Sơ lược về đời làm báo của Phan Khôi

Lại Nguyên Ân
04:21' CH - Thứ năm, 09/10/2014

Về văn chính luận, một việc rất đáng kể là chỉ hơn một tháng từ ngày ra tờ Trung lập đổi mới, Phan Khôi đã khởi ra cuộc bút chiến giữa hai tờ Trung lập – Đuốc nhà Nam xoay quanh thái độ đối với các sự biến vừa xảy ra lúc đó ở Nam Kỳ (nông dân biểu tình bị đàn áp đổ máu, các nhân vật hàng đầu của đảng Lập hiến dấu mặt im lặng…). Các bài viết tuy ký Trung Lập nhưng, như Phan Khôi sau đó ít lâu sẽ nói rõ, tất cả đều do một tay bút ông viết ra. Ông đã đi từ việc bình luận về thái độ của những người được coi là làm chính trị (là nghị viên hội đồng quản hạt hoặc hội đồng thành phố, tham gia một đảng được gọi là đảng Lập hiến…) trước những sự biến liên quan đến vận mệnh dân chúng (bắt đầu từ bài Ý kiến Trung lập : Phải nói minh bạch, TL 20.6.1930, qua một loạt bài: Trung lậpxin nói choĐuốc nhà Namnghe thế nào là cái nhã độ quân tử? TL 21.6.1930; Trung lậplại nói cho Đuốc nhà Namnghe: Theo cái nhã độ quân tử, hễ có lỗi thì phải chịu, TL 23.6.1930; Sự khởi hấn giữa Đuốc nhà Nam và Trung lập nếu trở thành cuộc bút chiến thì phải thế nào? TL 24.6.1930; 4 bài nhỏ: Ai nói dối? ; Bây giờ chúng tôi mới biết cái văn và cái người của ông Nguyễn Phan Long; Trung lập giành lại cái nhân cách cho quốc dân dưới bàn chưn kẻ vô lễ;“Kiến hiền tư tề yên“‒ đều in trên Trung lập ngày 25.6.1930, v.v… đến loạt bài Về các cuộc biểu tình ở Nam Kỳ vừa rồi [ kỳ I – IV] từ 26.6.1930 đến 30.6.1930), chuyển sang bình luận về các vấn đề của đảng Lập hiến Nam Kỳ (Nói về đảng Lập hiến ở Nam Kỳ, từ kỳ I, 2.7.1930, đến kỳ XIII, 25.7.1930, với những tiểu mục từng kỳ như: Cái chủ nghĩa của đảng Lập hiến; Đảng Lập hiến có thế lực mà không biết dùng; Cái sai lầm của đảng ấy trong đường chánh trị; Đảng viên và cơ quan của đảng ấy; Đảng Lập hiến với thanh niên; Hiệp quần với phân đảng; Ý kiến chúng tôi về đảng Lập hiến nay sắp sau,…). Đó là những bình luận xã hội chính trị mà về nội dung thì những người nghiên cứu lịch sử hiện đại có lẽ có thẩm quyền đánh giá hơn những người nghiên cứu về văn học sử hiện đại. Chỉ xin lưu ý rằng năm 1929, chính Phan Khôi trên báo Thần chung đã có bài luận về bút chiến (không ký tên tác giả, nhưng tôi đoan chắc là do Phan Khôi viết); có thể nghĩ rằng ông cũng mong có dịp thực hiện một cuộc bút chiến đúng như ông hình dung trong ý niệm. Đối thủ của ngòi bút ông lần này là chủ nhiệm Đuốc nhà Nam Nguyễn Phan Long. Những gì diễn ra có lẽ không thật giống với hình dung thuần ý niệm, tuy Phan Khôi giữ nguyên tắc của mình. Khi Nguyễn Phan Long trả đũa bằng thủ đoạn bôi nhọ cá nhân người viết bút chiến với báo mình (cho đăng trên báo Đuốc nhà Nam 12/7/1930 một bài bình thơ ký tên Đức Kỉnh, bàn về bài Viếng mộ ông Lê Chất của Phan Khôi rồi viết rằng ”người mình có cái tật ”vì người mà bỏ lời nói” nên chi bài thi nầy hay thật nhưng không mấy ai truyền tụng đến”, tức là mượn một câu ở sách Luận ngữ để thoá mạ nhân cách Phan Khôi), Phan Khôi đã thẳng thắn công khai nguồn dư luận mờ ám mang tính vu cáo vẫn lan truyền bằng rỉ tai trong giới về mình (theo đó người ta đồn ông là mật thám của khâm sứ Trung Kỳ), nhân đây Phan Khôi buộc tội Nguyễn Phan Long khơi ra chuyện vô bằng cứ đó là ”đã bôi lọ cái tên của ông trong làng báo”, “làm xấu trong trường ngôn luận” (Vài lời hỏi ông Nguyễn Phan Long, chủ nhiệm ‘Đuốc nhà Nam’, TL 19.7.1930; Một sự buồn trong báo giới, TL 21.7; 24.7; 1.8.1930).

Một bài bình luận cũng rất đáng kể nữa là bài báo đăng 4 kỳ nhan đề Vấn đề cải cách (TL 9.8; 12.8; 13.8; 18.8.1930), trong đó Phan Khôi nêu kinh nghiệm Nhật Bản và Trung Hoa để khẳng định ý kiến mình: ”muốn duy tân cải cách thì phải bắt [=bắt đầu] từ học thuật tư tưởng mà duy tân cải cách trước”; đó là một chủ kiến có không ít căn cứ.

Về phương diện văn học, một điều khá nổi bật là khi hai ông Bùi Thế Mỹ và Phan Khôi làm với Đông Pháp thời báo trong năm 1929 đã ra được ”Phụ trương văn chương”, thì đến khi hai ông này làm với Trung lập, cũng ra được ”Phụ trương văn chương” vào mỗi thứ bảy hằng tuần (khởi đầu vào đúng ngày 2.5.1931, như lặp lại điểm thời gian đáng nhớ của giới làm báo ở Sài Gòn), cũng do Bùi Thế Mỹ là chủ bút; từ 2.5.1931 đến 29.5.1933 ra được cả thảy 104 kỳ. Ở mỗi kỳ, ngoài những mục nhỏ như “Văn uyển” đăng sáng tác thơ, ”Giấy thừa mực vụn” đăng tạp văn hoặc chuyện làng văn, còn có một lượng khá lớn bài vở trong đó bước đầu giới thiệu những khái quát văn học sử Việt Nam (ví dụ bài Ngôn ngữ và văn chương Việt Nam của Bùi Kỷ từ PTVC số 8: 20.6.1931, đến PTVC số 13 : 25.7.1931), nêu các vấn đề mang tính lý luận văn nghệ, giới thiệu văn chương nước ngoài, bàn thảo để nhận diện những hiện tượng như "đạo văn" (Cao Minh Chiếm PTVC số 41: 13.2.1932, ”tố giác cái án đạo văn” nhưng lầm lẫn một loạt trường hợp thuộc loại phóng tác của Hồ Biểu Chánh và nhiều tác giả khác; Mai Lan Quế PTVC số 47 : 26.3.1932 nhận thấy họ Cao nghiệt ngã vô lý, đề nghị Phan Khôi giải giúp; Phan Khôi PTVC số 48: 2.4.1932 giải rõ thế nào là “đạo văn” và xác định những trường hợp ấy không phải là “đạo văn”), hiện tượng nhà văn bị cáo giác là có những sáng tác gây tổn thương phong hoá(15) v.v… Chính ở “Phụ trương văn chương” số 2(TL 9.5.1931) một tác giả ký T.S. đã nêu vấn đề lý thuyết về ”nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh” (chứ không phải đợi đến Hải Triều với những cuộc tranh luận sau này vào năm 1936). Nhân nói về phụ trương này, phải kể đến sự đóng góp của một cây bút khác cũng đến từ xứ Quảng là Phan Thứ Khanh, người đã có khá nhiều bài giới thiệu các nội dung lý thuyết mới về văn nghệ như: văn học và quốc dân tính, văn học tiến hoá với sự biến thiên của xã hội, văn học với cách mạng, văn học bình dân, khái niệm ”trào lưu”, về chủ nghĩa tả chân của Zola và Flaubert, nguyên lai tiểu thuyết Tàu và tiểu thuyết thời Đường, xuất xứ các bộ Thuỷ hử, Tam quốc, Tây du, lược qua về bộ Kim Bình Mai, v.v… Đây cũng là một trong số những tác giả hiện vẫn còn đang bị quên lãng cả ở Sài Gòn đây lẫn ở quê gốc Quảng Nam của mình.

Phần văn học Phan Khôi góp mặt với Trung lập cũng gần gũi với các bài loại này ông đăng Phụ nữ tân văn. Thường thì một bài của ông nếu không đăng trên tờ này thì sẽ đăng trên tờ kia và ngược lại, và cũng có trường hợp đăng đồng thời cả trên hai tờ đó (thậm chí nhiều tờ khác cũng đăng lại), chẳng hạn những bài ông thảo luận với Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh, Huỳnh Thúc Kháng, những bài ông tranh luận về “quốc học” với Lê Dư, v.v…. Riêng ở Trung lập Phan Khôi còn có những bài về ngôn ngữ, về thể loại văn chương; ông tham gia cuộc thảo luận về văn nghị luận của báo chí ngoài Bắc, bênh vực lối văn Hoàng Tích Chu (khác với Ngô Tất Tố là người khởi lên cuộc bài xích lối văn này), nhận xét chỗ được và chưa được ở bộ Việt Nam tân tự điển của hội Khai trí Tiến đức, v.v…Ông không chỉ thường xuyên có bài về thời sự nước Tàu mà còn có nhiều bài dịch thuật, giới thiệu văn hoá Trung Hoa, đáng kể nhất là bài giới thiệu Thương vụ ấn thư quán ở Thượng Hải (PTVC số 36: 31.12.1931; số 37: 9.1.1932). “Phụ trương văn chương” của báo Trung lập cũng đăng nhiều bài Phan Khôi trích dịch Sử ký của Tư Mã Thiên, Tùy Viên thi thoại của Viên Mai, v.v… Nhân đây cũng cần nhắc lại rằng hầu hết các bài trong mục Những điều nghe thấy chính là một dạng sáng tác của văn chương báo chí; không có báo chí thì không có đất sống cho loại tản văn này; ngoài ra, trong khá nhiều loại đề tài mà các bài trong mục này đề cập cũng có nhiều bài về văn chương nghệ thuật, khá nhiều bài bàn đến văn chương Truyện Kiều, đến các sáng tác đương thời.

Ngoài 4 tờ báo tiếng Việt kể trên, Phan Khôi còn cộng tác với một hoặc một vài tờ báo chữ Hán của Hoa kiều ở Chợ Lớn. Một trường hợp đã biết rõ là tờ Quần báo hồi đầu năm 1929 đã đăng bài Phan Khôi chỉ ra chỗ sai của báo ấy khi đăng một bài thơ, nói là của tác gia Trung Hoa Ngô Bội Phu nhưng thực ra là thơ của tác gia Việt Nam là vua Thành Thái; sau đó báo đăng liền 2 kỳ bài Chính trị gia khẩu đầu chi Khổng Tử của ông; ở cả hai bài ông đều ký là Khải Minh Tử. Sau này, vào năm 1939, trên tờ Tao đàn ở Hà Nội, Phan Khôi viết rằng khoảng 1928 ông từng đăng bài với bút danh Khải Minh Tử trên Hoa kiều nhật báo nói về văn học chữ Hán của người Việt.(16) Riêng về thông tin này hiện vẫn chưa có kiểm chứng trên tư liệu.

Cũng trong những năm sống và viết báo tại Sài Gòn này, Phan Khôi còn đồng thời cộng tác với một số tờ báo ở Hà Nội. Trước hết là những bài viết có trọng lượng học thuật của ông đăng các báo trong Nam được không ít tờ báo ngoài Bắc như Ngọ báo, Đông tây, Thực nghiệp, v.v… đăng lại; thứ hai là loại bài ông viết riêng cho các báo ở Hà Nội. Đó, chẳng hạn là loạt bài trong mục Độc thư tùy bút đăng trên báo Phổ thông từ 2.9 đến 7.10.1930. Chủ bút Đông tây là Hoàng Tích Chu (1897-1933) đặc biệt ưa thích ngòi bút Phan Khôi, đưa đăng lại những bài viết tinh quái của Thông Reo (bài về “cái bót-phơi” dự đoán Phạm Quỳnh sẽ vào kinh làm bộ trưởng, bài so sánh cô Ba Trà với Nguyễn Văn Bá để trào lộng sự tiến hóa của những người nổi tiếng đất Sài Thành, v.v…), sau lần chủ nhiệm Đông tây vào Nam gặp gỡ đồng nghiệp, hồi cuối năm 1930, người ta bắt đầu thấy Phan Khôi có những bài viết riêng cho tờ báo này, khi ấy được coi như tờ báo của giới trẻ đất Bắc. Đó là loạt bài trích thư Nguyễn Pho kể chuyện ngành Trung Hoa học ở trường Đại học bên Pháp (Đông tây, 23.5; 30.5; 3.6.1931), tiếp đó là những bài về học thuật (Đôi điều nên biết về Nho giáo, ĐT, 26.8; 2.9; 5.9; 23.9; 30.9.1931), về việc trừng trị quan lại ăn hối lộ (ĐT, 21.10.1931; 28.11.1931), nhận xét về sự thiếu vệ sinh và văn hóa đô thị nói chung của người Việt (ĐT, 14.10.1931), bàn về quyền tự do ngôn luận (ĐT, 21.11.1931; 12.12.1931), đặc biệt là loạt bài tham gia luận bàn về “vấn đề quốc học” do những tranh cãi giữa Trịnh Đình Rư và Lê Dư khởi ra. Đây là cuộc tranh luận có quy mô rộng, thu hút chú ý của nhiều học giả khắp nơi, được nhiều tờ báo trong Nam ngoài Bắc đăng tải, song những cứ điểm của cuộc tranh luận này là ba tờ: Phụ nữ tân vănTrung lập trong Nam, Đông tây ngoài Bắc. Phan Khôi tham gia cuộc tranh luận này chủ yếu bằng cách nêu phản đề (nước ta không có “quốc học”) (Luận về quốc học, ĐT, 12.8.1931; 15.8.1931; Nhân vấn đề quốc học, ĐT 24.10.1931; 7.11.1931; 14.11.1931; Bất điều đình, ĐT, 19.12.1931), v.v… Chính bài Một lối ”thơ mới” trình chánh giữa làng thơ, Phan Khôi cũng đưa đăng lần đầu trên Tập văn mùa xuân, một phụ trương Tết (nhâm thân 1932) của báo Đông tây ở Hà Nội, hơn một tháng sau mới cho đăng lại trên Phụ nữ tân văn ở Sài Gòn.

Tháng 4 năm 1933, khi Phan Khôi từ Sài Gòn ra Hà Nội thì tờ Đông tây đã bị đóng cửa (sau số 222 ngày 25.7.1932), nhà báo Hoàng Tích Chu đã mất. Phan Khôi hầu như chỉ còn duy nhất một “cố nhân” là Thực nghiệp dân báo, lúc này bước vào năm thứ 14 nhưng đã đến hồi tàn tạ. Từ giữa tháng 5 năm ấy, ông bắt đầu tái xuất hiện trên tờ này, chủ yếu là trong vai Bướng Nhân của mục “Bướng Nhân nhật ký” (từ 25.5 đến 4.7.1933); tiếp đó, chừng như để đối phó với những thóc mách trong làng báo Hà Thành, ông bỏ mục cũ ấy lập mục mới “Chuyện dóc tổ”, nhưng chỉ sau 2 kỳ (25.8; 26.8.1933) thì chấm dứt cộng tác với Thực nghiệp dân báo.

Từ 17.9.1933, Phan Khôi bắt đầu xuất hiện trên tờ Phụ nữ thời đàm.

Tờ này vốn ra mắt từ 8.12.1930 và hoạt động như một nhật báo, thường bộc lộ quan niệm bảo thủ của giới nhà nho đất Bắc trên vấn đề phụ nữ; đến thời gian này, báo đang ở tình trạng ngắc ngoải. Nhận lời với ông bà Nguyễn Văn Đa, chủ nhân tờ này, Phan Khôi bắt tay cải tổ tờ báo, chuyển nó sang dạng tuần báo.

Với tờ tuần báo Phụ nữ thời đàm, tập mới này, Phan Khôi có 22 tuần làm việc cật lực, cả trong vai trò chủ bút, cả trong vai trò cây viết chính. Một trong những điểm chủ yếu khi ông làm tờ “nữ báo” này là tờ báo đã trình ra một thái độ xã hội cấp tiến, khác hẳn thái độ bảo thủ của tờ báo cũ, nhất là trên vấn đề phụ nữ. Hầu như số nào cũng có một bài ngắn, ký Phan Khôi hoặc P.K., nêu một khía cạnh liên quan đến nữ giới: giảng giải về “ý nghĩa thật sự của vấn đề phụ nữ ở xứ ta” (PNTĐ, 17.9.1933), nêu các việc đáng quan tâm gắn với phụ nữ và trẻ em như: giáo dục tiểu học (PNTĐ, 1.10.1933), làm sách giáo khoa (PNTĐ, 8.10.1933), lập ấu trĩ viên (PNTĐ, 22.10.1933), khuyến khích phụ nữ học nghề thuốc (PNTĐ, 12.11.1933), cổ vũ phụ nữ chơi thể thao (PNTĐ, 24.12.1933), thậm chí đề xuất việc soạn sách giáo khoa riêng cho nữ sinh trong hệ thống trường nữ học (PNTĐ, 4.2.1934). Phan Khôi cho độc giả thấy, tờ “nữ báo” do ông chủ trì dứt khoát không hùa theo dư luận chế nhạo hay lên án “gái tân thời” (PNTĐ, 29.10.1933), không bài xích chuyện khiêu vũ (PNTĐ, 17.12.1933).

Ở Phụ nữ thời đàm, tập mới, Phan Khôi tiếp tục công việc của ngòi bút bình luận thời sự với mục Dưới mắt chúng tôi; ông cũng không quên chọn dịch các sự tích nhân vật trong các truyện ký chữ Hán thời trước cho mục Chuyện cũ nước nhà. Nhưng điểm mới mẻ nổi bật ở ngòi bút ông thời kỳ này là các bài viết được gọi chung là “tiểu phê bình”, từ “tiểu phê bình về nhân vật” đến “tiểu phê bình về phong tục”, “tiểu phê bình về báo chí, sách vở”. Đó là những trang viết sắc sảo mà hầu như chỉ cây bút từng trải, lọc lõi, đầy chủ kiến mới viết nổi, vì đó là nhận xét về những nhân vật lừng danh đang sống cùng thời như Huỳnh Thúc Kháng, Đạm Phương, Nguyễn Văn Vĩnh, Diệp Văn Kỳ, …, hoặc, đó là những nhận xét nghiêm khắc nhưng xác đáng về các phong tục đất Bắc (lễ lạt, đình đám quanh năm, đánh lộn nằm vạ, v.v…).

Sau số 22 Phụ nữ thời đàm, tập mới (11.2.1934), Phan Khôi rời Hà Nội, có lẽ trở về Quảng Nam; tờ tuần báo chuyển cho Nguyễn Triệu Luật làm chủ bút, chỉ ra thêm được 4 kỳ nữa, đến số 26 (6.6.1934) thì ngừng hẳn; năm 1938 (từ tháng 8 đến tháng 12) xuất hiện Phụ nữ thời đàm tục bản, đó là một nhóm Đệ Tam dùng tờ báo này làm phương tiện tố cáo và đả kích nhóm Đệ Tứ của Huỳnh Văn Phương.

Cuối năm 1934, lại thấy Phan Khôi trở lại cộng tác với Phụ nữ tân văn (Sài Gòn), góp mặt bằng mấy bài nghị luận rất đáng kể (Trên lịch sử nước ta không có chế độ phong kiến, PNTV. s. 268, 29.11.1934; Câu chuyện lấy vợ đầm, PNTV. s. 269, 6.12.1934; Thánh hiền ta đời xưa chưa hề có tư tưởng dân chủ, PNTV. s. 270, 13.12.1934; Ý kiến tôi đối với sự bỏ kiểm duyệt báo quốc ngữ, PNTV. s. 271, 20.12.1934). Nhưng đây cũng đã gần đến hồi kết của tờ báo từng gắn bó nhiều nhất với những thăng hoa trong đời làm báo của Phan Khôi. (PNTV. ngừng ở số 271; sang năm 1935 tục bản, chỉ được 2 kỳ: số 272, ngày 11.4 và số 273, ngày 20.4.1935).

Đầu năm 1935, Phan Khôi ra Huế, làm chủ bút nhật báo Tràng An. Tờ Tràng An (chữ Việt) ra 2 kỳ/tuần, là một trong hai tờ báo mới ra ở Huế từ 1.3.1935, bên cạnh tờ La Gazette de Hue (chữ Pháp) ra hàng tuần; chủ nhiệm cả hai tờ là Bùi Huy Tín. Ngoài các bài xã thuyết về thời sự xã hội ký tên Phan Khôi hoặc ký tên tòa soạn, ông còn mở nhiều mục cho các loại bài phiếm luận, tạp trở như “Có có không không”, “Nhớ đâu nói đó” , ông viết và ký Tuệ Tinh, C.D., Sao Đuôi…; mở mục “Chuyện rông” cho Hoài Thanh viết dưới bút danh Nhà Quê; rồì các mục mở cho ngòi bút của Tiêu Diêu Tử (tức Tiêu Viên Nguyễn Đức Bính), cho Hương Giang Lão Nhân, Hương Giang Thiếu Niên (chưa rõ bút danh của ai), cho các cây bút trẻ như Trần Thanh Mại, Phan Nhưng, v.v… Quan hệ tốt giữa ông với cây bút trẻ Hoài Thanh từ Nghệ An vào cũng bắt đầu ở tờ báo này; chính tờ báo đã lên tiếng chúc mừng lễ cưới của người trợ bút báo mình là Nguyễn Đức Nguyên (Hoài Thanh) với cô Phan Thị Nga, con gái một y sĩ ở Hội An (Tràng an 30.9.1935); tờ báo trong thời gian Phan Khôi là chủ bút cũng là nơi đăng bài của Hoài Thanh trong cuộc tranh luận “vị nghệ thuật / vị nhân sinh”; chính báo này đã ra số đặc biệt về ngày thất thủ kinh đô 23 tháng Năm năm Ất Dậu với các bài chủ lực do Phan Khôi và Hoài Thanh viết (Tràng an, 21.6.1935)…

Bước ngoặt khiến Phan Khôi rời Tràng An có lẽ là bài Nên bài xích lối văn không thành thực (T.A., 31.12.1935; 7.1.1936) một bài phê bình văn học, chỉ ra chất sáo rỗng ở một bài văn điếu phúng, nhưng đã đụng chạm đến việc nội cung triều Nguyễn nên tác giả của nó buộc phải rời vị trí chủ bút Tràng An.

Nhưng Phan Khôi chưa rời thành phố Huế. Đầu tháng 8/1936, ông cho ra mắt tờ tuần báo Sông Hương, tờ báo duy nhất trong đời mình, Phan Khôi là người sáng lập, là chủ nhiệm kiêm chủ bút. Ông duy trì tờ báo qua 32 kỳ, tạm ngừng sau số ra ngày 27.3.1937; ít lâu sau ông bán lại tờ báo cho nhóm cộng sản Phan Đăng Lưu, vẫn dưới tên Sông Hương “do Phan Khôi sáng lập”, báo được tục bản và hoạt động trong 12 kỳ nữa (19.6.1937 – 14.10.1937).

Trong 32 kỳ Sông Hương, Phan Khôi đã tập hợp được khá đông những cây bút khác nhau, nhiều nhất là những cây bút thiên về nghị luận, dù viết khảo cứu hay phê bình, văn học hay sử học: Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan, Trương Tửu, Thiếu Sơn, Trần Thanh Mại, Lê Tràng Kiều, Phan Thị Nga, Từ Ngọc, Phan Nhưng, v.v…, cạnh đó là một số cây bút sáng tác: Vũ Trọng Phụng, Lưu Trọng Lư, Nam Trân, Nguyễn Đình Miến, Xuân Tâm, Xuân Diệu, Lan Viên…

Về phần mình, Phan Khôi viết nhiều loại bài mục, từ các bài nghị luận về thời sự xã hội đến các bài nhỏ, nhằm lấp kín các góc trống mà chỉ những người làm thứ báo sắp chữ in khuôn mới biết rõ. Ông tiếp tục các đề tài sử học, ngữ học quen thuộc; ông cũng tạo những mục mới: Sử liệu từng mảnh vụn, Lý luận của tôi, bên cạnh những mục ông từng viết ở các báo khác: Ngự sử đàn văn, Chương Dân thi thoại…(17) Ông cũng cho in lại tập bài giảng Hán văn độc tu từng in trên Phụ nữ tân văn năm 1932.

Có thể, khổ báo rộng (49 x 33 cm) của Sông Hương là hơi trái với tính chất một tờ báo thiên về sự “học vấn và tri thức”, song đó chưa hẳn là lý do khiến tờ báo khó tồn tại dài ngày, bởi sự tồn tại “ngắn hạn” là nét tiêu biểu của rất nhiều ấn phẩm định kỳ cùng thời đại với Sông Hương.

Thời gian ở Huế, Phan Khôi đã tập hợp lại các bài viết trong mục Nam âm thi thoại của mình, cho xuất bản dưới tên mới Chương Dân thi thoại, quyển sách đầu tiên trong đời ông.

Theo Phan Cừ và Phan An (sđd.), sau khi bán tờ Sông Hương, Phan Khôi vào lại Sài Gòn, chủ yếu dạy học tại trường tư thục Chấn Thanh mà chủ nhân là một người Quảng Nam, trường này chuyển về Đà Nẵng vào cuối năm 1941, Phan Khôi về sống ở làng Bảo An quê nhà.

Suốt thời gian đó (1937-1941), Phan Khôi vẫn viết báo, thậm chí vẫn theo đuổi những tranh biện với đồng nghiệp ở các nơi; nhưng tìm cho hết những tờ báo mà ông cộng tác, tìm cho được những bài báo đã đăng của ông vào thời gian này, ‒ là việc rất khó cho người nghiên cứu sưu tầm. Dưới đây là một số kết quả tìm tòi đã biết:

Trong năm 1936, khi đang chuẩn bị ra tờ Sông Hương, Phan Khôi cộng tác với Hà Nội báo (chủ nhiệm Lê Cường, chủ bút Lê Tràng Kiều), góp những bài về sử (Một me tây thuở Gia Long – Minh Mạnh, s. 17, 29.4.1936), về ngôn ngữ (Về sự thay đổi mấy vần quốc ngữ, s. 19, 13.5.1936), về nghề làm báo (Cái ác ý bởi nghề nghiệp, s. 23, 10.6.1936), về thể loại (Thơ tình trong kinh điển, s. 20, 20.5.1936; Văn học tiểu thuyết là cái quái gì? s. 21, 27.5.1936) hoặc nhân vật (Cái chỗ buồn cười của ông Lương Khải Siêu, s. 26, 1.7.1936)…

Trong năm 1937-38, Phan Khôi cộng tác với Đông Dương tạp chí (tục bản, Nguyễn Giang chủ nhiệm, Vũ Trọng Phụng là thư ký tòa soạn phần chữ Việt), có bài đăng liên tục từ số 24 (23.10.1937) đến những số cuối cùng, trong đó đáng kể nhất là những bài ông bàn về Nhà nho và dân chủ (s. 33, 25.12.1937), Nhà nho với quân chủ (s. 36, 20.1.1938), về các nhân vật Trung Hoa như Cô Hồng Minh (s. 24, 23.10.1937), Tôn Văn (s. 25, 30.10.1937), nữ tác gia Hoàng Lư Ẩn (s. 27, 13.11.1937), luận về địa vị văn học Trung Hoa trên đàn văn thế giới (s. 28, 20.11.1937), về các nhân vật Việt Nam (Hạng “lương dân” của Phan Châu Trinh hay là từ Nguyễn Thuật, Hồ Lệ đến Bùi Bằng Đoàn, s. 30, 4.12.1937; Nội các với ngự tiền văn phòng, s. 32, 18.12.1937; Cái tâm lý người tù chính trị được tha, s. 37, 27.1.1938), đáp lại nhà báo Phạm Mạnh Phan về chuyện nếu Phan Khôi là “học phiệt” (s. 31, 11.12.1937), v.v…

Trong các tháng 7&8.1938, Phan Khôi cộng tác với báo Thời vụ (Hà Nội, chủ nhiệm Phạm Toàn, chủ bút Nguyễn Đức Bính) có đăng một số bài: Không có công dân giáo dục, sẽ không thể thi hành chính thể đại nghị (s.42, 5.7.1938), Từ ngõ chợ Khâm Thiên đến Việt Nam tự trị (s. 44, 12.7.1938), Giữa chánh phủ và nhân dân…(s. 51, 5.8.1938), Sẽlàm gì, ngạch nông quan? (s. 54, 16.8.1938)…

Trong các tháng 8&9.1938 ông cộng tác với tuần báo Dư luận (Hà Nội, chủ nhiệm Đỗ Xuân Mai, chủ bút Phùng Bảo Thạch), có các bài đăng báo như Cụ Phan Sào Nam và Nhật Bản (1.8.1838), Ésope tức là Doãn Hỷ? (8.8, 15.8.1938), Học sinh với quốc sự (29.8.1938), Một bài phú giá hai ngàn lượng bạc (5.9.1938), Thanh niên với hòa bình (12.9.1938)…

Trong năm 1939, ông có bài đăng khá đều đặn trên tạp chí Tao đàn của Nhà xuất bản Tân dân (chủ nhiệm Vũ Đình Long, chủ bút Lan Khai): Khái luận về văn học chữ Hán ở nước ta (s.1, 1.3 ; s.2, 16.3.1939), Người Việt Nam và óc khoa học (s. 3, 1.4.1939), Tục ngữ phong dao và địa vị của nó trong văn học (s. 9&10, 16.7 ; s. 11, 16.8.1939), Tôi với thi sĩ Tản Đà (s. 9&10), Khổng Tử chẳng duy vật mà cũng chẳng duy tâm (s.12, 16.9.1939), Vận ngữ với thơ (s.13, 16.10.1939).

Cũng trong năm 1939, ông cho in tiểu thuyết Trở vỏ lửa ra trên Phổ thông bán nguyệt san (s. 41, 16.8.1939) của nhà xuất bản Tân dân.

Trên đây ta chỉ thấy các báo ở Hà Nội mà Phan Khôi cộng tác từ sau khi rời thành phố Huế. Nhưng ta biết là thời gian từ cuối 1937 trở đi, Phan Khôi sống chủ yếu ở Sài Gòn. Vậy ông có viết cho tờ báo nào tại đây? Sơ bộ tìm hiểu thì tôi thấy, ông hầu như không viết cho những tờ báo của những chủ báo mà ông từng cộng tác (ví dụ tờ Công luận của Diệp Văn Kỳ), nhưng ông thường viết cho những tờ đang do Bùi Thế Mỹ (1904-43) chủ trì. Đây là một người bà con với ông, từng gắn bó khá sớm với ông trong nghề báo.

Suốt thời gian tờ Điện tín do Bùi Thế Mỹ làm chủ bút (1935-39), Phan Khôi chỉ gửi đăng một “thi thoại” cho số Tết 1936. Nhưng khi họ Bùi chuyển sang làm chủ bút Dân báo (Sài Gòn), Phan Khôi đã cộng tác tích cực hơn nhiều. Ông ký họ tên thật trong những bài tranh luận với báo Điện tín ở Sài Gòn, với tác giả Trúc Khê và báo Nước Nam ở Hà Nội, với báo Tiếng dân ở Huế. Ông cũng tiếp tục sử dụng lại bút danh Thông Reo cho chuyên mục Chuyện hàng ngày, và chỉ khi báo Tiếng dân ở Huế một lần nữa lộ cho độc giả biết bút danh này là của Phan Khôi, ông mới đổi sang bút danh mới Hy Tô. Mục Chuyện hàng ngày được ông duy trì đến cuối tháng 9.1942. Đây có lẽ cũng là dấu mốc cuối cùng về bài đăng báo của ông thời kỳ trước tháng Tám 1945.

Tháng 10.1945, Phan Khôi được mời từ Quảng Nam ra Hà Nội; chưa rõ từ đó đến khi đi ra vùng kháng chiến ở Việt Bắc, tháng 12.1946, ông có viết cho báo chí nào ở Hà Nội hay không.

Thời gian ở Việt Bắc (1947-54), ông tập trung vào hai loại công việc: nghiên cứu tiếng Việt và dịch thuật. Trong số các bài viết về tiếng Việt, bài Một phương pháp dạy văn pháp tiếng ta từng được trình bày tại Hội nghị văn hóa toàn quốc lần II (tháng 7.1948) và in trong kỷ yếu của hội nghị này; ba bài khác (Phân tích vần quốc ngữ, Một vài nhận xét trong tiếng ta theo chữ Nôm, Tiếng đệm) được Hội văn hóa Việt Nam cho in li-tô năm 1949; tám bài viết khác, vào năm 1950 được Hội văn hóa Việt Nam cho in thành cuốn sách Tìm tòi trong tiếng Việt.

Ông chủ yếu cộng tác với tạp chí Văn nghệ của Hội Văn nghệ Việt Nam, mỗi năm đăng một vài bài, ví dụ năm 1948 đăng Thơ tặng một vệ quốc quân (s. 7, tháng 12), Vì sao tôi viết tiểu thuyết (dịch của Lỗ Tấn, s. 3, tháng 6&7); năm 1949: Chúc phước (dịch của Lỗ Tấn, s. 8&9, tháng 1&2), Tìm tòi trong tiếng Việt I (s. 15&16, tháng 9&10); năm 1950: Tìm tòi trong tiếng Việt II (s.19, tháng giêng) giới thiệu tiểu thuyết Thời gian, tiến lên của V. Katayev (s. 22, tháng 4), Giới thiệu thơ Trung Hoa hiện đại (s. 24, tháng 6), Đọc cuốn Sử cách mạng cận đại Việt Nam của Trần Huy Liệu (s. 25, tháng 8), Phát biểu tranh luận sân khấu (s. 26, tháng 9); năm 1953: Một vị học giả mác-xít thiên tài (viết về Stalin, s. 40, tháng 3); năm 1954: Phấn đấu để sáng tạo những tác phẩm văn học ngày càng hay hơn… (dịch của Chu Dương, s. 44, tháng 2). Trong giải thưởng của Hội văn nghệ Việt Nam 1951-1952, Phan Khôi được trao giải về tất cả các bản dịch thực hiện trong thời gian này. Tại Việt Bắc thời kháng chiến, Phan Khôi xuất bản được 3 cuốn sách mỏng: Tìm tòi trong tiếng Việt (1950), Chủ nghĩa Mác và ngôn ngữ học (dịch của Stalin, 1951), Thù làng (truyện, dịch của Mã Phong, 1952).

Trở về Hà Nội sau hòa bình lập lại, Phan Khôi cũng tập trung vào dịch thuật, trước hết là các tác phẩm của Lỗ Tấn. Ông cho xuất bản một loạt cuốn sách: Ánh lửa đằng trước (dịch truyện của Lưu Bạch Vũ, 1954), Việt ngữ nghiên cứu (1955),Tuyển tập tiểu thuyết Lỗ Tấn (dịch, 1955), Tuyển tập tạp văn Lỗ Tấn (dịch, 1956), Tuyển tập tiểu thuyết Lỗ Tấn, tập II (dịch, 1957).

Trong dịp kỷ niệm 20 năm mất văn hào Trung Quốc Lỗ Tấn (1881-1936), Phan Khôi có một loạt bài nói và viết: Lỗ Tấn, một đại văn hào của Trung Quốc và thế giới (Nhân dân, 28.8.1955), Sự đấu tranh về văn học của Lỗ Tấn (Văn nghệ, s. 92, 27.10.1955), Đời sống và sự nghiệp văn học của Lỗ Tấn (bài nói tại lễ kỷ niệm Lỗ Tấn tại Hà Nội, 30.10.1955), Phát biểu tại lễ kỷ niệm 20 năm mất Lỗ Tấn tổ chức tại Bắc Kinh (đăng báo Văn nghệ, s. 145, 2.11.1956). (18)

Trên các đề tài khác, Phan Khôi có bài giới thiệu Lý Cơ Vĩnh, người được xem là sáng lập văn học hiện đại Triều Tiên, nhân 60 năm sinh nhà văn này (Văn nghệ, s. 74, 10.6.1955); ông hưởng ứng đề tài đấu tranh thống nhất bằng những bài về Nguyễn Đình Chiểu, một nhà nho chân chính miền Nam (Văn nghệ, s. 132, 2.8 và s. 133, 9.8.1956), bằng các bài tạp văn trong chuyên mục trào phúng Mũi nhọn ký bút danh Tơ-hông-re-o (Văn nghệ, s. 132, 2.8 ; s.135, 23.8 ; s.136, 30.8.1956).

Thời kỳ 1954-58, ngoài các báo của nhà nước và các đoàn thể từ vùng kháng chiến chuyển về, ở Hà Nội còn có khá nhiều báo chí tư nhân và nhà xuất bản tư nhân. Sau lớp nghiên cứu lý luận văn nghệ do Hội Văn nghệ Viêt Nam mở (từ 1 đến 18.8.1956), Phan Khôi cũng như không ít văn nghệ sĩ khác đã mạnh dạn lên tiếng góp ý với lãnh đạo (thường mới chỉ là lãnh đạo các ngành, trước hết là ngành văn nghệ) về một số khuyết điểm trong công tác quản lý; không chỉ viết trên các báo nhà nước và đoàn thể, họ còn viết và đăng trên các ấn phẩm tư nhân. Bài báo Phê bình lãnh đạo văn nghệ của Phan Khôi (Giai phẩm mùa thu tập I, Minh Đức xuất bản, Hà Nội, 29.8.1956, tr. 3-16) nói về những bất cập trong việc xét giải thưởng văn học 1954-55 của Hội Văn nghệ Việt Nam, đã gây ra những thảo luận trong giới văn nghệ. Ông cũng góp một bài Không đề cao Vũ Trọng Phụng, chỉ đánh giá đúng cho tập sách Vũ Trọng Phụng với chúng ta (1956) của nhà xuất bản Minh Đức. Ông có các bài ngắn trên các tập giai phẩm của Minh Đức: Ông bình vôi (Giai phẩm mùa thu, tập II, 30.9.1956), ba bài thơ Hồng gai, Hớt tóc trong bệnh viện quân y, Nắng chiều (Giai phẩm mùa thu tập III, 30.10.1956), dịch thơ Lý Bạch (Sách Tết 1957).

Tháng 9.1956, Phan Khôi nhận lời đứng làm chủ nhiệm tờ tuần báo Nhân văn của một nhóm văn nghệ sĩ; ông chỉ đăng một bài Trả lời một nhà báo ở Sài Gòn (s. 1, 20.9.1956) trên báo này và hầu như không làm công việc tòa soạn, một phần vì bận với chuyến đi Trung Quốc dự kỷ niệm Lỗ Tấn, nhưng Phan Khôi không hề thoái thác trách nhiệm của mình trước sự lên án của dư luận chính thống suốt thời gian tờ báo còn hoạt động và ngay cả sau khi tờ báo bị cấm (từ 15.12.1956).

Đầu năm 1957, Phan Khôi tham dự Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ hai (từ 20 đến 28.2.1957), tham gia Hội nghị thành lập Hội nhà văn Việt Nam (từ ngày 1 đến 4.4.1957), được kết nạp làm hội viên của Hội, tham gia các cuộc thảo luận về thơ do tuần báo Văn (Hội nhà văn VN) tổ chức. Ông cũng cộng tác với Tạp chí Văn nghệ (từ đây thuộc Hội Liên hiệp văn học và nghệ thuật Việt Nam) mà bài đăng sau cùng của ông là bản dịch tạp văn Lỗ Tấn nhan đề Chúng ta không bị lừa lần nữa đâu (Tạp chí Văn nghệ, s. 6, tháng 11.1957). Tác phẩm ông đăng báo cuối cùng trong sinh thời có lẽ là truyện ngắn Ông Năm Chuột (Văn, s. 36, 10.1.1958).

Sau các đợt học tập đấu tranh chống Nhân văn-Giai phẩm do Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng LĐVN mở cho văn nghệ sĩ (đầu năm 1958), các hội văn học nghệ thuật được chấn chỉnh lại; theo tinh thần ấy, BCH Hội Nhà văn VN tại hội nghị lần thứ tư, ngày 2&3.7.1958, đã quyết định khai trừ vĩnh viễn Phan Khôi (cùng Thụy An, Trương Tửu) ra khỏi Hội.

Sáu tháng sau, ngày 16.1.1959, Phan Khôi qua đời tại nhà riêng ở phố Thuốc Bắc, Hà Nội.

Hà Nội, 2006-2009

Chú thích

(1) Phan Thị Nga: Lối tự học của những bực đàn anh nước ta : [ kỳ 1] Ông Phan Khôi học chữ Tây và làm quen với cô Luận Lý // Hà Nội báo, Hà Nội, s. 10 (11 Mars 1936).
(2) Phan Cừ & Phan An: Phan Khôi niên biểu // Chương Dân thi thoại (tái bản), Đà Nẵng: Nxb. Đà Nẵng, 1996, tr.152-163.
(3) Phan Thị Nga: bài đã dẫn.
(4) Huỳnh Văn Tòng: Báo chí Việt Nam từ khởi thuỷ đến 1945, Tp. HCM.: Nxb. Tp. HCM., 2000, tr. 185.
(5) Chi tiết hơn xin xem trong: Phan Khôi: Tác phẩm đăng báo 1928. Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn, Đà Nẵng: Nxb. Đà Nẵng, 2003 ; cũng có trên trang : lainguyenan.free.fr/phankhoi
(6) Khái niệm “mặt nạ tác giả” [maska avtorskaja] được một số học giả Nga định nghĩa như phương thức mà nhà văn dùng để che giấu nhân thân của mình nhằm tạo nên ở độc giả cái hình ảnh một tác giả khác hẳn (so với dạng thực có); đây là thủ pháp chính của mê hoặc (мистификация / mistifikacija) trong văn chương (theo O.E. Osovsky, маска авторская / Maska Avtorskaja / Mặt nạ tác giả / trong sách: Литературная Энциклопедия Терминов и понятий / Literaturnaja Enciklopedija Terminov i ponjatij // A.N. Nikoljukin tổng chủ biên // Moskva: HPK “Intelvak”, 2001, tr. 511-512).
(7) Về hai nhà báo và nhà văn Pháp này, các thông tin là do dịch giả Trần Thiện Đạo từ Paris tra cứu và cung cấp. Xin chân thành cảm ơn.
(8) Xem: Vương Lệ Thiên: Thỏ chết động lòng chồn (Tại sao báo Thần chung bị cấm xuất bản?) // Trung lập, S. G., 27.3.1930; Phan Khôi: Có lẽ là điều sai lầm của những người trí giả // Trung lập, S. G., 10.5.1930.
(9) Chi tiết hơn xin xem trong: Phan Khôi: Tác phẩm đăng báo 1929 / Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn/, Đà Nẵng: Nxb. Đà Nẵng, 2004 ; cũng có trên trang : lainguyenan.free.fr/phankhoi
(10) Chi tiết về việc này, xin xem: Lại Nguyên Ân: Phan Khôi và cuộc thi quốc sử của báo Thần chung, Sài Gòn 1929 // Xưa và Nay, H.N., s. 310 (tháng 6. 2008), tr. 18-22. cũng có trên trang : viet-studies.info/phankhoi
(11) Tin: “Phụ nữ tân văn” chỉ bị đóng cửa 5 tháng // Trung lập, 14/5/1931.
(12) Thật ra bài Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ của Phan Khôi đã ra mắt công chúng Hà Nội từ trước Tết Nhâm Thân (6.2.1932) trong Tập văn mùa xuân, một phụ san Tết Nhâm thân 1932 của báo Đông Tây ; ý kiến phản hồi về bài ấy đã xuất hiện trên báo Đông tây (Hà Nội) ngày 17.2.1932, gần 1 tháng trước khi Phụ nữ tân văn ở Sài Gòn đăng lại bài ấy.
(13) Bùi Đức Tịnh: Những bước đầu của báo chí, tiểu thuyết và thơ mới (1865-1932), [in lại có sửa so với bản in lần đầu 1975], Tp. HCM: Nxb. TP HCM, 1992, tr. 235.
(14) Chi tiết hơn xin xem: Tiểu dẫn về các tác phẩm của Phan Khôi đăng báo trong năm 1930, trong sách: Phan Khôi : Tác phẩm đăng báo 1930 / Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn/ Hà Nội: Nxb. Hội Nhà Văn, 2005, tr.8-14 ; cũng có trên trang : lainguyenan.free.fr/phankhoi
(15) Xem thêm: Lại Nguyên Ân: Vài tư liệu về việc Vũ Trọng Phụng bị gọi ra toà năm 1932 // Tiền phong, 5.11.2005; Thế giới mới, s. 660 (7.11.2005).
(16) Phan Khôi: Khái luận về văn học chữ Hán ở nước ta // Tao đàn, Hà Nội, s.1, 1 Mars 1939, tr.13-18 ; s. 2, 16 Mars 1939, tr.107-114 ; dẫn theo Sưu tập trọn bộ TAO ĐÀN 1939, / Nguyễn Ngọc Thiện và Lữ Huy Nguyên sưu tầm / Hà Nội: Nxb Văn học, 1998.
(17) Xem sưu tập : Sông Hương, tuần báo ra ngày thứ bảy, (1.8.1936 – 27.3.1937) / Phạm Hồng Toàn sưu tầm, tuyển chọn / Hà Nội, 2009 : Nxb Lao Động & Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, 743 tr. 19×27 cm.
(18) Xem trong cuốn: Phan Khôi viết và dịch Lỗ Tấn, Lại Nguyên Ân sưu tầm biên soạn, Hà Nội : Nxb Hội Nhà Văn, 2007 ; cũng có trên trang: lainguyenan.free.fr/phankhoi

Sơ lược về đời làm báo của Phan Khôi
ChúngTa.com @ Facebook
Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: .
Tổng số người truy cập: .
Số người đang trực tuyến: .
.
Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,