Nguyễn Khải, nhà văn tài năng nhất của thế hệ chúng tôi

Nhà văn Nguyên NgọcTuổi Trẻ
11:07' CH - Thứ hai, 24/08/2009

Trước hết, tôi muốn nói điều này: đấy là người tài năng nhất trong thế hệ của chúng tôi, thế hệ những người cầm bút vậy mà hóa ra vắt qua cả mấy thời kỳ lịch sử quan trọng: một chút thời Pháp thuộc, đầy đủ Cách mạng Tháng Tám, đẫm mình trong hai cuộc chiến tranh lớn, và cả hòa bình nữa.

Một đận hòa bình cũng chẳng ít khó nhọc - cả hai cuộc, hòa bình một nửa nước miền Bắc từ sau năm 1954 và hòa bình cả nước sau 1975, hòa bình nào cũng xao động bao nhiêu sóng gió.

Rồi lịch sử văn học sẽ có thời gian ngẫm lại mà xem, tất cả những chuyển động bão táp, phức tạp, trăn trở đó của số phận đất nước và nhân dân, ta sẽ được đọc lại hẳn nhiều nhất, sâu nhất trong Nguyễn Khải. Đấy là một trong những nhà văn hàng đầu, quan trọng nhất của văn học ta suốt một thời kỳ cực kỳ sôi động.

Tôi gặp Nguyễn Khải lần đầu, tôi còn nhớ chắc chắn, ngày 19-8-1955. Bấy giờ Đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua quân đội vừa họp ở Hà Nội. Tổng cục Chính trị gọi mỗi sư đoàn một người "biết viết" về Hà Nội để chia nhau viết về các anh hùng vừa được tuyên dương. Hóa ra đấy là cuộc tập hợp để rồi sau đó sẽ hình thành cả một thế hệ những người cầm bút chủ lực được rèn luyện trong kháng chiến chống Pháp và bắt đầu chính thức bước vào văn học sau năm 1954-1955.

Nguyễn Khải từ sư đoàn đồng bằng Bắc bộ lên, Phùng Quán, Nguyễn Khắc Thứ từ sư đoàn 325 Bình Trị Thiên ra, Hồ Phương từ sư đoàn 308 về, Nguyễn Trọng Oánh và Hải Hồ từ sư đoàn 304 Khu 4, Lý Đăng Cao từ phòng không, Hà Mậu Nhai từ sư đoàn 330 Nam bộ... Ít lâu sau, có thêm Hữu Mai từ Điện Biên Phủ, Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi từ sư đoàn 338 Nam bộ về...

Tôi là người về sau cùng, một cây bút mới tập tò đôi ba bài bút ký vô danh, từ sư đoàn 324 Khu 5 cũng được gọi về vì có ai đó tình cờ giới thiệu. Lính mới toanh, cấp thấp nhất trong nhóm, còn hoàn toàn trắng tay, gặp ai cũng sợ. Bấy giờ Hồ Phương đã có Thư nhà, chúng tôi ở chiến trường Khu 5 xa thế mà cũng từng được đọc và phục lăn. Nguyễn Khắc Thứ đã có cả bộ tiểu thuyết Đất chuyển đồ sộ. Phùng Quán vừa xáo động văn đàn bằng Vượt Côn Đảo. Nguyễn Khải thì từng đoạt giải thưởng Hội Văn nghệ VN, danh tiếng vang đến tận những chiến trường xa trong Nam của chúng tôi...

Những bước đi nhọc nhằn và dũng cảm

Tôi biết có người thường trách các nhân vật của Nguyễn Khải giống anh ấy quá, ai cũng đầy luận lý như anh. Tôi thì tôi nghĩ có hơi khác: mỗi người có một cách sống và một cách viết. Nguyễn Khải là người gửi vào các nhân vật của mình hết mọi trăn trở trên bước đường tư tưởng khó nhọc của anh - mà trên đời này người trung thực thì bao giờ các bước đường tư tưởng cũng vô cùng khó nhọc, chỉ có những anh chàng sống giả mới dễ hơn hớn hời hợt. Vậy nên, rồi bình tĩnh đọc kỹ lại hết anh mà xem, sẽ thấy đấy là người đã ghi lại được cho mai sau gần như toàn vẹn, trung thực những bước đi nhọc nhằn mà dũng cảm của con người chúng ta, cũng là của đất nước, trong suốt những năm tháng dài bão táp bên ngoài và bên trong, vừa hào hùng vừa đau đớn, như một nhà văn tài năng của dân tộc ắt phải làm.

Cái quan định luận, bây giờ thì có thể nói như thế này rồi: Nguyễn Khải đã để lại cho chúng ta một sự nghiệp đồ sộ, một bức tranh toàn cảnh sẽ vô cùng cần thiết để hiểu một thời vào loại quan trọng nhất của đất nước. Và có hiểu được như vậy thì mới đi tới được, ít đau khổ hơn và ít vấp váp hơn.

Nguyễn Khải có viết một câu hết sức ưu ái đối với tôi, anh bảo tôi "là nhà tư tưởng của thế hệ chúng tôi". Anh thương tôi quá mà nói vậy. Anh mới chính là nhà tư tưởng ấy, bởi nhà văn mà là nhà tư tưởng thì phải thể hiện các tư tưởng ấy ra trong tác phẩm của mình. Và anh mới là người làm được xuất sắc điều đó.

Tôi ở chiến trường du kích Khu 5 hẻo lánh, bao nhiêu năm sách vở chẳng có gì, về Tổng cục Chính trị chộp được một cái thư viện đầy sách tiếng Pháp, phần lớn là tiểu thuyết Liên Xô, liền lao vào đọc say mê. Một bữa Nguyễn Khải tình cờ đi qua nhìn thấy, dừng lại kêu lên: Ô, thằng này nó đọc được tiếng Pháp chúng mày ạ!... Và chúng tôi thân nhau từ đấy. Vì sao? Có lẽ vì cả hai ham tò mò mọi chuyện đời và bắt đầu muốn suy nghĩ.

Bấy giờ anh em ở trại sáng tác thường đùa, một thằng cao một thằng lùn - Khải cao lớn nhất, còn tôi thì thấp nhất trong số anh em được gọi về - mà lúc nào cũng cặp kè như vợ chồng, ngày đêm, không biết chúng nó tâm sự với nhau chuyện gì mà lắm thế! Hồi đó còn non nớt lắm, nhưng tôi cũng đã lờ mờ nhận ra điều này: Nguyễn Khải không phải là nhà văn của chủ nghĩa anh hùng, bấy giờ đang là xu thế chính thống của văn học ta. Anh là cây bút của các vấn đề xã hội, đọc kỹ lại xem, tinh một chút có thể thấy ngay ở những sáng tác trong thời chiến của anh đã manh nha những đường nét đầu tiên của xu hướng ấy. Và như vậy, anh đi sớm hơn chúng tôi rất nhiều...

Vậy mà ở trại sáng tác, Nguyễn Khải lại được phân công viết về nữ anh hùng Mạc Thị Bưởi. Thất bại. Không phải cái tạng của anh. Anh không viết được ca ngợi, cái tạng của anh là moi tìm, lục lọi, vặn đi vặn lại vấn đề, luôn đặt câu hỏi, không bằng lòng với những câu trả lời của chính mình, và luận lý, tự luận lý, suy ngẫm.

Rồi chúng tôi, ba anh em, Nguyễn Khải, Nguyễn Trọng Oánh và tôi, được cử đi tham gia cải cách ruộng đất đợt 5 "để có thêm hiểu biết nông thôn", cùng về xã Hưng Nguyên, huyện Thủy Nguyên bên bờ sông Bạch Đằng, đúng nơi Trần Hưng Đạo đánh trận thủy chiến mấy trăm năm trước. Tất nhiên loại "trí thức" mặt trắng chúng tôi thì chỉ được làm đội viên quèn thôi. Mỗi đứa ở một thôn. Cũng hăng hái lắm.

Nhưng có hôm đi họp đoàn gặp nhau, Khải thì thầm vào tai tôi: Mình thấy như có cái gì đó không phải cậu ạ. Sao lại thế này nhỉ? Hay là tại bọn mình non chính trị quá!... Chỉ dám thì thầm. Chuyến ấy đi về, Khải và Oánh bảo: May mà ở đội của mình chưa bắn ai cả. Nhờ có anh đội trưởng rất tốt, dũng cảm và trung thực!...

Rồi đến thời kỳ Đại hội XX Đảng Cộng sản Liên Xô. Khải và tôi thường lén lút đọc các tài liệu về sự kiện chấn động ấy. Và tôi tin rằng những chuyển động dẫu chưa thật hoàn toàn rõ ràng ấy đã ảnh hưởng đến các chuyến đi và các sáng tác của anh.

Có lẽ rồi đến một lúc nào đấy, các nhà nghiên cứu văn học thâm thúy sẽ lần lại các bước đường tư tưởng và sáng tác của Nguyễn Khải. Theo tôi, đấy là con đường rất tiêu biểu của chuyển động văn học ta suốt một thời kỳ lịch sử dài và không hề đơn giản, dễ dàng, tiêu biểu nhất là ở Nguyễn Khải, chính vì đấy đúng là cái tạng của anh và cũng vì anh là người tài năng nhất, cũng trung thực nhất với chính mình.

Tôi muốn nói rõ điều này: sự trung thực, cả điều gọi là dũng khí của nhà văn chủ yếu phải là ở trong sáng tác của anh, chứ không phải là, chỉ là trong ứng xử hằng ngày ở đời của anh. Mỗi người ở đời đều có những ràng buộc riêng mà sự khắc nghiệt chẳng ai giống ai, nên không thể ai cũng phải ứng xử như nhau. Duy đã là người cầm bút thì phải trung thực đến cùng trong sáng tác của mình. Tôi biết, tôi tin Nguyễn Khải là như vậy. Khi anh viết Xung đột, rồi Mùa lạc, có chút bâng khuâng, song vẫn còn khá dè dặt; khi anh viết về chuyện ông Tư Kiền, đọc kỹ lại mà xem, phê phán chuyện không chịu vào hợp tác xã đấy, nhưng là sự phê phán của người cũng đã không tin lắm về sự phê phán của mình. Và sau này Nguyễn Khải đã từng công khai nói về nỗi xấu hổ của anh trước nhân vật ấy...

Càng về sau, tầm nhìn những vấn đề xã hội của anh rộng, sâu và sắc hơn; tiếng nói cũng thẳng thắn và mạnh mẽ hơn, tự cay đắng với mình, thậm chí cả quyết liệt nữa, như trong ngòi bút chính trị gần cuối đời của anh. Anh vẫn trầm tĩnh và khiêm nhường, nhưng tiếng nói và cả bút pháp đã như tiếng kêu cuối của con chim báo bão đối với con người, với đất nước, với xã hội.

Cách đây mấy tháng, lục lại một số tài liệu cũ, tôi tình cờ tìm thấy cái thiếp mời đám cưới của anh Khải và chị Bắc, một cái thiếp thời ấy in mực tím trên một mẩu giấy nhỏ bằng hai ngón tay. Tôi đã định mang tặng lại anh chị, vậy mà không kịp nữa rồi! Khải ơi, còn biết bao nhiêu kỷ niệm giữa chúng ta, cả yêu thương và giận hờn nhau nữa có lúc, đều quí vô cùng, vô cùng. Khải ra đi, hôm nay tôi chỉ viết được có mấy dòng này. Rồi thế nào tôi cũng còn phải viết về nhau nữa, bạn ạ. Mỗi chúng ta chỉ nhỏ nhoi thôi trong lịch sử rộng lớn. Nhưng, tôi tin vậy, những người sống trung thực, bao giờ cũng là một phần dù nhỏ nhưng không thể thiếu trong bức tranh toàn cảnh của cả một thời. Mà sự nghiệp sáng tác, cũng là tư tưởng của Khải, thì không nhỏ chút nào.

Nhà văn Nguyễn Khải sinh ngày 3-12-1930 tại Nam Định. Ông vào quân đội từ năm 1947, giai đoạn 1951-1955 ông làm phóng viên, thư ký tòa soạn báo Chiến Khu 3. Từ năm 1955, ông là phóng viên, biên tập viên, cán bộ sáng tác tại tạp chí Văn Nghệ Quân Đội. Tác phẩm chính của ông gồm: Mùa lạc (tập truyện - 1961), Gặp gỡ cuối năm (tiểu thuyết - 1982), Thời gian của người (tiểu thuyết - 1982), Điều tra về một cái chết (tiểu thuyết - 1985), Thượng đế thì cười (2003)… và một số tác phẩm kịch. Cuối đời, ông dành thời gian đúc kết những nghĩ suy, đau đáu trong 2 tùy bút chính trị "Nghĩ muộn" và "Đi tìm cái tôi đã mất"

Nhà văn Nguyễn Khải từng nhận rất nhiều huân chương và giải thưởng: Huân chương Quân công hạng ba, Huân chương Chống Mỹ cứu nước hạng nhất, Huân chương Độc lập hạng nhì, giải thưởng của Hội Văn nghệ VN 1952-1953, giải thưởng tiểu thuyết - truyện ngắn của Hội Nhà văn VN 1983, 1997, Giải thưởng Hồ Chí Minh (đợt 2), Giải thưởng văn học Asean năm 2000. Năm 2003, nhà văn Nguyễn Khải đã ký hợp đồng chuyển nhượng tác quyền các tác phẩm của ông cho Công ty văn hóa Phương Nam với thời hạn ban đầu là năm năm.

Nhà văn Nguyễn Khải đã vĩnh biệt văn đàn VN ngày 15-1-2008 tại TP.HCM sau 30 ngày nằm bệnh.

Lam Điền

Suy ngẫm về sức nghĩ của một nhà văn lớn

(GS. Tương Lai, Người đại biểu nhân dân)

“Trôi theo tự nhiên”, tuy là một lựa chọn thật minh triết, nhưng sao cứ như một ám ảnh định mệnh, vì dễ gì cuộc sống chung quanh chịu tuân phục cái lẽ tự nhiên mà Anh đã ngộ ra được để cùng chọn một cách thế ứng xử mà Anh mong muốn, anh Nguyễn Khải ơi.


Thì cũng chính Anh đã viết như vậy: “Trong mọi cảnh ngộ trớ trêu, tính cách và nghị lực con người chỉ làm chủ một nửa, còn một nửa là những rủi ro không thể tính trước”.

Đọc câu ấy trong tác phẩm cuối cùng Anh tặng tôi, “Hồi ức về sự hình thành một bút pháp” mà Anh đặt tên là “Trôi theo tự nhiên” tôi cảm nhận được chiều sâu dự cảm của một sức nghĩ, một tầm tư duy đang ở vào một bước ngoặt trong văn nghiệp của Anh. Càng ngẫm nghĩ, càng thấy sự nghiệt ngã của thời gian và định mệnh. Anh đã cố làm chủ lấy sự trôi chảy của thời gian đang càng ngày càng hối hả thúc giục, để rồi Anh vẫn không vượt qua được cái khắc khoải của định mệnh. Và, cái “không thể tính trước” đã xảy ra, cho dù Anh đã toan tính chối bỏ. Đó chính là nỗi đau chúng tôi phải chịu đựng hôm nay.

Ám ảnh định mệnh ấy đã là sự thực đau đớn, con người tài hoa và trung thực ấy đã tuyệt đối nằm xuống. Cho dù Anh từng chiêm nghiệm “năm tháng đã qua đi nhưng vẫn còn lưu lại mùi hương đã nhạt của một thời, và cả những vệt nước mắt vừa khô của một thời” thì , anh Khải ơi, một thời ấy, cuộc đời còn muốn nhận được từ sự tái hiện sống động bởi văn tài và ý thức công dân của người cầm bút có trách nhiệm và đủ minh triết để làm điều đó nơi Anh.

Thật xót xa cho cuộc đời đã không được tiếp nhận trọn vẹn những tìm tòi, những đúc kết nghĩ suy và đưa ra những thẩm định chính trị sau cả một quãng đường dài hơn nửa thế kỷ của một nhà văn tài hoa và có trách nhiệm với chính cuộc đời ấy. Tôi muốn nói đến tập “Tùy bút chính trị” mà Anh đã cho tôi đọc và dặn hãy giữ cẩn thận giúp Anh.

Chỉ nói đến một tùy bút dở dang đang ở trước mắt tôi đây, vì viết về sự nghiệp đồ sộ của Anh, sức tôi không kham nổi và chắc chắn sẽ có nhiều người làm việc đó tốt hơn nhiều. Đã có lần tôi hỏi Anh, tại sao lại đặt tên cho tập “tùy bút chính trị” ấy là “Nghĩ muộn”. Một thoáng trầm ngâm, và rồi Anh cười: “Thì cả cuộc đời sống và viết, bây giờ mới nghĩ ra và viết được ra, mà cũng đã xong đâu, vẫn còn nghĩ tiếp đấy, thì chẳng muộn quá là gì”.

Anh Khải ơi, “Nghĩ muộn” của Anh không hề “muộn”, ngược lại, nó còn “sớm” hơn với nhiều người cầm bút, và đáng tiếc, và đau đớn đối với tôi lúc này, chính là ở đấy. Thẫn thờ, tôi lần mở tập bản thảo, ngẫm nghĩ về câu Anh viết mà nghẹn ngào không cầm được nước mắt: “Với một người viết văn cũng như những người làm nghề thuộc về trí tuệ, là lãnh vực tự do nhất, độc lập nhất trong xã hội, thì bạn bè là tất cả. Trong bạn bè, sẽ tìm ra tri kỷ, trò chuyện với tri kỷ vừa là đối thoại vừa là độc thoại để cân nhắc, xem xét, lật trái lộn phải một nghi vấn, một cách trả lời, một khẳng định còn rụt rè, một kết luận còn chưa đủ tự tin”.

Tôi may mắn được là người bạn muộn mằn của anh, và chắc chắn không phải là người “tri kỷ” mà anh lựa chọn. Nhưng duyên do là mỗi tháng chúng tôi lại có dịp gặp nhau một lần. Tận dụng thời gian hiếm khi gặp được nhau, vào những dịp ấy, Anh hay tranh thủ nán lại cùng chúng tôi, say sưa bộc bạch những suy tư nghiêm cẩn dưới cái dạng hài hước nhưng rất tinh tế và khiêm nhường của một sức nghĩ lớn. Nhân việc Anh muốn đọc một tiểu luận tôi viết đã lâu song ngại làm mất thì giờ của một nhà văn lớn, tôi không dám đưa để Anh phải trách, tôi vội đem đến nhà và không ngờ lại là sự giục giã một ý tưởng đã định hình trong Anh. Chúng tôi thân nhau từ đó, tuy biết Anh thì đã mấy chục năm và đã từng say mê đọc Anh.

Tôi kính trọng tài văn và sự trung thực, cởi mở của anh, trân trọng tình bạn “vong niên” mà Anh dành cho tôi, một người kém Anh đến sáu tuổi. Dưới ngòi bút tài hoa, tinh tế của Anh, bằng con mắt của chuyên ngành tôi đeo đuổi, triết học và xã hội học, tôi cảm nhận ở anh những suy tư triết lý với cái nhìn xã hội học sắc sảo. Trong sự thụ cảm riêng tư, tôi nghiệm ra rằng, văn tài của Anh vượt cao lên trong văn đàn nước ta “một thời”, chính là do có sự suy tư ấy, có cái nhìn ấy. Vì thế mà tôi thích đọc Anh, say mê những trang viết của Anh, nhớ kỹ và chiêm nghiệm những độc thoại, đối thoại của các nhân vật trong tác phẩm của Anh. Còn Anh, tôi hiểu, Anh muốn có người để bộc lộ những suy nghĩ “động trời” mà tôi chỉ là một cái kênh bé nhỏ.

Và nay thì một ý nghĩ cứ dày vò tôi, đáng lý ra, phải làm cách nào để giục giã hơn nữa để anh viết tiếp tập “tùy bút chính trị” mà xem ra bút lực của anh còn quá dư thừa để đưa ra những vấn đề có ý nghĩa rất lớn đến sự nghiệp của chúng ta, mà mỗi người, từ góc nhìn và sự trải nghiệm của mình, đều có thể có những đóng góp, như Anh đã viết: “Họ góp đóm, làm khô củi, tất cả đã sẵn sàng, người phát minh chỉ việc thổi bùng lên ngọn lửa sáng tạo”.

Có sức nghĩ nào là muộn đâu? Muộn hay sớm là tùy độ chín của tư tưởng mà mình nung nấu đấy thôi. Với anh, cả một đời cầm bút, tôi hiểu độ chín của tư tưởng Anh đang ấp ủ đáng phải sớm đưa ra để “góp đóm làm khô củi” khiến ngọn lửa nhanh chóng bùng lên, ngọn lửa của sáng tạo, ngọn lửa của tư duy.

Đành rằng rồi cũng phải chấp nhận sự nghiệt ngã của sự sống, dù nghị lực sung sức đến mấy cũng không sao cưỡng lại được quy luật của tự nhiên, nhưng “Hồi ức về sự hình thành một bút pháp” đã xong đâu. Mới đây thôi Anh còn hồn nhiên, vui vẻ bông đùa “họ lên đường cả, mình rồi cũng phải chuẩn bị thôi, cho nên nghĩ được đến đâu là tôi viết ngay, đánh máy ngay”. Bàng hoàng lật lại những trang viết, càng cảm được cái sung sức của bút lực, sự mạnh mẽ tinh nhạy của bút pháp để đưa ra “một kết luận còn chưa đủ tự tin”, đấy là Anh khiêm nhường mà nói thế, chứ thực ra, Anh đã rất tự tin về độ chín của những câu chảy ra đầu ngọn bút, ở những con chữ hiện hình chầm chậm song chắc nịch từ chiếc máy chữ quen thuộc của Anh. Chính vì thế mà lại càng đau đớn nghĩ về một công trình đang dang dở trong sự trăn trở.

Đấy là sự trăn trở của một ngòi bút trung thực nhưng thận trọng, đang viết ra những dồn nén trong khối óc và trái tim Anh, tuy đã chín trong suy ngẫm, song vẫn còn muốn có thời gian để dòng tư duy mạnh mẽ đủ sức thanh lọc những tạp chất, để chưng cất lại những ý tưởng đúc kết từ chính sự trải nghiệm của cả cuộc đời. Đó là những suy tư quyết liệt và giằng xé: “trong từng cá nhân vẫn còn bao nhiêu năng lực chưa được khai mở, còn bao nhiêu của cải chưa được khai thác, còn bao nhiêu yếu tố của cái phi thường chưa được nuôi dưỡng đúng như nó phải có. Tất cả tùy thuộc vào lòng can đảm ta có dám cởi trói cho chính ta không, ta có dám đối mặt với những thơ ngây, lầm lẫn của chính ta không? Trước hết hãy tự giải phóng mình ra khỏi những định kiến, những nguyên lý, những quy tắc từ lâu đã chả có tác dụng gì nhiều tới những hoạt động thực tiễn cả”.

Nghĩ muộn” là cái tên Anh đặt cho công trình còn dang dở ấy, đã nói lên phần nào động lực thôi thúc Anh viết “Tùy bút chính trị”, mà theo tôi, là một hứa hẹn độc đáo về giá trị tìm tòi và thẩm định của một người cầm bút có trách nhiệm bằng cả chiều dài thời gian và bề dày trải nghiệm. Sự trải nghiệm của một nhà văn từng lăn lộn trên chiến trường và trong nhiều trận địa của cuộc sống. Rồi, “như chợt thức giấc sau một giấc ngủ dài, giương mắt nhìn ra xung quanh, nhìn vào lòng mình bỗng thấy mọi quang cảnh như đã thay đổi. Tất cả đều ẩn giấu những câu hỏi hết sức mới mẻ, hết sức lạ lùng, buộc mình phải có cách trả lời, có trả lời xuôi thì mình mới sống yên ổn được với xung quanh, với chính mình”.

Rồi, Anh đã tìm cách trả lời. Trước hết là trả lời cho mình. Từ trả lời cho mình mà góp phần trả lời cho những khúc mắc, dằn xé của cuộc sống, mà tựu trung lại cũng là xoay quanh chuyện con người. “Con người hiện tại là tổng thể của một quá khứ sâu thăm thẳm, làm sao có thể biến cải họ thành người khác trong vòng vài thập kỷ! Mọi bước nhảy, mọi sự rút ngắn, mọi cuộc cách mạng quá khích ở lãnh vực này là vô nghĩa, nghĩ là thành công mà rồi sẽ có ngày phải làm lại cả, lại phải bắt đầu từ cái bắt đầu theo một phương hướng khác”.

Những dòng ý tưởng Anh viết trong “Trôi theo tự nhiên”, với cảm thức còn mơ hồ của tôi, chính là nhằm chuẩn bị cho việc hoàn thiện những suy tư kết đọng lại trong “Nghĩ muộn” mà Anh dự định sẽ còn phải chỉnh sửa, còn phải “lật trái lộn phải một nghi vấn, một cách trả lời, một khẳng định còn rụt rè” để có đủ sức gạt bỏ sự rụt rè đó, nhằm đưa ra sự khẳng định khi trao nó cho công chúng. Có chăng, “muộn” chính là sự đắn đo khiêm nhường của một ngòi bút có trách nhiệm không cho công bố những suy ngẫm đã đến độ chín, chứ không hề “muộn” những dằn vặt sáng tạo của Anh để hình thành những ý tưởng cần đưa ra vào lúc này.

Vả chăng, căn cứ vào đâu để thẩm định về “độ chín của một tư tưởng” nếu không đưa nó ra cọ xát với đời sống thực của con người, của xã hội. Chính cuộc sống thực ấy mới có đủ sự tường minh để mà thẩm định một tư tưởng, một luận điểm, chứ không phải một ai đó nhân danh cho sự độc quyền chân lý để đưa ra những phán quyết. Chân lý là cụ thể, vì thế nó không đứng yên một chỗ, nó phải vận động như chính dòng sông cuộc sống cuồn cuộn tuôn chảy. Quyết định vận tốc của dòng sông ấy là sức cuộn chảy từ bên dưới. “Rút ngắn thời đoạn, đổi người chuyển giao là sẽ bị lịch sử phủ nhận ngay”, đó chính là câu kết tạm thời của cái “tùy bút chính trị” còn dang dở của Anh.

Nhưng anh Nguyễn Khải ơi, công trình nào của cuộc sống mà chẳng dang dở! Có dang dở mới có phát triển. Công trình dang dở của Anh chắc rồi cuộc sống sẽ tiếp tục, và biết đâu, sự dang dở trong tìm tòi và sáng tạo của Anh lại là khởi nguồn cho những bước đi tới mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn. Thì Anh đã những muốn “để cái nghĩ của mình còn giữ được một chút cái tươi, cái mới lúc ban đầu, khỏi bị xơ cứng trong cái chính xác giả tạo, gò ép” đấy sao? Thì Anh chẳng đã “hy vọng những gì mình mong muốn trước sau gì cũng sẽ tới” mà ngay trang đầu của “Nghĩ muộn” như Anh đã viết.

Sức nghĩ của Anh chẳng những không “muộn” mà còn thổi vào cuộc đời một làn gió mới có khả năng “làm thay đổi chiều hướng một đời người” mà Anh viết đăng lên báo như một tuyên ngôn trong “Trôi theo tự nhiên” rồi đấy thôi “Sống bằng sự tỉnh táo, không có đam mê lớn, không có hoang tưởng, không có lãng mạn, không dám vươn tới những cái đích không thể với tới, không có những thất bại, những mất mát làm thay đổi chiều hướng một đời người, thì cuộc đời sẽ rất nhạt”.

Quả đã có những cuộc đời rất nhạt, nhưng văn nghiệp của Anh, sức “Nghĩ muộn” của Anh sẽ cung cấp năng lượng cho con người vươn tới những cái đích không thể với tới, mà theo lôgic của tư duy trong “Trôi theo tự nhiên”, mà trong suy ngẫm của tôi, chính là nhằm chuẩn bị cho sự hoàn thiện tùy bút “Nghĩ muộn”, thì không có cái đích nào không thể với tới, nếu người ta biết và dám sống với hy vọng những gì mình mong muốn trước sau gì cũng sẽ tới!.


Tuổi Trẻ
Nhà văn Nguyễn Khải và chiếc máy đánh chữ đã gắn bó với ông cho đến cuối đời - Ảnh: T.N.
Nhà văn Nguyễn Khải và chiếc máy đánh chữ đã gắn bó với ông cho đến cuối đời - Ảnh: T.N.
ChúngTa.com @ Facebook
Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: .
Tổng số người truy cập: .
Số người đang trực tuyến: .
.
Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,