Khi đưa ra và luận giải một số quan niệm đang nhận được những ý kiến đánh giá, bình phẩm khác nhau về vị trí và vai trò của triết học trong kỷ nguyên toàn cầu của một số nhà triết học có tên tuổi trên diễn đàn triết học quốc tế, như J.Habermas, S.P.Huntington, W.L.Mcbride, T.Friedman, E.Le Boucher... trong bài viết này, tác giả đã đưa ra những suy tư của mình về diện mạo của triết học trong kỷ nguyên toàn cầu này. Đó là: Tại sao triết học, trong khi vẫn có đầy đủ uy tín của mình trên diễn đàn quốc tế, lại kém đi vào cuộc sống đến thế. Một khi các nhà triết học không biết cách ngăn chặn cái ác, cái xấu thì khi đó, tiếng nói nhân đạo, những định hướng giá trị sáng suốt sẽ ra sao. Liệu triết học trong kỷ nguyên toàn cầu có đủ khôn khéo để nhắc nhở loài người tôn trọng những giá trị quý báu của những bài học đã từng phải trả giá cho quá khứ. Trong một “thế giới phẳng" (thuật ngữ do T.Friedman đưa ra), triết học sẽ mang diện mạo nào…?
Tháng 8/2003, tại diễn đàn danh tiếng nhất của triết học nhân loại - Đại hội triết học thế giới lần thứ XXI, Jurgen Habermas - nhà triết học cũng danh tiếng đến mức gần như bất cứ ai hiện đang làm triết học trên thế giới đều biết tên tuổi, đã trình bày tham luận về những vấn đề nóng bỏng của luật pháp quốc tế. Không hề né tránh những gai góc chính trị, J.Habermas đã bàn đến những bài học đắt giá của quá khứ và khả năng định hướng của triết học đối với tương lai của luật pháp quốc tế. Viện dẫn I.Cantơ để thẳng thắn chỉ trích các thế lực coi thường luật pháp quốc tế, ông nói: "Luật pháp quốc tế còn có ý nghĩa gì nữa khi mà một siêu cường tự do và gây chiến khắp toàn cầu đem những luận điệu có tính chất đạo đúc của nó thay thế cho các tiến trình của luật pháp quốc tế”.
Nơi Habermas lên tiếng là Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ, sát nách Iraq, địa danh có thể gọi là nhức nhối của thế giới đầu thế kỷ XXI. Những luận điệu có tính chất đạo đức mà Habermas nói đến là những thứ biện hộ cho các chuẩn mực đạo đức độc đoán và vụ lợi. Những tưởng tiếng nói của Habermas sẽ làm cho nhân loại, mà trước hết là các chính khách có vai trò dẫn dắt bàn cờ chính trị thế giới phải lên tiếng hoặc có phản ứng. Nhưng không, sự phản tư triết học được coi là sâu sắc ấy cũng chỉ để bản thân giới triết học tự chiêm nghiệm với nhau. Tiếng vang của những mệnh đề triết học đã Habermas đưa ra, trên thực tế không làm rung động thế giới hơn những tiếng nói khác. Triết học, trong trường hợp này, không thể nói là không đủ uy tín, thế nhưng câu hỏi đặt ra vẫn là, tại sao nó lại kém đi vào cuộc sống đến thế.
Một trường hợp khác, có thể coi là trái ngược về mức độ ảnh hưởng tới dư luận xã hội so với trường hợp Habermas vừa nêu - lý thuyết về sự đụng độ của các nền văn minh của Samuel P.Huntington. Đây là một mô hình lý thuyết đầy tham vọng lý giải và dự báo sự biến động chính trị - xã hội của thế giới từ sau khi chiến tranh lạnh kết thúc. Mô hình này, như một số nhà lý luận đánh giá, có nhiều điểm không đáng phải bàn luận về phương diện triết học: không ít nhà triết học Nga, Trung Quốc, Đài Loan, Châu Âu và các nước phương Tây khác đã chỉ ra những lập luận khiên cưỡng và tâm lý tiêu cực trong cách hiểu của Huntington về văn hóa và trật tự thế giới sau chiến tranh lạnh. Nhưng điều trớ trêu là, đông đảo dân chúng Mỹ và cả ở những nước khác chẳng những không tính đến lời phê phán về sự bất hợp lý của quan niệm về sự đụng độ của các nền văn minh, mà ngược lại, còn tỏ ra ngưỡng mộ Huntington một cách thời thượng và tin rằng, sự kiện 11/9/2001 là một xác nhận cho dự báo chủ quan của Huntington. Với trường hợp này, vai trò của lý luận triết học trong kỷ nguyên toàn cầu có nhiều điểm đáng phải bàn luận.
Chúng ta đều biết, sự đụng độ của các nền văn minh và việc thiết lập trật tự thế giới là cuốn sách được xuất bản lần đầu vào năm 1996, nhưng quan điểm cốt lõi của nó thì đã được công bố trước đó ba năm, trên tờ Tạp chí Foreing Affairs, số 3 năm 1993 dưới tiêu đề Sự đụng độ của các nền văn minh: thông qua những kỳ thị tâm lý cộng đồng phức tạp, Huntington cố chứng minh rằng, ngày nay, kể từ sau chiến tranh lạnh, nguồn gốc cơ bản của các xung đột trên thế giới sẽ không còn là hệ tư tưởng hay kinh tế nữa. Ranh giới quan trọng nhất chia rẽ loài người và là nguồn gốc của các xung đột sẽ là văn hoá. "Sự đụng độ giữa các nền văn minh sẽ trở thành nhân tố chi phối chính trị thế giới. Ranh giới giữa các nền văn minh sẽ là chiến tuyến tương lai". Theo Huntington, hiện nhân loại có khoảng bảy hoặc tám nền văn minh lớn: phương Tây, Không giáo, Nhật Bản, Hồi giáo, Ấn Độ giáo, Slave Đông chính giáo, Mỹ latinh và có thể cả châu Phi nữa. "Những xung đột quan trọng nhất trong tương lai sẽ nổ ra dọc theo các đường ranh giới phân cách các nền văn minh này".
Trong số những đánh giá về Huntington, chúng tôi muốn dẫn ra một ý kiến mà theo chúng tôi, là điển hình cho cách nhìn tỉnh táo trước quan niệm về sự đụng độ của các nền văn minh - đánh giá của William L.Mcbride, Giáo sư Đại học Perdu, Mỹ, Tổng thư ký Liên đoàn quốc tế các hội triết học (FISP). Tại Hội thảo Toàn cầu hóa và sự đối thoại giữa các nền văn hóa ở Mátxcơva, tổ chức vào tháng 6/2002, William L.Mcbride đã trực diện phê phán cách cảm thụ thế giới của Huntington là "dung tục và kém tinh tế”. Ông nhận xét: "Rất tiếc là Huntington, một nhà tư tưởng theo nghĩa xấu của từ này, như người ta đã nói, lại có ảnh hưởng lớn như thế đến lối suy nghĩ của các nhà ngoại giao và những người tham gia vào tương tác toàn cầu. Tác phẩm của ông ta là thí dụ điển hình cho sự thu hút của lối suy nghĩ tầm thường, nhưng bề ngoài có vẻ như sáng sủa".
Công bằng mà nói, Iý thuyết về sự đụng độ của các nền văn minh có một số phân tích sắc sảo và xét trên câu chữ trong tác phẩm thì Huntington không chủ tâm kích động các nền văn hoá hay văn minh xung đột với nhau. Nhưng điều đáng ngại ở Hunlington chính là quan điểm triết học của ông. Trong cuốn sách viết năm 1996, Huntington đã vô tình để lộ ra giá trị định hướng đối với toàn bộ suy nghĩ của mình mà ông thích gọi bằng một thuật ngữ tiếng Đức là Weltanschauung, nghĩa là thế giới quan về văn minh, vũ trụ và các mối quan hệ cua con người. Khi nói về chủ đề cuốn sách đó là văn hóa, bản sắc văn hóa mà ở mức độ rộng nhất là bản sắc văn minh", Huntington viết: "Một Weltanschauung ảm đạm cho kỷ nguyên hiện đại này được thể hiện sinh động bằng triết lý của nhân vật theo chủ nghĩa dân tộc người Venesie trong tiểu thuyết Vũng biển chết của Michael Dibdin: Người ta chẳng bao giờ có bạn mà lại không có kẻ thù, người ta ghét cái không giống mình, nghĩa là người ta yêu cái giống mình. Đây chỉ là những chân lý cũ mà chúng ta đang cố gắng khám phá lại sau một thế kỷ loanh quanh lảng tránh".
Huntington không ngớt lời ca ngợi quan điểm này và rất vô tư khi coi đó là thế giới quan chủ đạo cho tư tưởng của mình. Có cảm giác giật mình khi đông đảo người đọc mê cái triết lý đầy cực đoan này. “Người ta ghét cái không giống mình, nghĩa là người ta yêu cái giống mình". Có đúng là nhân loại vẫn thường cư xử với nhau như vậy hay không? Thật khó tin. Lập luận của Huntington đã chọc vào tâm lý đố kỵ của con người như những lời xúc xiểm. Dĩ nhiên, một vài cá nhân cụ thể thì có thể cư xử với nhau như vậy. Thậm chí, có thể có những chính khách nào đó vì đầu óc cuồng tín hay không bình thường mà cũng cư xử như vậy. Nhưng chẳng lẽ các dân tộc và toàn nhân loại lại cũng thiếu sáng suốt như thế. Thật điên rồ nếu sự đụng độ thực tế của các nền văn minh lại bắt đầu từ đây (Ai dám chắc rằng những kẻ cướp máy bay trên bầu trời nước Mỹ ngày 11/9/2001 lại chưa đọc sách của Huntington?).
Vấn đề đặt ra đối với vai trò của triết học trong kỷ nguyên toàn cầu là ở chỗ, ngày nay, có thể có những thứ lý luận dung tục, sai lạc, tầm thường lại chiếm được vũ đài thông tin và định hướng dư luận theo những giá trị kém cỏi. Trong khi đó, có những tư tưởng sáng suốt, những triết lý lành mạnh, những giá trị cao đẹp lại không tìm được chỗ đứng trong đời sống tinh thần nhân loại. Trước đây, khi Internet chưa phổ biến, những lý luận tầm thường, những giá trị lệch lạc của tâm lý con người khó tìm được đồng minh và do vậy, chỉ có ảnh hưởng một cách cục bộ trong một số cá nhân hoặc trong một vài cộng đồng đơn lẻ nào đó. Ngày nay, các phương tiện thông tin đại chúng đã đủ khả năng lôi kéo toàn bộ những thứ không bình thường của cư dân trên trái đất vào một "góc tối chung" của toàn nhân loại. Điều kiện đó là mảnh đất màu mỡ cho những lý thuyết dị dạng xuất hiện và được phổ biến rộng rãi, nhanh chóng. Không loại trừ khả năng là, tới đây, sẽ có những lý thuyết quái thai xuất hiện.
Nêu lúc đó các nhà triết học và những đầu óc lành mạnh khác không biết cách ngăn chặn cái ác, cái xấu thì tiếng nói nhân đạo, những định hướng giá trị sáng suốt rất có thể sẽ rơi vào thiểu số và trở thành trò cười trước đám đông dung tục và thô lỗ. Mà thời nào cũng vậy, cái xấu, cái ác đường như bao giờ cũng tinh vi, thủ đoạn hơn còn cái đẹp, cái thiện thì lại thường ngờ nghệch, cả tin hơn.
Dĩ nhiên, trong lịch sử văn minh nhân loại cũng đã từng xuất hiện những tư tưởng không bình thường, thậm chí những lý luận sa đọa, tư tưởng Quốc xã Đức hồi đầu thế kỷ XX là một thí dụ. Nhưng ngày đó chưa có Internet và Multimedia, chưa có blog-online và nhạc hip-hop, chưa có HIV/AIDS và virus H5N5, chưa có chủ nghĩa khủng bố và sự tàn bạo kiểu Al Queda... nghĩa là chưa có sự hỗn loạn kiểu toàn cầu hóa - sự xáo trộn giá trị toàn cầu khi thế giới chỉ còn là một cái làng bé nhỏ (trong đó, theo hình dung của Thomas Friedman, Tây âu chỉ là một trại dưỡng lão, Mỹ Latinh là một khu phố vui nhộn, nơi ngày làm việc mãi 10 giờ tối mới bắt đầu, Ả Rập là con hẻm tối tăm ít người dám dấn thân vào, còn châu Phi là con phố bị phong toả, nơi tuổi thọ giảm sút, những toà nhà mới đều là những phòng khám bệnh. Trong một không gian chật chội và bức bối như thế, ngày nay, hàng triệu người hàng ngày muốn giãi bày mọi đầu trên blog-online, từ triết lý nghiêm túc đến những tâm tư bệnh hoạn - Jim Chisholm, cố vấn của Hiệp hội báo chí thế giới (WAN) đã than phiền như vậy tại Hội thảo cấp cao của giới báo chí gồm hơn 60 quốc gia, tổ chức tại Athen, Hy Lạp hồi tháng 11/2005. Cũng tại đây, Eric Le Boueher, Tổng biên tập tờ Le Monde còn nhận xét rằng, thanh niên bây giờ đọc sách báo không giống như bố mẹ chúng, nghĩa là rất có thể cách tiếp thu các giá trị triết học cũng đã khác trước, dù chỉ mới cách nhau có một thế hệ. Nếu bầu không khí tinh thần của thế kỷ XXI đúng là như thế thì vai trò của triết học đang đứng trước một thách thức lớn. Dự báo của Lucien Seve về một ngày mà triết học trở thành thổ ngữ của một nhóm thổ dân sống trong một vùng ngoại vi hẻo lánh của xã hội phải chăng đã đến rồi?
Chưa bao giờ như lúc này, tiếng nói triết học có trọng trách rất lớn nhưng lại thật khó tìm được vị trí đáng phải có của nó trong việc dẫn dắt dư luận xã hội. Những kinh nghiệm đắt giá của quá khứ dường như chưa được con người thực sự chú ý. Bài học về sự cuồng tín, cực đoan của tư tưởng Holocaust trong Chiến tranh thế giới lần thứ II, bài học về sự không đánh giá đúng vai trò của ý thức dân tộc trong chiến tranh Việt Nam 1954 - 1975, bài học được Hội nghị thượng đỉnh trái đất Reo - 91 cảnh báo về sự lãng quên vai trò của tự nhiên trong các tham vọng phát triển kinh tế, bài học được UNESCO nhắc nhở về tinh thần duy khoa học (seientism) thái quá đến mức lãng quên vai trò của văn hóa và con người trong các thập kỷ 70 - 80 của thế kỷ trước… - đáng ra phải là "sự trừng phạt thấm đòn" để con người học được từ đó nhiều hơn. Rất tiếc, triết học trong kỷ nguyên toàn cầu, hoá ra, vẫn không đủ khôn khéo để nhắc nhở loài người tôn trọng giá trị quý báu của những bài học đã từng phải trả giá trong quá khứ và tỉnh táo với những tham vọng của mình. Nói như Habermas, triết học đã không đủ làm cho "các tiến trình của luật pháp quốc tế có hiệu lục và điều đó khiến cho "những luận điệu có tính chất đạo đức" vẫn có ảnh hưởng quá lớn so với vai trò thực của nó trong thế kỷ XXI. Nên chú ý rằng, những tín điều đạo đức mà Habermas nói tới là những tín điều đạo đức của "một siêu cường gây chiến khắp toàn cầu”, nghĩa là thứ đạo đức được quan niệm, sử dụng và định hướng hành vi theo những cách hoàn toàn chủ quan. Thật đáng suy nghĩ khi Mahathir Mohamad, nguyên Thủ tướng Malaysia, tại Hội nghị Châu Á - Thái Bình Dương, Kham Lumpur, ngày 13/01/2003, đã không ngần ngại phê phán cách mà nhân loại đang hành xử với chủ nghĩa khủng bố. ông nói: "Động cơ của chủ nghĩa khủng bố chắc chắn không phải là tôn giáo, mà rất có thể là lãnh thổ. Tình hình thế giới hiện không quá xấu, nhưng thế giới đã xử lý sai tình hình".
"Động cơ của chủ nghĩa khủng bố là lãnh thổ điều này thì còn phải bàn. Song, "tình hình thế giới không đến nỗi quá xấu, nhưng thế giới đã xử lý sai về nó" thì hẳn là một ý tưởng không tồi. Triết học ngày nay có vai trò gì và nhà triết học đã trốn đi đâu nếu Mahathir Mohamad nói đúng?
Quả thực, W. Mcbride đã không quá khi cho rằng, trong thời đại toàn cầu hóa, các nhà tư tưởng sáng suất và vị tha có lẽ vì quá khiêm tốn nên đã không lên tiếng. Người có tiếng nói khả dĩ làm thay đổi được thế giới như Habermas thì lại "duy tâm thái quá đến mức đề ra một thứ đạo đức vừa không thể có được, lại vừa đi quá xa khỏi thế giới hiện thực sang thế giới trừu tượng”. Những lý thuyết "dung tục", những quyết sách vĩ mô vụ lợi trắng trợn, những cách hành xử thiếu tư duy triết học sáng suốt... vì thế có cơ hội để nảy nở.
Vậy, trong kỷ nguyên toàn cầu, triết học sẽ có bộ mặt như thế nào? Theo quan sát của chúng tôi, bức tranh triết học những năm tới đây phải chăng sẽ tiếp tục định hình theo cách nó đã thể hiện hơn một thập niên qua: trong khi tiếng nói của các nhà triết học có danh tiếng và thường được đánh giá cao trên các Tạp chí triết học hay tại các hội nghị, hội thảo quốc tế (chẳng hạn, Jurgen Habermas, Peter Kemp, Tomonobu Imamichi, Edgar Mong, Michei Vadee, Jacques Derrida...) không ảnh hưởng nhiều đến công chúng ngoài giới triết học, thì tiếng nói của các nhà lý luận kiểu như Samuel Huntington, Franeis Fukuyama, Alvin Tofler… lại có ảnh hưởng mạnh hơn đáng kể trong nhiều tầng lớp xã hội, từ các chính khách có trọng trách lớn đến sinh viên tại các Trường Đại học?
Có thể Samuel Huntington, Francis Fukuyama, Alvin Tofler... là những nhà lý luận tài ba. Song, dẫu vậy cũng vẫn cần phải xem xét nghiêm túc vai trò của dòng các sản phẩm lý luận có chất triết học nhưng lại không trình bày tư tưởng theo kiểu hàn lâm. Với các tác phẩm của S Huntington, F.Fukuyama, A.Tofler (chẳng hạn, Sự đụng độ của các nền văn minh và việc thiết lập trật tự thế giới, Sự cáo chung của lịch sử và con người cuối cùng, Làn sóng thứ ba, Cú sóc tương lai..., rõ ràng, sẽ là thiếu hụt và hẹp hòi nếu loại bỏ chúng ra khỏi phạm vi những tác phẩm triết học. Gọi đó là triết học, không có gì sai. Nhưng nếu gọi lối tiếp cận của các tác phẩm đó không phải là tiếp cận triết học, mà là tiếp cận liên ngành hay tiếp cận đa ngành thì cũng vẫn đúng. Vấn đề là ở chỗ, những tác phẩm đó được đông đảo người đọc đón nhận.
Ngày nay, những suy tư triết học của những người không làm triết học, kiểu như Thomas Friedman (nhà báo, người đã đoạt giải Pulitzer, nổi tiếng với các tác phẩm về toàn cầu hóa như Chiếc xe Lexus và cây Ôliu, Thế giới phẳng) đôi khi lại gợi mở ra những vấn đề đích thực triết học. "Thế giới phẳng” là thuật ngữ do Friedman sáng tạo ra với hàm ý là, ngày nay, toàn cầu hoá đã làm cho đời sống nhân loại không còn "lập thể" hay "stereo" như trước kia nữa. Tuy bị chê là hàm hồ, song thuật ngữ này lại khá đắt để chỉ thế giới toàn cầu hóa. Trong thế giới này, giảng đường của các Trường Đại học sẽ là mảnh đất sống còn của những dòng triết học hàn lâm - những tư tưởng kinh điển của tất cả các trường phải có uy tín, còn mạng toàn cầu là nơi trôi nổi của hầu hết những suy tư triết học thứ cấp. Nhưng càng ngày, những tư tưởng thực sự có giá trị về phương diện triết học đã xuất hiện càng nhiều trên mạng.
Tình huống của triết học trong thế giới ngày nay gần giống như tình huống trong câu chuyện ngụ ngôn về nhà thông thái và anh lái đò: trên con sông nước chảy xiết với những đợt sóng dữ dằn, khi biết anh lái đò ngốc nghếch về triết học, nhà thông thái bèn cất lời khuyên: nếu không biết triết học là gì, coi như anh đã mất nửa cuộc đời. Những tưởng anh lái đò đau khổ vì sự thất học của mình, nhưng không, anh ta vẫn yêu đời mà chọc lại nhà triết học: nếu không biết bơi, có thể ngài sẽ mất cả cuộc đời (khi cơn sóng toàn cầu hoá ập đến?).
Phải chăng cuộc sống vẫn đi về phía trước với tất cả sự vô tư của nó, còn nhà triết học thì không hiếm khi lại bi quan hơn hoặc ảo tưởng hơn về vai trò và vị thế của mình? Vẫn biết rằng, nếu thiếu hụt về triết học, người ta sẽ phải trả giá. Nhưng, trong kỷ nguyên toàn cầu mà ảo tưởng về vị thế của triết học thì cũng nguy hiểm không kém.
Nếu trong kỷ nguyên toàn cầu, thế giới ít nhiều đã "phẳng” hơn, theo đúng hình dung của Thomas Friedman, thì triết học chắc cũng không thể "tròn" như trước được nữa. Nguồn:
Tạp chí Tia sáng Số lượt đọc:
5830
-
Cập nhật lần cuối:
09/09/2008 08:31:08 PM
Ý kiến của bạn về bài viết: |  |
Thông tin liên quan: Có hay không chuyện “thế giới phẳng” hay “Việt Nam phẳng”?15/01/2010 10:34' AM Cụm từ “Thế giới phẳng” giờ được dùng ở nhiều nơi như mốt thời thượng về một tương lai, nơi đó, xã hội bình đẳng về cơ hội, khoảng cách giàu nghèo ngày càng ngắn. Trong cuộc trao đổi này, ông Bạt nêu câu hỏi: "Có hay không chuyện “thế giới phẳng” hay “Việt Nam phẳng”? Mối quan hệ giữa các nền văn hóa, văn minh trong kỷ nguyên toàn cầu từ cách tiếp cận triết học24/11/2009 04:13' PM Trong bài viết này, khi chỉ ra bản chất của những mâu thuẫn giữa các nền văn hoá, văn minh; sự khác nhau giữa tôn giáo và văn minh; nguyên nhân của sự xung đột giữa các tôn giáo, sắc tộc, giữa các cộng đồng dân tộc, tác giả đã đi đến khẳng định rằng, sự phát triển của văn hoá, văn minh không những không làm sâu sắc thêm mâu thuẫn giữa các cộng đồng xã hội, mà trái lại, còn là điều kiện để các dân tộc xích lại gần nhau hơn. Thế giới có quá nóng, quá phẳng, quá chật?07/07/2009 10:54' AM Nóng, Phẳng, Chật nhấn mạnh rằng sự thay đổi khí hậu do con người gây ra là một mối đe dọa chết người đối với toàn xã hội. Dân số ngày càng tăng, đi liền với lượng tiêu thụ tài nguyên và năng lượng ngày càng cao khi thế giới trở nên giàu có hơn, sẽ vượt quá mức chịu đựng của cả thị trường và trái đất. Sự an tâm04/03/2009 09:25' AM Thái độ an tâm cho mình là phải là một thái độ rất thông thường, vì ai cũng thường cho mình là đúng, ít người có lương tâm áy náy, sợ đã lầm lỗi. Thái độ an tâm là thái độ của một người cảm thấy mình không có điều gì đáng trách trong những việc mình làm, những lý tưởng theo đuổi hay những quan niệm mình chủ trương. Những quan niệm mình chủ trương là đúng, những lý tưởng theo mình theo đuổi là cao cả, những việc mình làm là tốt... Thế giới đang phẳng ra, cả ở nơi đây26/01/2009 10:36' AM Chính sự phẳng ra của thế giới, ngay ở ta, đã tác động tích cực cho sự trưởng thành của một lớp trẻ. Và nó sẽ nhanh chóng loang rộng, bỏ qua tất cả những cười riễu, chê bai, hoài nghi, cả lo lắng và bi quan, hốt hoảng và cả chống đối nữa, của nhiều người, nhiều thế lực. Nó đang hướng tới tương lai. Một tương lai mà ta có thể hoàn toàn tin. Rất có thể đó là tín hiệu mới của mùa Xuân này... Thế giới cong: Những hiểm nguy đang che giấu29/11/2008 02:44' PM Khi đưa ra khái niệm "thế giới phẳng", Thomas Friedman nhấn mạnh những hệ quả kinh tế tốt đẹp của toàn cầu hoá và viễn ảnh của một nền kinh tế mới của thế kỷ 21. Đó là một nền kinh tế đang được san phẳng và trong đó một sân chơi toàn cầu đang trở nên công bằng hơn giữa các nước giàu nghèo, cùng với sự giảm đi ảnh hưởng của những nước kỹ nghệ tiên tiến, nhất là Mỹ. Thế giới phẳng được và mất23/07/2008 08:36' AM Những suy nghĩ của bậc văn hào được dư luận quan tâm, đặc biệt các dân tộc từng đau khổ bởi "phản toàn cầu hóa lần thứ hai", tức chủ nghĩa thực dân cũ và mới - thuật ngữ của chính tác giả L.Phrít-men - nay nếu không tỉnh dễ có khả năng lại bị cuốn hút thụ động và chịu hệ quả buồn của làn sóng toàn cầu hóa lần thứ ba... Triết học phát triển, một chuyên ngành cần xây dựng nghiên cứu sâu những vấn đề phát triển đương đại ở nước ta hiện nay19/06/2008 06:27' PM Khoa học phát triển ngày nay không thể không bao hàm triết học phát triển, hay nói đúng hơn là dựa vào triết học phát triển. Với ý nghĩa đó trong bài này chung tôi bàn về sự cần thiết xây dựng môn triết học phát triển ở Việt Nam như một chuyên ngành để làm rõ chiều sâu của quá trình phát triển ở nước ta ngày nay... Triết học và văn hóa15/05/2007 01:54' PM Nghiên cứu vấn đề "Triết học và văn hoá" còn có ý nghĩa thực tiễn cấp bách ở Trung Quốc. Khoảng 2 thập kỷ lại đây, trong giới nghiên cứu Trung Quốc xuất hiện khuynh hướng phủ nhận phong trào văn hoá " Ngũ Tứ". Triết học là gì?16/03/2007 04:54' PM Khi thông tin sự cáo chung, triết học cũng mang ý nghĩa đặt định nhiệm vụ của tư tưởng của thời đại mới. Có thật sự một thời đại đã chấm dứt và một thời đại mới bắt đầu? “Trà dư tửu hậu” và triết học03/02/2007 11:09' AM Quanh năm quay cuồng với chuyện làm ăn, bàn chuyện kinh tế, chính trị, thời sự; cuối năm có lẽ là dịp để mỗi chúng ta chiêm nghiệm, suy ngẫm về cuộc đời... Thử một lần không bàn về chuyện kinh tế, TBKTSG đã “trà dư tửu hậu” với nhà nghiên cứu triết học phương Tây Bùi Văn Nam Sơn... Ý thức toàn cầu và vai trò của triết học trong việc xây dựng ý thức toàn cầu01/01/1900 12:00' AM Toàn cầu hoá là một xu thế tất yếu, khách quan, nó vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực đặt ra cho tất cả các quốc gia, dân tộc cả những vận hội lẫn những thách thức. Việc nhận thức những vấn đề toàn cầu đòi hỏi phải có ý thức toàn cầu. Ý thức toàn cầu, theo tác giả, có các đặc trưng:
- Phản ánh uy thế của các giá trị toàn nhân loại,
- Nó phải được chỉnh lý một cách căn bản trong sự tự ý thức của từng dân tộc cũng như của từng cá nhân,
- Có tính khoa học cao, để xây dựng ý thức toàn cầu, triết học đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Vai trò này thể hiện ở hai chức năng cơ bản của nó: chức năng thế giới quan và chức năng phương pháp luận.
Bí ẩn Châu Á trong tấm gương triết học Châu Á25/12/2006 08:52' AM Triết học Châu Á hay là triết lý Châu Á không phải là một khái niệm triết học. Đây chỉ là một cách gọi tương đối. Nó khá mơ hồ, không đủ rõ ràng, không có nội hàm xác định, càng không được hiểu như nhau trong mọi văn cảnh. Nếu coi là một khái niệm triết học, thì triết học Châu Á còn mơ hồ hơn cả khái niệm triết học phương Đông... Vài so sánh giữa triết học phương Đông và triết học phương Tây11/11/2006 03:51' PM Bài này chia sẻ những điểm khác biệt về triết học, triết lý Đông - Tây, từ đó quyết định xem cân đối kiến thức sao cho hợp lý, hiệu quả cho cuộc sống... Triết học - hạt nhân lý luận của thế giới khách quan27/10/2006 08:17' AM Để tồn tại, loài người phải thích nghi với môi trường sống của mình, nhưng con người không thích nghi với thế giới bên ngoài một cách thụ động, mà luôn luôn tìm cách biến đổi thế giới đó theo những yêu cẩu cuộc sống của mình. Muốn vậy, con người phải hiểu thế giới xung quanh cũng như về chính bản thân con người. Thế giới quanh ta là gì? Bàn thêm về vấn đề cơ bản của triết học07/10/2006 08:15' AM Giải quyết vấn đề cơ bản của triết học là một trong những yêu cầu quan trọng hàng đầu của việc tìm hiểu triết học nói chung và tìm hiểu một học thuyết triết học nào đó nói riêng... Khoa học hiện đại và triết học24/09/2006 06:03' PM Thế giới ngày nay hiện ra như một tấm thảm rộng mênh mông làm bằng nhiều mảnh bị tung toé ra, không sao ghép lại một cách khoa học được,- điều không giống như người ta nghĩ trước đây. Đầu thế kỷ chúng ta, khoa học đi chậm lại vì đường đi trước mắt không còn tỏ tường. Triết học đã làm cho con đường đó sáng lên. Khoa học đã nhìn thấy gốc của mình ở siêu hình học và từ đó nó vươn vai đứng lên mạnh mẽ như ngày hôm nay... Mối quan hệ giữa triết học và bức tranh vật lý học về thế giới06/09/2006 07:49' PM Mặc dù việc xây dựng bức tranh khoa học tự nhiên về thế giới là công việc của các nhà khoa học tự nhiên, nhưng bức tranh khoa học tự nhiên về thế giới không thể được xây dựng thuần túy từ các thành tựu của các ngành khoa học tự nhiên được. Bức tranh khoa học tự nhiên về thế giới là một công trình sáng tạo khoa học vượt ra ngoài khuôn khổ của bản thân khoa học tự nhiên... Về vai trò của triết học trong giai đoạn toàn cầu hóa hiện nay31/08/2006 05:48' PM Trong giai đoạn toàn cầu hoá hiện nay, cái giúp cho con người vượt qua những khó khăn, thử thách, giải thoát con người khỏi những thách đố và vướng mắc của cuộc sống, đáp ứng nhu cầu thường nhật và lâu dài của nhân loại không chỉ là kinh tế, kỹ thuật hiện đại và công nghệ cao, mà còn là triết học. Triết học giúp cho con người tìm ra lời giải không chỉ cho những thách đố muôn thuở, mà còn cho những vấn đề hoàn toàn mới do quá trình toàn cầu hoá đặt ra... Triết học có thể đóng vai trò gì trong cuộc sống?06/08/2006 06:32' AM ...đề cập đến hai thái cực trái ngược nhau khi đánh giá vai trò của triết học trong cuộc sống: Thái cực coi thường vai trò của triết học và thái cực ngược lại, lại tuyệt đối hoá vai trò của triết học, cho rằng chỉ cần nắm được triết học thì sẽ giải quyết được tất cả các vấn đề cụ thể của cuộc sống... Tâm sự tuổi già15/03/2010 09:17' AM Tháng ngày hối hả, đời người ngắn ngủi, thoáng chốc đã già. Chẳng giám nói hiểu hết mọi lẽ nhân sinh nhưng chi có hiểu đời mới sống thanh thản, sống thoải mái. Tiếng Hà Nội hay nên... hiếm12/03/2010 03:07' PM Có nhà văn nữ viết trong một truyện ngắn của mình thế này: "Người Hà Nội phát âm âm xát nhẹ như tiếng gió thổi qua chiếc lá mỏng tang". Tuy nhiên, dường như tiếng Hà Nội lịch lãm đang rơi vào quy luật muôn đời: Hay nên... hiếm. Biểu tượng thất truyền- Dan Brown tái xuất giang hồ12/03/2010 10:39' AM Hội Tam điểm là tổ chức bí ẩn nhất thế giới, cuốn theo quanh vô vàn ám tượng và truyền thuyết. Hình ảnh thì phô trương, nhưng hoạt động thì giấu kín. Hội viên có thể công khai nhưng cách thức kết nạp thì ém nhẹm. Sống nhàn thời kết nối12/03/2010 09:19' AM Thời xưa, các cụ phẩy tay áo bỏ chốn lao xao về sống ẩn chỉ cần cầm trong tay “một cuốc, một cần câu”. Ngày nay, chúng ta về sống ẩn thì nhớ cầm theo điện thoại di động và một cái laptop nối mạng. Thêm trong ba lô vài đĩa nhạc, vài cuốn sách hay thì càng tốt… Một nghìn bảy trăm cây số từ Hà Nội10/03/2010 09:58' AM Chiều xuân mưa bay Hà Nội, ông cũng mơ màng theo như bao người tha hương. Nhưng cơn mưa ấy là cơn mưa của một quá khứ, Hà Nội ngày ông trở về cũng là một Hà Nội khác xưa đến “một nghìn lần” như ông thừa nhận. Với tôi, ông là một người đã làm công việc của mình, đi qua cuộc đời bề bộn, với những toan tính sắp đặt để khẳng định chỗ đứng, có khi thành có khi bại. Một khi đã lên yên, chỉ có thể phóng đi, chấp nhận thị phi cùng những hậu quả không mong muốn. Cái sự bất chấp liều mạng của ông thời nào, nay có đầy ở những người Việt mới. Người Hà Nội trong... mắt ngoại kiều09/03/2010 09:37' AM Có một Hà Nội thanh lịch đáng yêu, nhưng cũng có một Hà Nội còn đôi điều chưa hài lòng. Đó là cảm nhận của những người nước ngoài đã từng đến hoặc đang sống ở Hà Nội. Cha và con gái06/03/2010 10:12' AM Con đã trở thành một người vợ, một bà mẹ trẻ, con có công việc ổn định nhưng vẫn làm cha ngạt thở trong vòng tay ôm rất chặt mỗi lần về nhà với cha mẹ. Cha thích được con cắt móng chân, móng tay. Quá đỗi dịu dàng. Thật là dễ chịu khi mình hài lòng và yên tâm tuyệt đối về người mà mình yêu thương, con ạ! Con thuyền, phù sa01/03/2010 03:38' PM Đôi khi tôi tự hỏi cái ngày Lý Công Uẩn đến vùng bờ bãi phù sa ven sông Hồng, thấy những ráng mây vàng như một con rồng bay vút lên, chính ngày đầu tiên ấy ông đã ngắm con rồng Thăng Long trên mình ngựa hay trên thuyền? Bài khác: Nghiên cứu chủ nghĩa duy vật biện chứng ở Việt Nam29/06/2007 07:05' AM Bài viết đề cập đến hai nội dung cơ bản: một số thành quả và vấn đề đặt ra từ việc nghiên cứu chủ nghĩa duy vật biện chứng ở Việt Nam. Trên cơ sở luận giải, làm rõ các kết quả trong nghiên cứu nguyên lý về sự phát triển, về các quy luật và các phạm trù cơ bản... của phép biện chứng duy vật... Phương pháp tiếp cận di sản kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin04/06/2007 11:18' AM Chủ nghĩa Mác - Lênin là một khoa học và do vậy, nó phải được đối xử như một khoa học. Trên thực tế ở những mức độ khác nhau, việc nghiên cứu, nhận thức, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin chưa được đối xử như một khoa học. Vì vậy, để phát huy vai trò và đảm bảo sức sống của nó, chúng cần phải nhận thức lại di sản kinh điển. Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh24/05/2007 08:57' PM Từ thực tiễn đấu tranh cách mạng cứu dân, cứu nước, tìm một con đường phát triển mới để canh tân đất nước, Hồ Chí Minh đã tìm đến nhiều học thuyết Đông - Tây, trên hết là chủ nghĩa Mác - Lênin, đã học hỏi, tiếp thu, dung hợp, tích hợp, hình thành cho mình một thế giới quan duy vật và phương pháp biện chứng macxít, tạo nền tảng triết học để xây đựng lý luận, đường lối và phương pháp cho cách mạng Việt Nam... Thời đại ngày nay vẫn là thời đại quá độ từ Chủ nghĩa tư bản lên Chủ nghĩa xã hội22/05/2007 10:53' AM Quan niệm đầy đủ về một thời đại mang tính quá độ đòi hỏi chúng ta phải có sự nhận thức đúng đắn về địa vị của cả CHXH lẫn CNTB trong thế giới thực tại. Điều đó không hề làm mất đi trong nhận thức và quan điểm của chúng ta sự cần thiết phải phê phán tính chất phản động về chính trị của các thế lực tư bản, đế quốc. Toả sáng đời đời19/05/2007 04:38' PM Mọi nền văn hoá đều có thể chắt lọc từ cuộc đời các bậc danh nhân đôi nét làm giàu thêm bản sắc mình. Mỗi thế hệ, mỗi cá nhân noi đức độ tiền nhân trong ứng xử hay lúc cần xử lý đại sự quốc gia... Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong các bậc danh nhân kim cổ ấy... Tư tưởng Hồ Chí Minh về thống nhất giữa lý luận và thực tiễn nhằm khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều28/04/2007 05:16' PM Một trong những di sản lý luận mà Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta là tư tưởng về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn như một biện pháp cơ bản nhằm ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều... Nhà chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng: Học để làm người28/04/2007 04:28' PM Theo cụ Huỳnh Thúc Kháng: Cái trường học để "làm người" đó tức là cái cõi đời ta vậy. Bao nhiêu sự khốn khó ở đời, bao nhiêu sự kinh nghiệm người trước để lại đều là những bài dạy cho ta. "Làm người" ở đời đã khó như trên đã nói, thì "học làm người" chắc không phải chuyện dễ"... Tiếp tục đổi mới nghiên cứu và giảng dạy triết học ở nước ta18/04/2007 08:11' PM Việc nghiên cứu và giảng dạy triết học vẫn còn yếu kém, bất cập. Nhiều vấn đề do thực tiễn cuộc sống đặt ra chưa được các nhà triết học nghiên cứu đầy đủ và do đó, chưa có sự trả lời thoả đáng. Công tác giảng dạy triết học chưa khắc phục được tình trạng "thầy không thích dạy, trò không thích học". Cần làm gì để khắc phục những yếu kém trong nghiên cứu và giảng dạy triết học ở nước ta? |