>> Cùng một tác phẩm
Một hôm tôi nhận được những lời tâm sự của một người bạn trẻ. Quả rất bi thảm. Chúng bộc lộ sự rối loạn của một tâm hồn hoàn toàn hoang mang không còn tìm thấy các chuẩn mực cho cuộc sống của mình và buông mình như một cái xác mặc cho dòng nước cuốn trôi. Chúng rất tiêu biểu cho trạng thái bất ổn của phần đông giới trí thức tinh hoa của đất nước này.
Bởi anh bạn của tôi, không thể nghi ngờ gì nữa, là một người thuộc giới tinh hoa. Anh ta đã học rất tốt ở Pháp và đã ở đấy nhiều năm. Vốn xuất thân từ một gia đình ưu tú, anh đã được hưởng một nền giáo dục tuyệt hảo. Anh chẳng hề giống chút nào với kiểu anh chàng trí thức sa đoạ, do đã lang thang vài ba năm trên các vỉa hè Paris, tưởng mình đã tiếp thu được nền văn minh Phương Tây và trở về nước với một lòng khinh bỉ sâu sắc đồng bào của mình, lúc nào cũng sẵn sàng xem thường đức hiền minh lâu đời của cha ông.
Trái lại, đây là một con người điềm tĩnh và chín chắn, hoàn toàn cân bằng, hoàn thành một cách đầy đủ các trách nhiệm của mình. Nhìn bên ngoài, đó là một con người hạnh phúc. Anh giấu dưới vẻ hồn nhiên và hoài nghi của mình những căn nguyên âm thầm khiến anh đau đớn. Anh đã bộc lộ chúng cùng tôi trong một cuộc tâm sự thống thiết.
“Các ngài thường than thở rằng các ngài, lớp người hơn chúng tôi mười lăm hay hai mươi tuổi, là một thế hệ bị hy sinh. Còn chúng tôi thì sao? Có phải chúng tôi là thế hệ được ưu đãi, đã được uống tận nguồn nền khoa học Phương Tây, có thể tự coi mình là nhân tố chính của cuộc đổi mới và hiện đại hoá đất nước?
Chính chúng tôi cũng tin điều đó. Nhưng kinh nghiệm và thực tế đã khiến chúng tôi thất vọng. Để tác động đến một xã hội đang trong đà chuyển biến và tự mình giúp vào cuộc chuyển biến đó, thì phải được gắn liền với xã hội đó bằng những mối quan hệ trí tuệ và tâm hồn sâu sắc nhất. Nói cách khác, để mong tạo được một tác động đến đồng bào của mình, thì phải đồng cảm được với họ trên một lý tưởng sống và tư duy nhất định bắt rễ sâu xa ngay trong nền móng của quốc gia. Vậy mà nền giáo dục ngoại quốc của chúng tôi đã khiến chúng tôi hoàn toàn cách biệt với đất nước và nòi giống mình.
Tôi hổ thẹn mà thú nhận rằng đối với đồng bào của mình, tôi không còn cảm thấy mối đồng cảm dân tộc và nòi giống vốn gắn bó một con người với những người khác cùng chủng tộc với mình. Tôi thấy mình là một thứ người xa lạ ngay trên đất nước mình, chẳng hề có chút đồng cảm nào về tư tưởng và tình cảm đối với phần đông những người đồng chủng của mình.
 |
|
Phạm Quỳnh - hiệu Thượng Chi, bút danh: Hoa Đường, Hồng Nhân - là một nhà văn hóa, nhà báo, nhà văn và quan đại thần triều Nguyễn (Việt Nam). Ông là người đi tiên phong trong việc quảng bá chữ Quốc ngữ và dùng tiếng Việt - thay vì chữ Nho hay tiếng Pháp - để viết lý luận, nghiên cứu. Ông chủ trương chiến đấu bất bạo động nhưng không khoan nhượng cho chủ quyền độc lập, tự trị của Việt Nam, cho việc khôi phục quyền hành của Triều đình Huế trên cả ba kỳ (Bắc, Trung, Nam), chống lại sự bảo hộ của Pháp và kiên trì chủ trương chủ nghĩa quốc gia với thuyết Quân chủ lập hiến.
Các tác phẩm chính:
- Thượng Chi văn tập (5 tập) (Bộ Quốc gia giáo dục, Sài Gòn, 1962) - Pháp du hành trình nhật ký (NXB Hội Nhà văn - H, 2004) - Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922 - 1932 (NXB Tri thức, H,2007) - Một tháng ở Nam Kỳ - Mười ngày ở Huế - Luận giải về văn học và triết học (Nxb. Văn hoá Thông tin và Trung tâm văn hoá - ngôn ngữ Đông Tây xuất bản, H, 2003) - Hoa Đường tùy bút
>> Trang tác giả: Phạm Quỳnh
| Ngay cả đối những người thân của mình, đôi lúc tôi cũng thấy xa lạ, rất xa lạ, nếu không phải là về tâm hồn, thì cũng là về trí tuệ. Tôi không phải là một đứa con bất hiếu và biến chất. Tôi hết sức biết ơn bố mẹ đã hy sinh rất nhiều để cho tôi có được nền học vấn mà tôi đã bắt đầu không còn thấy rất tự hào nữa khi tôi nhận ra nó đã đưa tôi đi đến đâu. Tôi yêu quý và kính trọng họ, nhưng tôi không còn có cùng những suy nghĩ và tình cảm giống họ; tôi không suy luận và cảm nhận giống họ; tôi thấy mình khác họ, chính tôi, giọt máu sinh ra của họ!
Thật kinh khủng khi nói ra điều này, nhưng đôi khi tôi tránh trò chuyện với bố tôi, bàn luận với ông về một số điều e sẽ xúc phạm những niềm tin sâu xa nhất của ông.
Nếu toàn bộ cuộc sống tinh thần của tôi đã khiến tôi xa cách với những người thân của mình như vậy, thì nó càng không thể làm cho tôi gần gũi được với các đồng bào của tôi, ngay cả những người thuộc thế hệ tôi và được đào tạo như tôi. Bởi, để cộng cảm được với nhau, cần phải cùng có một số nguyên tắc chung nào đó, một lý tưởng chung. Vậy mà giữa chúng tôi chẳng hề có được điều đó. Có thể giữa chúng tôi chỉ có một nỗi đau chung. Nhưng đấy là một sự cộng cảm tiêu cực khiến cho tâm hồn cay đắng chứ không làm cho nó mạnh mẽ lên.
Thoạt đầu dường như tấm gương của đôi người trong số những người chỉ tuổi hơn chúng tôi một ít có thể là hình mẫu và hướng dẫn cho chúng tôi. Nhưng xin lỗi cho tôi được nói thật, thế hệ ngay sát trước chúng tôi, tức là thế hệ của ngài, nhìn chung tạo một ấn tượng chông chênh, bấp bênh, và tôi dám nói là bất lực và không nhất quán.
Tôi sẽ nghiêm khắc, thậm chí có thể bất công, tôi đã tự hứa với mình là sẽ thẳng thắn và tôi sẽ nói to lên những gì chúng tôi vẫn nghĩ thầm:
Các ngài, lớp đàn anh của chúng tôi, các ngài đã làm gì trong suốt hai mươi năm qua? Lẽ ra các ngài phải là những người mở đầu, vậy mà các ngài chỉ giỏi lợi dụng. Các ngài nịnh bợ cái chế độ đã tạo cho các ngài danh vọng và lợi lộc. Đi đâu các ngài cũng ca vang bài ca dai dẳng về tình bạn và hợp tác mà có thể chính các ngài cũng chẳng hề tin. Các ngài không dám nói thẳng với những người lãnh đạo chúng ta những gì chúng ta đang đau khổ. Các ngài không đủ dũng khí, và cũng chẳng đủ sự thành thật. Vậy nên chúng tôi không hề tin tưởng các ngài. Và giữa chúng tôi với nhau, những vấn đề cá nhân và lợi ích lại còn chia rẽ chúng tôi. Những tranh chấp nhỏ nhen và ganh ghét cá nhân đối lập chúng tôi với nhau. Và trong các bàn cãi của chúng tôi lúc nào cũng có một cái gì đấy không trong sạch nó làm hỏng các ý tưởng lành mạnh và đúng đắn nhất.
Lợi ích duy nhất chúng tôi có được từ nền giáo dục nước ngoài, là một ít đầu óc phê phán mà chúng tôi đem ra thực hiện đối với tất cả mọi thứ ở quanh mình, nhất là đối với lớp đàn anh lẽ ra phải là những người mở đường và dắt dẫn chúng tôi.
Và bị tách biệt với mọi thứ và mọi người như vậy, không thích ứng được với một xã hội và một chế độ mà chúng tôi chẳng hề có gì là chung với mình cả, chúng tôi là những người ngoại quốc ngay trên đất nước của mình, sống qua ngày, chẳng nhiệt tình và cũng chẳng chút cao quý nào, tự thấy xấu hổ và không bằng lòng về mọi sự quanh mình.
Đối với riêng tôi, nếu tôi không có bố mẹ già, tôi sẽ bỏ đất nước này mà đi, tôi sẽ sang Pháp, sang Châu Âu, đến một nơi nào đó ở đấy tôi sẽ là người xa lạ ở một đất nước xa lạ. Tôi nghĩ có thể như vậy tôi sẽ hạnh phúc hơn ở đây. Tôi đi tìm cơ hội cho tôi trên khắp thế giới mênh mông này, như một kẻ lang thang vô tổ quốc. Tôi sẽ sống mãnh liệt, một cách hiểm nguy, như Nietzsche từng dạy, và niềm hứng khởi ấy sẽ khiến tôi tự quên mất mình đi.
Dẫu sao, tôi cũng độc thân, và tôi sẽ luôn độc thân. Tôi không đủ can đảm lập một tổ ấm, bởi rồi tôi sẽ dạy dỗ các con tôi theo một nền giáo dục nào đây, trong khi chính tôi cũng không biết hướng cuộc đời mình theo những nguyên tắc nào?..”
Tôi đã buồn rầu lắng nghe những lời tâm sự sầu não ấy. Và khi người bạn trẻ của tôi lên án những lớp đàn anh, tôi đã “chịu trận” phần mình trong những lời trách móc kịch liệt và có phần đúng của anh. Càng nói anh càng hăng lên, và con người hằng ngày rất dịu dàng và hiền lành ấy trở nên nồng cháy càng tỏ cho ta thấy rõ anh đang đau khổ dường nào. Nghe anh nói ta nhận ra tất cả nỗi bi tráng trong tình trạng không thể thích ứng được với ngay đời sống của đất nước và nòi giống mình ở một lớp trẻ hăng hái và thanh cao.
Khi anh đã có hơi nguôi, đến lượt mình tôi đã cố gắng góp lời :
- Tôi hiểu căn bệnh của anh. Đấy là một căn bệnh có thể nói là lãng mạn. Đấy là “căn bệnh thế kỷ”. Những người trí thức Pháp hồi những năm 1830 đã từng biết đến căn bệnh này; đến lượt mình những người trí thức hồi năm 1930 cũng từng biết đến nó, càng thêm nặng bởi vì được đào tạo bằng một nền giáo dục ngoại bang, không có những mối liên hệ sâu sắc với môi trường và nòi giống, càng ngày họ càng “mất gốc”, theo cách nói của Maurice Barrès. Và căn bệnh chúng ta mắc, nhà văn lớn của nước Pháp đã biết và miêu tả một cách cặn kẽ, bởi đó là một khủng hoảng gần như định kỳ luôn kèm theo các thời kỳ sa sút trong đời sống tinh thần của một dân tộc (ở Pháp đấy là thế hệ sau năm 1870).
Banès nói: “Tôi khoan khoái buông mình vào một nỗi u sầu cằn cỗi. Coi khinh tất cả, ham muốn tất cả. Cơn chán ngán toàn thể, kiểu mặc xác hết thảy, là hành động cuối cùng của chúng tôi. Tôi mệt mỏi, mệt mỏi chẳng còn muốn nỗ lực nào hết. Ôi, ai có thể làm cho tôi có được ham muốn đây!”.
Và nữa: “Tôi cảm thấy mình vô dụng, chẳng còn có chút động lực nào hết. Tôi sợ ngày mai; tôi sẽ có cách gì làm cho nó sống động lên được không? Tất cả năng lượng của tôi tiêu tan hết như chỉ còn ba giọt xăng trên lòng bàn tay”.
Như vậy là căn bệnh nhân cách và ý chí ấy, người ta đã gặp nó không phải chỉ ở đây, và ai cũng từng biết đến nó vào một lúc nào đó. Ở đây nó có kèm theo những hoàn cảnh địa phương khiến nó càng thêm nặng, chủ yếu là các nhược điểm của một hệ thống giáo dục bị áp đặt sai, nhưng về cơ bản đây cũng đúng là căn bệnh những người Pháp trẻ tuổi từng gặp sau năm 1870 và chính Banès đã miêu tả rất giỏi.
Chỉ ra căn bệnh, đồng thời ông cũng chỉ rõ phương thuốc: chống lại tình trạng mất gốc, ông dùng phương thuốc có thể gọi là cắm rễ, cắm rễ vào nền đất đã sinh ra ta và nòi giống khắc sâu dấu ấn lên ta. Hãy nghe vị thầy thuốc chữa trị tâm hồn Phương Tây, người thầy của năng lượng Pháp ấy:
“Cây người chỉ mọc khoẻ và cho hoa kết quả tốt khi nó ở trong những điều kiện đã hình thành và nuôi dưỡng nòi giống của nó qua nhiều thế kỷ...
“Mỗi một hành vi của chúng ta phủ nhận đất đai và các bậc tiền bối của chúng ta nhấn chìm chúng ta vào một cuộc nói dối làm cằn cỗi chúng ta đi...
“Hãy chấp nhận các điều kiện của chúng ta, đấy là cái xương sống. Khi có được cái đó rồi, chúng ta có thể sáng tạo cuộc sống của chúng ta... Đi ra khỏi mảnh đất của cha ông chúng ta không phải là những người mất gốc. Dẫu ta có đi đến đâu và lao mình vào những môi trường hung dữ nhất, chúng ta vẫn sẽ được hưởng những điều học được từ trong huyết quản của cha ông ngay từ khi chúng ta còn chưa sinh ra đời và trong khi các vị vẫn nhìn về chúng ta...”.
Chấp nhận những điều kiện của mình, đấy chính là phương thuốc chữa căn bệnh của chúng ta. Phương thuốc ấy tốt nhất, công hiệu nhất; chúng tôi đã từng thử nghiệm, nhờ nó chúng tôi đã tìm lại được sự bình tâm và sự cân bằng trong đầu óc.
Anh có thấy không: ở đời, quan trọng nhất là biết quyết định. Và bởi vì chúng ta không thể là gì khác với chính mình, vậy thì hãy mạnh mẽ quyết định là chính mình. Là người nước Nam, chúng ta đã được sinh ra là người nước Nam, chúng ta tất phải sống và... chết là người nước Nam. Đừng mơ tưởng thành ai khác; đừng tìm cách tự phủ nhận chính mình. Được sinh ra từ phù sa của châu thổ Bắc Kỳ, chúng ta phải biết yêu mến mảnh đất này đã sinh ra ta và các bậc tổ tiên đã phú cho ta linh hồn của chúng ta.
Vậy nên hãy chấp nhận các điều kiện của mình, như Banès đã khuyên; đấy là chọn lựa khôn ngoan nhất. Và khi chúng ta đã quyết định rõ ràng như vậy, chúng ta có thể “sáng tạo cuộc sống của chúng ta”, nghĩa là, trong hoàn cảnh nhất định, hiện đại hoá nó lên để thích ứng với những điều kiện của xã hội hiện nay. Công cuộc hiện đại hoá ấy chỉ có thể thực hiện trong điều kiện đó hay với cái giá đó.
Nhưng để được là chính mình, thì phải biết tự nhận ra được mình. Nền giáo dục, như chúng ta đang có đây, có giúp chúng ta nhận ra được mình, hay ngược lại, chỉ khiến chúng ta thêm xa rời đất nước và nòi giống mình? Đấy là một vấn đề nghiêm trọng mà những người lãnh đạo chúng ta phải giải quyết. Không phải không từng có những khuyến cáo. Và những lời tâm sự cảm động của anh, bạn thân mến, sẽ mang đến cho họ một bằng chứng mới về tầm nghiêm trọng đặc biệt của vấn đề này.
Còn về sự phán xét của anh đối với lớp đàn anh, có thể là hơi quá nghiêm khắc. Nhưng tôi không tìm cách bàn cãi. Tuy nhiên tôi nghĩ là chúng tôi đã cố gắng hết sức mình.
Nếu quả thật chúng tôi đã thất bại trong nhiệm vụ của chúng tôi xin hãy khoan dung với chúng tôi, bởi chính chúng tôi, chúng tôi cũng từng trải qua cuộc khủng hoảng như các anh, và chúng tôi vượt qua được chúng cũng mới chẳng bao lâu. Hãy khoan dung, và cố gắng làm tốt nhất, nếu anh có thể. Nhưng cần nhớ rằng tất cả những gì anh làm mà đi đến kết quả phủ nhận mảnh đất này sẽ là một sự xảo quyệt và lừa lọc, nó sẽ “nhấn chìm anh vào một vụ nói dối sẽ làm anh khô cằn đi”... Nguồn:
Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932 - Nhà xuất bản Tri thức Số lượt đọc:
1758
-
Cập nhật lần cuối:
15/07/2009 02:07:21 PM
Trao đổi/Nhận xét | Tổng số:
2 |
Kính phục Phạm Quỳnh Tôi xin cúi đầu bái phục nhà trí thức Phạm Quỳnh với tầm mắt xuyên thế kỷ đã nói lên vấn đề của không ít người đương thời hôm nay. Một số bạn của tôi học tập, làm việc tại các nước tiên tiến phương Tây, trở về nước đã tâm sự với tôi về sự lạc lõng của họ trên quê nhà. Bản thân tôi tuy sống trên đất nước mình nhưng cũng bị bao vây bởi lối sống, văn hóa, giá trị của phương Tây, tự cảm thấy mình không có cơ hội tiếp thu được nền văn hóa của dân tộc mình để lại.
Mất bản sắc văn hóa, tôi thấy mình thật kém cỏi với các bậc tiền nhân. Nếu như điều này xảy ra với số đông, phải chăng là dấu hiệu suy thoái của dân tộc? Những lời tâm sự Thật cảm động khi đọc những dòng tâm sự này. Tôi rất kính phục các ngài, những người dám nói nên sự thật. Một sự thật phũ phàng của xã hội chúng ta. Phải chăng nền giáo dục của chúng ta yếu kém. ....
Chúng ta du học để phục vụ mục đích gì. Không phải là tìm hiểu những gì mà chúng ta không có sao, không phải là đi ăn cắp công nghệ hay sao. Những việc đó chỉ có thể đặt lên vai những người yêu nước thực sự. Chúng ta cần phải có những người như các ngài để làm mẫu mà phân tích, tìm hiểu nền văn hoá khác chứ...
Ý kiến của bạn về bài viết: |  |
Thông tin liên quan: Vì sao Phạm Quỳnh đặt tên báo là Nam Phong và thường dùng bút hiệu Thượng Chi?20/01/2010 03:12' PM Ngay trong số 1 ra tháng 7 năm 1917 của Nam Phong Văn học-Khoa học tạp chí, Phạm Quỳnh đã viết Mấy nhời nói đầu giới thiệu nội dung tạp chí mới xuất bản. Cuối phần I, ông cảm xúc thốt lên lời cảm thán: “Ôi! trong sách có câu: Gió phương nam ấm áp, khá lấy giải được cái lòng hờn giận của dân ta! (Chúng tôi nhấn mạnh – PT) Ước gì bản báo cũng khiến được các bạn đọc báo có cái cảm giác như cái cảm giác gió Nam Phong! Bởi thế, đặt tên báo.” Muốn sống...15/12/2009 04:07' PM Tên đại bợm giết người lấy của, chĩa súng sáu vào người ta, nói: “Muốn sống thì đưa tiền đây!”; một trăm người đến chín-mươi-chín-người đành mất tiền cho khỏi chết. “Sinh-mệnh” với “hà-bao”, dầu người ta không ai là không thiết tha cái hà-bao đựng tiền, nhưng ai ai cũng còn trọng cái sinh-mệnh ở đời hơn Chuyện một đêm một ngày15/12/2009 03:00' PM Bấy giờ vào khoảng 9 giờ tối. Dùng cơm tối xong, tôi đương ngồi trong tư thất Bộ Lại, nói chuyện với con trai thứ tôi là Phạm Bích. Bấy giờ nghe tiếng súng nổ lung tung. Ra sân thì trông thấy đèn chiếu lấp loáng ở bên kia sông, và tiếng nổ là tiếng súng liên thanh như tiếng pháo, khi ở phía trên khi ở phía dưới. Chỉ buộc chân voi29/10/2009 02:47' PM Quần chúng phải buộc bằng những sợi chỉ vô hình của đạo đức, luân lý, phong tục, tập quán, sợi chỉ mong manh nhưng cũng là sợi chỉ thiêng liêng, nhờ đó mà loài người mới thành xã hội có kỷ cương, nếu không thời chỉ là những đám đông ô hợp, hỗn hào, loạn tạp. Cụ Quỳnh khóc cụ Vĩnh06/10/2009 03:34' PM Nguyễn Văn Vĩnh chủ bút Đông Dương tạp chí – Phạm Quỳnh chủ bút Nam Phong tạp chí. Cuộc đời hai Cụ mỗi người một vẻ, nhưng số phận lại có chỗ na ná nhau, với người đời, kẻ đặt lên cao, người hạ xuống thấp. Có điều là thời gian xem ra đang ủng hộ hai Cụ. Chẳng biết, sinh thời, hai cụ gắn bó với nhau tới đâu, nhưng cứ vào bài thơ Cụ Quỳnh khóc Cụ Vĩnh năm 1936 thì tình bạn của hai cụ chắc là thắm thiết lắm. Phạm Quỳnh - Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-193208/08/2009 06:52' AM Cái văn bản Phạm Quỳnh mấy chục năm qua đã thoát hình hài trần thế để được thoả sức yêu cái đẹp thiên giới, nơi đó không còn triết học và thực dụng, không còn lo âu và toan tính, không còn ảo tượng và vỡ mộng. Văn bản đó sẽ để lại trong lòng người những tác phẩm như thế nào đây? Điều đó hoàn toàn là của riêng bạn đọc. Mấy lời giới thiệu phiến diện này cũng chỉ là một trong vô vàn tác phẩm mà thôi. Phạm Quỳnh: Ngọn gió Nam15/07/2009 02:09' PM Nam Phong (1917-1934) là một trong những tạp chí có công rất lớn trong việc cổ động cho văn học quốc ngữ, cho nền quốc học Việt Nam. Đặc biệt cho việc xây dựng một nền văn hóa Việt Nam trên cơ sở kết hợp, dung hòa hai nền văn chương, học thuật, tư tưởng Đông – Tây. Các biên tập viên giữ các chuyên mục của tạp chí đều là những cây bút vững vàng, sắc sảo, nhạy bén với những vấn đề văn hóa, trong đó phải kể đến ông chủ bút là Phạm Quỳnh. Thơ ta thơ tây03/07/2009 01:33' PM Như muốn vẽ bức tranh thì con mắt phải nhìn trong cảnh vật mà thu lấy cái hình ảnh, rồi mới tìm cách truyền thần ra giấy ra lụa. Muốn làm bài thơ cũng vậy, trong trí phải tưởng tượng ra một cái cảnh, hoặc là cảnh thiên nhiên, hoặc là cảnh trong tâm giới, rồi dùng những âm hưởng thích đáng mà gọi, mà kêu nó lên, khiến cho người nghe cũng phảng phất tưởng tượng như thế. Hai đàng cùng là vẽ cả, một đàng là vẽ cách trực tiếp, một đàng là vẽ cách gián tiếp, nhưng đều muốn khêu gợi ra mối tư tưởng cảm tình trong tâm trí người ta vậy. Ngôn ngữ mới của nước Nam03/07/2009 10:46' AM Không thể chối cãi là hiện giờ đang có một ngôn ngữ mới của nước Nam đa dạng hơn, uyển chuyển hơn, đủ khả năng hơn cho sự diễn tả các tư tưởng mới và các quan niệm trừu tượng so với ngôn ngữ đó cách đây mười lăm, hai mươi năm. Tự ngôn03/07/2009 10:37' AM Báo Nam Phong cũng là tiêu biểu cho một thời kì trong công cuộc cải tạo quốc văn, đề xướng quốc học. Quốc văn sau này còn tấn tới nhiều, quốc học sau này còn mở mang rộng. Nhưng cái bước đầu khó khăn cũng nên ghi nhớ lấy, để có thể so sánh trước sau hơn trước thế nào. Sau hơn trước là lẽ cố nhiên, nhưng có trước thì mới có sau thời trước đối với sau cũng không phải là tuyệt vô quan hệ. In lại Nhật ký đi Pháp của Phạm Quỳnh02/07/2009 10:27' AM Pháp du hành trình nhật ký (Nhật ký đi Pháp) của Phạm Quỳnh vừa được in lại sau mấy chục năm ngủ yên trong tạp chí Nam Phong suốt từ 1922 tới nay. Nhân dịp này, nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn- người thực hiện việc biên soạn và chú giải – có dịp trao đổi với TT&VH về giá trị của tập sách cũng như về việc khai thác bộ phận văn học viết bằng quốc ngữ đầu thế kỷ 20. Phạm Quỳnh và quá trình tiếp nhận văn hóa phương Tây ở Việt Nam đầu thế kỷ XX29/06/2009 09:34' PM Khi một người có hoạt động thực sự trên lĩnh vực văn hoá, trở thành có đóng góp về văn hoá, người đó nhất thiết phải có tình cảm tốt đẹp và sâu sắc với dân tộc, với đất nước. Ấy là niềm tin đến với chúng tôi khi lần giở lại Nam Phong. Nó cũng là nhân tố giúp chúng tôi yên tâm khi tìm hiểu những đóng góp của Phạm Quỳnh trong sự tiếp nhận văn hoá phương Tây và góp phần hình thành nền văn hoá mới của dân tộc trong thời hiện đại. Dũng khí công dân08/06/2009 03:31' PM Nguyễn An Ninh, nhà yêu nước vĩ đại, đồng thời là một cây bút chính luận lớn. Với một bút pháp độc đáo trầm thống, sâu sắc, châm biếm, Nguyễn An Ninh đã viết nên những kiệt tác nhỏ bằng tiếng Pháp. Dưới đây, chúng tôi xin giới thiệu một vài bài trong Nguyễn An Ninh - Tác phẩm sắp xuất bản. Nghĩa vụ là gì?02/06/2009 03:03' PM Tiên nho có câu: “Muốn nhập môn đạo Khổng Mạnh, trước hết phải biết cách phân biệt điều nghĩa điều lợi.” Tiên nho gọi điều nghĩa, tức ta gọi là nghĩa vụ; tiên nho gọi điều lợi tức là quyền lợi. Hai cái quan niệm về nghĩa vụ quyền lợi thực là cái chốt của luân lý vậy. Nghĩa với lợi quan hệ thế nào, đó là một vấn đề rất trọng, người ta dù ở đời nào nước nào, cũng phải xét đến. Vì giải vấn đề ấy, tức là giải nghĩa đời người vậy. Sự giáo dục đàn bà con gái30/05/2009 09:36' AM Từ xưa thế giới là của riêng của đàn ông, từ nay thế giới là của chung cả đàn bà. Đàn bà tuy không làm những sự nghiệp lớn lao, biến cải mặt địa cầu, nhưng ảnh hưởng trong gia đình, trong xã hội, đằm thắm mà sâu xa biết dường nào! Bài học của tổ tiên28/05/2009 11:23' AM Có những kẻ sẽ nói với các con rằng đó là những khái niệm lỗi thời, những quan niệm của một thời đã qua, rằng con người hiện đại cần phải là một con người cá nhân chủ nghĩa toàn vẹn, hay một người xã hội chủ nghĩa hoàn chỉnh nghĩa là hắn ta chỉ phải chăm lo cho hạnh phúc cá nhân và riêng rẽ hay, ngược lại phải làm việc vì hạnh phúc của toàn nhân loại, và gia đình với tổ quốc, đấy là những điều nhảm nhí cũ kỹ chỉ để thoả mãn những đầu óc câu nệ của đám tiểu tư sản ù lì trong những định kiến phản động của chúng. Những kẻ sẽ nói với các con như vậy, thì đấy là những người cuồng tưởng nguy hiểm hay những tên hề xấu xa. Chớ mà nghe theo họ... Cải cách trí tuệ và luân lý25/05/2009 03:39' PM Trong một bài viết trước tôi có ám chỉ đến sự cần thiết phải tiến hành một cuộc "cải cách trí tuệ và luân lý" ở xứ này, và tôi đã nói rằng cuộc cải cách đó chủ yếu phải là công việc của giới tinh hoa nước Nam, những người phải có ý thức về chính mình, về bổn phận và trách nhiệm của mình. Tục thờ cúng tổ tiên ở nước Nam15/05/2009 11:05' AM Nhân loại gồm nhiều người chết hơn là người sống, Auguste Comte đã nói ở đâu đó như thế. Ở nước Nam câu nói ấy của nhà triết học thực chứng Pháp càng đúng hơn ở bất cứ nơi nào khác. Quả vậy, việc thờ cúng tổ tiên có một vị trí quan trọng trong đời sống gia đình và xã hội của chúng ta. Nó đã trở thành một thứ giáo lý tôn giáo, và, theo một nghĩa nào đó, một tôn giáo quốc gia thực thụ. Cách đây một thế kỷ, những người khổng lồ12/05/2009 03:12' PM Quả thực, hồi đầu thế kỷ XX, chúng ta từng có được một thế hệ vàng. Quả thật đấy là thời kỳ của những người khổng lồ. Để có được ngày hôm nay của đất nước, không phải chỉ có cách mạng và chiến tranh. Hoặc nói cho đúng hơn, chính những con người như vậy, vào một thời điểm chuyển động quan trọng của lịch sử, đã góp phần không hề nhỏ chuẩn bị tinh thần, trí tuệ, cả chí khí nữa cho dân tộc để có được cách mạng thành công và chiến tranh giải phóng thắng lợi. Báo chí - nhà báo và sự hình thành tầng lớp trí thức hiện đại đầu thế kỷ XX09/05/2009 09:07' AM Khái niệm trí thức hiện đại ở đây được hiểu trong sự đối nghĩa với trí thức - kẻ sĩ (sẽ được giới thuyết cụ thể trong phần tiếp theo của bài viết) trong xã hội Việt Nam truyền thống. Sự hiện diện của tầng lớp trí thức hiện đại, trên thực tế, mới chỉ xuất hiện ở giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Bài viết này sẽ tập trung làm sáng tỏ vai trò của báo chí - một thiết chế văn hóa có nguồn gốc phương Tây - đã đóng vai trò như một dung môi, một tiền đề vật chất cho sự xuất hiện của tầng lớp trí thức hiện đại như thế nào. Lượm lặt Ý nghĩa trần ai17/03/2010 10:56' AM Đã có rất nhiều sách, những Ông Thày và muôn lời khuyên trong Đời. Tôi thường không so sánh và xem những thứ đó ở khía cạnh Đúng – Sai mà là khả năng áp dụng những gì, đặc biệt ngộ ra điều gì để Bản thân có được năng lực chuyển hóa Tinh thần hướng Thượng... Tâm sự tuổi già15/03/2010 09:17' AM Tháng ngày hối hả, đời người ngắn ngủi, thoáng chốc đã già. Chẳng dám nói hiểu hết mọi lẽ nhân sinh nhưng chi có hiểu đời mới sống thanh thản, sống thoải mái. Tiếng Hà Nội hay nên... hiếm12/03/2010 03:07' PM Có nhà văn nữ viết trong một truyện ngắn của mình thế này: "Người Hà Nội phát âm âm xát nhẹ như tiếng gió thổi qua chiếc lá mỏng tang". Tuy nhiên, dường như tiếng Hà Nội lịch lãm đang rơi vào quy luật muôn đời: Hay nên... hiếm. Biểu tượng thất truyền- Dan Brown tái xuất giang hồ12/03/2010 10:39' AM Hội Tam điểm là tổ chức bí ẩn nhất thế giới, cuốn theo quanh vô vàn ám tượng và truyền thuyết. Hình ảnh thì phô trương, nhưng hoạt động thì giấu kín. Hội viên có thể công khai nhưng cách thức kết nạp thì ém nhẹm. Sống nhàn thời kết nối12/03/2010 09:19' AM Thời xưa, các cụ phẩy tay áo bỏ chốn lao xao về sống ẩn chỉ cần cầm trong tay “một cuốc, một cần câu”. Ngày nay, chúng ta về sống ẩn thì nhớ cầm theo điện thoại di động và một cái laptop nối mạng. Thêm trong ba lô vài đĩa nhạc, vài cuốn sách hay thì càng tốt… Một nghìn bảy trăm cây số từ Hà Nội10/03/2010 09:58' AM Chiều xuân mưa bay Hà Nội, ông cũng mơ màng theo như bao người tha hương. Nhưng cơn mưa ấy là cơn mưa của một quá khứ, Hà Nội ngày ông trở về cũng là một Hà Nội khác xưa đến “một nghìn lần” như ông thừa nhận. Với tôi, ông là một người đã làm công việc của mình, đi qua cuộc đời bề bộn, với những toan tính sắp đặt để khẳng định chỗ đứng, có khi thành có khi bại. Một khi đã lên yên, chỉ có thể phóng đi, chấp nhận thị phi cùng những hậu quả không mong muốn. Cái sự bất chấp liều mạng của ông thời nào, nay có đầy ở những người Việt mới. Người Hà Nội trong... mắt ngoại kiều09/03/2010 09:37' AM Có một Hà Nội thanh lịch đáng yêu, nhưng cũng có một Hà Nội còn đôi điều chưa hài lòng. Đó là cảm nhận của những người nước ngoài đã từng đến hoặc đang sống ở Hà Nội. Cha và con gái06/03/2010 10:12' AM Con đã trở thành một người vợ, một bà mẹ trẻ, con có công việc ổn định nhưng vẫn làm cha ngạt thở trong vòng tay ôm rất chặt mỗi lần về nhà với cha mẹ. Cha thích được con cắt móng chân, móng tay. Quá đỗi dịu dàng. Thật là dễ chịu khi mình hài lòng và yên tâm tuyệt đối về người mà mình yêu thương, con ạ! Bài khác: Ba quy luật Trời - Đất - Người31/05/2009 03:52' PM Luật nhân quả: Sự phán xử là kết cục vận vào thân anh, cái cách mà anh đã cư xử... Bận và nhàn29/05/2009 03:27' PM Chúng ta cần phải phân biệt cho rõ ràng “nhàn” và “lười”. Lười là có việc mà không làm, nhàn là bớt ra thời gian, làm chậm chạp. Nhàn là phải bớt dành ra, hơn thế còn có thể bớt dành ra từ trong bận rộn. Chúng ta nói “dành sự nhàn trong sự bận” chính là do ý này. Kẻ sĩ xưa và nay22/05/2009 04:39' PM Quá trình phát triển của xã hội loài người là quá trình khẳng định sự “tách rời"” giữa lao động trí óc và lao động chân tay và cũng là quá trình phủ nhận điều đó. “Thống nhất” giữa lao động trí óc và lao động chân tay cũng là xu hướng tất yếu. Công nghệ thông tin trong thời đại ngày nay sẽ là đôi đũa thần đang biến cái tưởng chừng như khả năng xa vời đó trở thành hiện thực trước sự ngỡ ngàng của nàng “lọ lem” lịch sử về hình ảnh của cái gọi là “kẻ sĩ” một thời. Chủ nghĩa nhân văn Việt Nam - Hồ Chí Minh, một tầm nhìn triết học19/05/2009 09:11' AM Dân tộc Việt Nam ta trong quá trình đấu tranh và xây dựng đã hình thành nên chủ nghĩa nhân văn Việt Nam Và ngày nay đã phát triển lên đỉnh cao mới mà ở đó chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh đã kết tinh cả chủ nghĩa nhân văn Việt Nam, chủ nghĩa nhân văn Đông Tây và nhân lại xưa nay- có tác dụng định hướng lớn và phát huy cao độ nội lực trong phát triển, hiện đại hóa và hội nhập... Từ một bài thơ suy nghĩ về sự khác biệt và thống nhất15/05/2009 01:36' PM Từ bài thơ “Khúc ca Đông- Tây”của R.Kipling, tác giả trình bày suy nghĩ của mình về sự thống nhất và khác biệt giữa Đông và Tây, rộng ra là sự thống nhất trong đa dạng của văn hoá. Với giả thiết rằng sự khác biệt Đông- Tây nằm ẩn sâu trong truyền thống văn hoá, văn minh Đông - Tây, tác giả đi tìm nguyên nhân của sự khác biệt đó. Cuối cùng, tác giả khẳng định rằng, thống nhất trong đa dạng chính là nguyên tắc để đi đến một sự phát triển hoà bình, ổn định và bền vững cho nhân loại. Cách đây một thế kỷ, những người khổng lồ12/05/2009 03:12' PM Quả thực, hồi đầu thế kỷ XX, chúng ta từng có được một thế hệ vàng. Quả thật đấy là thời kỳ của những người khổng lồ. Để có được ngày hôm nay của đất nước, không phải chỉ có cách mạng và chiến tranh. Hoặc nói cho đúng hơn, chính những con người như vậy, vào một thời điểm chuyển động quan trọng của lịch sử, đã góp phần không hề nhỏ chuẩn bị tinh thần, trí tuệ, cả chí khí nữa cho dân tộc để có được cách mạng thành công và chiến tranh giải phóng thắng lợi. Trí thức nửa mùa11/05/2009 09:53' AM Ở nước Nga, trong thế kỷ XX đã hình thành một tầng lớp xã hội, được coi là trí thức, nhưng trên thực tế lại không phải là như thế. Chính các đại diện của tầng lớp này, chứ không phải giới trí thức, đã đóng vai trò chủ yếu trong những cuộc cải cách đầy tai họa hồi những năm 80 và những năm 90 của thế kỷ vừa qua. Đấy là tầng lớp trí thức nửa mùa. Khoa học, Lý trí và Nhân tình thế thái10/05/2009 04:45' PM Tự nhiên được chi phối bởi các qui luật phổ biến mà trí tuệ loài ngưới có thể lĩnh hội được. Niềm tin vào tính hợp lý của Thế giới, đã vượt cả ra ngoài lĩnh vực Vật lý và xâm nhập vào mọi địa hạt hoạt động của con người trong suốt nhiều Thế kỷ, bởi tin rằng, đó chính là hiện thực, là vĩnh cửu... |