Đang tải dữ liệu...
ChúngTa.com.NET CommunityHanoi Software JSCDoanh nhân 360

Giới thiệuGiáo dụcSuy ngẫm & Triết lýKinh doanhKỹ năng - Nghề nghiệpCNTT - Viễn thôngThư giãn & Giải trí 
DN & Kinh Doanh
Chiến lược và cạnh tranh
Lãnh đạo và Đổi mới
Quản lý công việc, con người
Sản phẩm và dịch vụ
Marketing
Khách hàng và đối tác
Đầu tư, Chứng khoán
Tri thức và Học hỏi
Kinh nghiệm doanh nhân
Điểm sách hay
Tìm bài viết
Tìm kiếm nâng cao
Đọc nhiều nhất
Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Đạo đức kinh doanh
Công cụ tìm kiếm Việt Nam - Tìm chỗ đứng trên sân nhà
Tập đoàn kinh tế: Có thật là “quả đấm thép”?
Bách bệnh quản trị doanh nghiệp
Chữ Tâm trong kinh doanh
Bí quyết thành công của Microsoft là gì?
Đưa đạo đức vào trong kinh doanh như thế nào?
Văn hóa kinh doanh
Thương hiệu không phải là sự hào nhoáng
Thống kê
Số lượt truy cập: 14.030.815
Số người trực tuyến: 410

Trang chủ  >  Doanh nghiệp - Kinh doanh

Đạo đức kinh doanh

Tôn Thất Nguyễn Thiêm
Thời báo Kinh tế Sài Gòn
   
01:50' PM - Chủ nhật, 08/01/2006

Chẳng phải vô cớ mà khoảng 15 năm nay một ngạn ngữ Ấn Độ được lưu truyền trong giới doanh nghiệp ở các nước phát triển: “Gieo hành vi gặt thói quen, gieo thói quen gặt tư cách, gieo tư cách gặt số phận”. Điều này hàm ý: Sự tồn vong của doanh nghiệp không chỉ đến từ chất lượng của bản thân các sản phẩm - dịch vụ cung ứng mà còn chủ yếu từ phong cách kinh doanh của doanh nghiệp. Tóm gọn: Hành vi kinh doanh thể hiện tư cách của doanh nghiệp, và chính tư cách ấy tác động trực tiếp đến thành bại của tổ chức! Đạo đức kinh doanh, trong chiều hướng ấy, trở thành một nhân tố chiến lược trong việc phát triển doanh nghiệp.

Muốn “vị lợi” phải “vị nhân”

Điều này trái với cách tiếp cận của kinh tế học “cổ điển” vốn cho rằng mục đích duy nhất của doanh nghiệp là tìm kiếm lợi nhuận, vì thế vấn đề đạo đức - theo nghĩa “vị nhân bất vị lợi” - không thể đặt ra trong kinh doanh: Bản thân hoạt động doanh nghiệp là “phi đạo đức”, trong nghĩa đạo đức không phải là phạm trù quan tâm của doanh nghiệp (vì nó không mang ích lợi thiết thực cho doanh nghiệp, chứ không phải có ý rằng doanh nghiệp là thực thể “vô đạo đức”).

Luận điểm trên hiển lộ giới hạn của nó khi nhiều nhà kinh tế học đã xác minh rõ bản thân doanh nghiệp là một thiết chế xã hội mang tính tổ chức cộng đồng vận hành bởi các động cơ thoát thai từ những quyền lợi thuộc nhiều lĩnh vực của các thành viên liên quan. Và cộng đồng ấy, muốn đáp ứng một cách hiệu quả lý do tồn tại của nó - nghĩa là sản sinh lợi nhuận cần thiết cho việc tái tạo mở rộng doanh nghiệp - lại phải nhìn nhận là thành phần nội bộ cũng như các đối tác bên ngoài của nó không chỉ đơn thuần là những tác nhân kinh tế mà còn đồng thời là những thành viên của một hợp quần xã hội. Nói gọn, theo nhiều lý thuyết mới trong kinh tế học, doanh nghiệp muốn đạt đến mức tối đa mục tiêu của nó là “vị lợi” thì chí ít phải biết thế nào là “vị nhân”!

Hoạt động của doanh nghiệp, theo đó, muốn có hiệu năng tối ưu, phải được chu toàn trong sự tổng hòa những hành vi chiến lược bao gồm chủ yếu ba cấp độ trách nhiệm mà giới chuyên ngành gọi là bổn phận kinh tế, luân lý và đạo đức.

Bổn phận kinh tế của doanh nghiệp là sản xuất và cung ứng hàng hóa - dịch vụ để có được lợi nhuận cần thiết. Nhưng bổn phận ấy chỉ thật sự hoàn thành khi lợi nhuận được phân bổ đúng đắn cho việc phát triển doanh nghiệp và phân phối đồng thời cho tất cả các thành viên liên quan nhằm không chỉ góp phần trực tiếp vào việc mở rộng sự tái tạo vĩ mô của các thành viên ấy mà còn gián tiếp vào sự tái sinh mở rộng xã hội. Vì thế, bổn phận kinh tế phải đi liền với bổn phận luân lý của doanh nghiệp, hiểu theo “nghĩa tối thiểu” là doanh nghiệp phải tuân thủ nền luân lý xã hội được thiết chế trong những quy định pháp lý của Nhà nước. Theo “nghĩa tối đa”, bổn phận trên chỉ được cáng đáng hoàn chỉnh khi doanh nghiệp không chỉ tôn trọng pháp chế mà còn góp phần vào việc pháp điển hóa những quy tắc kinh doanh thuận lợi cho việc phát triển môi trường sống của xã hội (nôm na là góp sức vào việc xây dựng một “môi trường kinh tế rộng mở cho xã hội” chứ không phải là thủ thế độc quyền trục lợi hay/và thừa cơ “luật hở thì lách”!). Bổn phận đạo đức của doanh nghiệp được minh chứng thông qua những hành vi mang tính chất “tự nguyện”, nghĩa là những hoạt động “vị nhân” không nằm trong khuôn khổ các đòi hỏi thuộc bổn phận kinh tế và luân lý. Tính chất vừa nói cũng không nằm trong các “chương trình đóng góp từ thiện của doanh nghiệp” - thực chất vốn chỉ là những “hành xử quan hệ công cộng/PR” - mà khởi nguyên được thể hiện bởi sự ràng buộc giữa doanh nghiệp với chính lương tâm của nó trong việc thực hiện các hoạt động kinh doanh đối với tất cả mọi đối tác. Thí dụ: dựa vào sự bất đối xứng thông tin trong một cơ chế kinh tế tập quyền nhằm huyễn hoặc người tiêu dùng thì doanh nghiệp có thể không vi phạm luân lý xã hội - vì pháp chế không ngăn cấm - nhưng lại là một hành vi vô đạo đức trong kinh doanh vì mang tính chất “phỉ báng lương tâm nghề nghiệp”!

Trang:  1/2  1   2   »
Số lượt đọc:  13106  -  Cập nhật lần cuối:  13/01/2006 03:55:08 PM
Bài mới:  
Chữ Tâm trong kinh doanh
25/02/2008 05:10' PM
Bài khác:
Chủ điểm
Bí ẩn Bill Gates
WTO - cơ hội, thách thức
Văn hoá doanh nhân
Chiến lược và cạnh tranh
“Gã nhà quê làm thương hiệu”
Bí quyết viết bản kế hoạch kinh doanh
Thuật kinh doanh
Lãnh đạo và Đổi mới
Tái cấu trúc doanh nghiệp
Cơ cấu tổ chức công ty
Năng lực cốt lõi của thế kỷ 21
Quản lý công việc, con người
Tái cấu trúc doanh nghiệp
Lập bảng mô tả công việc có hiệu quả
Nâng cao sự thỏa mãn cho nhân viên
Sản phẩm và dịch vụ
Khái niệm sản phẩm mới và phát triển sản phẩm mới
Nhận diện thủ thuật kinh doanh đa cấp
Biến cái vô hình thành hữu hình
Marketing
“Gã nhà quê làm thương hiệu”
Tác động của yếu tố văn hoá trong hoạt động marketing của doanh nghiệp
Marketing mối quan hệ
Trang chủGiới thiệuLiên hệ