu, mâu thuẫn...) về xã hội và chính trị... Trong TCH, mọi liên kết này đều gia tăng theo nhiều chiều hướng khác nhau. Nghĩa là, TCH ở hai thập niên gần đây là một thứ TCH rất khác; nếu chưa phải là khác về chất, thì cũng không biết có còn là khác về lượng hay không. Rõ ràng, phải đến hai thập niên gần đây, các liên kết toàn cầu mới đạt tới quy mô, khối lượng và trình độ như ta hình dung ngày nay. Dưới tác động của TCH, thế giới “co lại”, “nhỏ dần” và trở nên “phẳng”, nếu chấp nhận cách diễn đạt “rất Tây” của Thomas L. Friedman.

Khó có thể phủ nhận, lịch sử TCH trước hết thuộc về lịch sử của xã hội hiện đại.

II. Bộ mặt của toàn cầu hóa

1. Vài năm gần đây, những nhận xét về TCH mà ta thường bắt gặp hằng ngày trên các phương tiện thông tin đại chúng, phần lớn là những nhận xét trái chiều: Mặt trái của TCH đang lấn át những tác động tích cực của các quá trình liên kết xuyên quốc gia. Chương trình nghị sự thương mại khởi xướng từ vòngđàm phán Doha 2001 vẫn bế tắc. Các dòng vốn đang ngầm di chuyển theo bàn tay chỉ huy của chủ nghĩa bảo hộ biến tướng cả ở phạm vi quốc tế và quốc gia. Tự do hóa khu vực dịch vụ của EU gặp quá nhiều trở ngại - tham vọng nhất thể hóa châu âu vẫn còn khá xa vời. Tiến trình thương mại tự do châu Mỹ vẫn giẫm chân trong trì trệ. Nam Mỹ hưởng ứng Diễn đàn xã hội toàn cầu (WSF) tích cực hơn là tham gia Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF). Các nền văn hóa truyền thống ngày càng mai một trước TCH; khắp nơi, văn hóa bản địa bị xâm hại. Làn sóng di trú gia tăng từ khắp các châu lục. Chính trị thế giới quá phụ thuộc vào Mỹ; lợi ích của Mỹ chi phối bàn cờ chính trị thế giới. Tình tạng đói nghèo, bấ bình đẳng, mất an toàn và tha hóa… đang có dấu hiệu ngày càng trầm trọng thêm [Xem thêm: 16].

Phải thừa nhận rằng, tất cả những nhận xét đó đều hết sức nghiêm túc và có trách nhiệm. Trong một số trường hợp, trách nhiệm với TCH còn được thể hiện dưới dạng những tiếng kêu cứu của một số tổ chức phi chính phủ, một số chính khách… xuất phát từ lập trường của những người hưởng ứng Diễn đàn xã hội thế giới (WSF) [Xem: 23, 28], nhằm ủng hộ người nghèo, nước nghèo, ủng hộ việc cứu giữ các bản sắc văn hóa truyền thống. Tuy nhiên, sự thật phản ánh trong các nhận xét nêu trên mới chỉ là một bộ mặt, có thể gọi là mặt trái, mặt tiêu cực, mặt “chưa như mong muốn” hay “mặt khó tránh” của TCH. Vì thế, cũng hoàn toàn nghiêm túc và trách nhiệm khi nhiều người vẫn nói ngược lại rằng, điều quan trọng hơn là phải nhìn TCH từ phương diện khác, có thể là phương diện chủ đạo, được quy định bởi lý do tồn tại của chính hiện tượng phức tạp này (TCH), đặc biệt, khi lưu ý đến tác động của TCH ở khu vực Đông nam Á, Đông Á, hay Tây âu. Và, nếu nhìn bằng quan điểm như thế, TCH sẽ hiện ra với một bộ mặt khác, như một đối tượng cần và đáng chinh phục. Trên thực tế, không ít chính phủ và các tổ chức xã hội, các nhà hoạch định chiến lược và kế sách phát triển xã hội… (không chỉ ở Việt Nam) đã và đang nhìn TCH như vậy.

2. Đến nay, nếu tính từ cuối thập niên 80 (thế kỷ XX), thời gian mà TCH tác động một cách dồn dập đến đời sống nhân loại mới chỉ khoảng 20 năm. 20 năm, nhưng những gì mà TCH đem lại thì đã đủ xác nhận rằng, trên thực tế, TCH có ý nghĩa không hề kém những cuộc cách mạng xã hội thực sự, thậm chí, về phương diện phạm vi ảnh hưởng, TCH còn tác động đến một không gian rộng lớn hơn bất kỳ một cuộc cách mạng nào khác trong lịch sử. Về điều này, Amartya Sen, GS. Đại học Cambridge, Mỹ, người đoạt giải Nobel kinh tế 1998 cũng có ý kiến tương tự [Xem: 21].

TCH đã tạo ra một bộ mặt mới của thế giới, dĩ nhiên, cùng với và dựa vào những tiến bộ khác, mà trước hết là tiến bộ khoa học - công nghệ, tiến bộ kinh tế (nhưng tuyệt nhiên không có nghĩa “toàn cầu hoá chẳng qua chỉ là những tiến bộ kinh tế và khoa học công nghệ được nhìn từ góc độ khác”). Sức mạnh của TCH là sức mạnh có thật được tạo ra từ những liên kết, hợp tác, cạnh tranh, và cả đối đầu nữa. Trong vòng 10 năm qua, giá trị thương mại thế giới đã tăng gần gấp đôi, vượt quá con số 10.000 tỷ USD năm 2005 với tốc độ tăng trưởng thực tế ở năm cao nhất (2004) là 9%. FDI toàn cầu năm 2000 là 1.400 tỷ USD, và năm 2007 là 1.538 tỷ USD. Tỷ trọng xuất khẩu trong GDP toàn cầu và trong GDP của hầu hết các nước và các khu vực đều tăng lạc quan hơn nhiều so với các dự báo trước đó - Đông Á: tăng trên 50%; Cận Sahara và châu Phi tăng trên 30%; Mỹ Latinh và Caribe tăng trên 20%; Nam Á tăng gần 20%. Ở châu Á, TCH đã góp phần làm giảm đáng kể tình trạng đói nghèo (đặc biệt ở Việt Nam, tỷ lệ nghèo đã giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 24,1% năm 2004 và 14,8% năm 2007), tầng lớp trung lưu tăng nhanh ở Ấn độ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Malaysia 1... Riêng với Việt Nam, sau khi gia nhập WTO, trong năm 2007, nền kinh tế tăng trưởng 8,5%, cao nhất trong 10 năm qua; đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) lên tới 20,3 tỷ USD, bằng tổng mức thu hút FDI trong suốt 5 năm 2000-2005; kim ngạch xuất khẩu đạt gần 50 tỷ USD tăng 21,5% so với năm 2006 [Xem: 12]...

Những số liệu ấn tượng vừa nêu là những chỉ báo trực tiếp thể hiện bộ mặt của toàn cầu hoá. Nhưng, vấn đề không nằm ở chỗ nền kinh tế thế giới tăng tỷ trọng thương mại hay tăng giá trị thương mại, càng không phải là việc châu Á bớt đói nghèo hay Việt Nam tăng tưởng cao hơn, mà quan trọng hơn, thế giới đã tở nên liên kết hơn, gắn bó với nhau hơn không chỉ về kinh tế mà còn cả về phương diện xã hội (Các chuyên gia WB cho rằng, gắn kết xã hội là một nhân tố thiết yếu góp phần làm cho Đông Á đang phục hưng, cũng giống như châu Âu đã Phục hưng hồi 6 thế kỷ trước [Xem: 8. tr.3]).

3. Sự phụ thuộc lẫn nhau là kết quả đặc biệt rõ của TCH. Thương mại quốc tế chi phối mức sống của cả nước giàu lẫn nước nghèo. Mặc dù sự phụ thuộc lẫn nhau mang tính bất đối xứng (asymmetry): nước nghèo bị lệ thuộc nhiều hơn vào nước giàu, các nước đang phát triển bị lệ thuộc nhiều hơn vào các nước công nghiệp. Nghĩa là sự thua thiệt rơi vào các nước kém phát triển. Tuy vậy, các nước giàu muốn giàu thêm cũng buộc phải làm cho các nước nghèo tăng tưởng tương đối hoặc không bị “giậm chân tại chỗ”. Các chuyên gia UNDP nhận xét: “Đằng sau môn kinh tế học phức tạp, TCH đã tạo ra một kết quả cực kỳ giản đơn: sự thịnh vượng của bất kỳ một nước nào trong hệ thống thương mại toàn cầu ngày càng lệ thuộc vào sự thịnh vượng của các nước khác” [26. tr. 114-115]. Hiện tượng tăng trưởng thô bạo (ruthless growth): nước giàu sẽ giàu thêm trong khi các nước nghèo ngày một kiệt quệ, có thể, đã không thể tồn tại như trước được nữa. Không phải vì lòng tốt của những nước giàu. Mà vì logic tất yếu của sự tăng trưởng toàn cầu buộc các nước giàu phải quan tâm tới thị trường và nguồn lực bên ngoài biên giới của mình. Dĩ nhiên, khoảng cách giàu nghèo vẫn đang gia tăng một cách đáng ngại, nhưng các nước nghèo cũng không thể tiếp tục cứ nghèo như trước. Mà là nghèo tương đối trong tương quan với nước giàu ở một khoảng cách giàu nghèo ngày một dãn rộng.

4. Trong khoảng cách giàu nghèo vẫn đang gia tăng này, có một vài quốc gia đi sau đang bứt phá và vượt lên. Việt Nam là một trường hợp được cộng đồng thế giới đánh giá như thế. Tuy trở thành một nước công nghiệp không phải là một lộ trình bằng phẳng và giản đơn. Bài học của Thailand và Philipines - sau vài thập niên phát triển năng động nhưng vẫn chưa phải là một Hàn Quốc ở Đông nam Á là một ví dụ. Nhưng với Việt Nam, cho tới nay, TCH rõ ràng đã được sử dụng ở nhiều lợi thế tích cực của nó. Những cơ hội phát triển, theo một số đánh giá từ bên ngoài, đã được nắm bắt và tận dụng khá hiệu quả. “Ra tới đường băng và chờ cất cánh” là hình tượng được dành để nói về Việt Nam. Điều này đặc biệt đáng chú ý nếu không quên rằng, ở Việt Nam, mặt trái của TCH cũng là một chủ đề được thảo luận và cảnh báo thường xuyên trên báo chí và cũng như trong các chương trình nghị sự.

Việt Nam ký nghị định gia nhập WTO 2006


World Economic Forum, Davos, 2007

Trang:  1/3  1   2   3   »
Số lượt đọc:  3211  -  Cập nhật lần cuối:  14/05/2008 09:03:43 PM
  Ý kiến của bạn về bài viết:
Bài mới:  
Cha và con gái
06/03/2010 10:12' AM
Con thuyền, phù sa
01/03/2010 03:38' PM
Bài khác:
Ta là ai?
22/03/2008
Liên kết web
Trang chủGiới thiệuLiên hệ