Bên cạnh đời sống vật chất (Phần 2)

Huy DungGS Tim mạch
10:18' SA - Chủ nhật, 13/04/2014

NGƯỜI NÀO CẦN HỌC VÀ CÓ THỂ HỌC?

Bất luận lứa tuổi nào, dù là thanh niên, dù đã cao tuổi, làm nghề gì, ở xứ nào cũng cần học. Và ai cũng thích hợp sự học, cũng có thể học, cũng đều có trong tầm tay mình khả năng để tự học, tự phát triển. Miễn là không quá lười, không ngại ngùng, không cầu toàn.

Quá thông thái rồi, quá cao tuổi rồi thì không cần học hoặc ‘còn học làm gì’ nữa chăng? Không phải như vậy! Bất cứ ai, kể cả các bậc hiền minh sâu rộng đến đâu cũng không có thể hiểu biết tất cả, vẫn thích làm bạn với sự học. Đại thi hào Gớt từng khuyên “ngay cả thiên tài cực kì vĩ đại cũng không thể tiến xa nếu chỉ muốn lấy mọi thứ từ nội tâm của riêng mình”.

HỌC BAO LÂU ?

Học là một quá trình không ngưng suốt dọc cuộc đời. Điều thật sự đáng sợ là ngưng học.

CHỌN HỌC GÌ?

Tri thức cần học phải phù hợp nhu cầu thực tiễn nghiệp vụ cấp thiết, đáp ứng vấn đề thời sự bức xúc. Chọn tri thức nào khả dĩ sớm biến thành năng lực và kịp vận dụng đúng chỗ để ứng phó với biết bao cục diện phức tạp.

Học cả thực hành và lí luận (kim chỉ nam cho thực hành). Quan hệ giữa lí luận và thực hành, rồi giữa nói và làm cũng có thể tìm thấy trong ‘Cổ Ngữ’ xưa:

“Muốn nói phải nghĩ đến làm

“Muốn làm phải nhớ đến nói”

Chọn học ngay từ thực tế từng con người xung quanh, trong đó có những bạn bè ưu tú: rút ra những điều có thể học được. Càng nên học những kinh nghiệm rút ra từ những hoàn cảnh nào mà mình và họ đã phạm phải sai lầm, đó cũng là nguồn học quý mà ta thường quên.

Coi trọng cả học nói năng, luyện ngôn từ . Có thể nghĩ ngôn từ chỉ là bề ngoài, không là gốc-căn bản của con người? Trong nội dung ‘luyện gốc tâm hồn để làm người’ đang bàn có bao gồm sự tu luyện ngôn từ không? Khởi đầu, không nhất thiết phải có phần này: để đạt gốc tâm hồn nhân hậu, nếu ban đầu nói năng còn vụng về cũng không sao vì ‘tì vết đâu che mất ánh ngọc’, và bản chất nội tâm vẫn giàu sức thuyết phục hơn lời nói bên ngoài. Hơn nữa nên ít lời: ‘lắm lời nhiều chuyện’ thường kéo sang loại ‘tâm sự vô ích’ thậm chí chỉ gây thêm khó xử cho cả hai phía. Hoặc kéo sang loại ‘tâm sự lộ bí mật người vắng mặt’ chỉ càng dẫn tới không ít điều đáng tiếc.

Nhưng, về lâu dài lại rất cần luyện ngôn từ. Có hai cái lí. Một là, nếu không có lời nói thì công dụng của tâm không biểu đạt ra bên ngoài được, tâm hồn không mở rộng tác động được. Hai là, chính vì cái tâm nội tại là cái tâm tôn trọng tha nhân, và có trách nhiệm đối với mọi người nên không bao giờ có thể tự cho phép sơ suất thốt ra lời nói tuỳ tiện, thiếu suy nghĩ, xúc phạm... Cho nên đâu có thể coi nhẹ nói năng được, phải trau dồi ngôn từ , học ăn nói (và cách giao tiếp nói chung). Không nên nghĩ sao vội nói ngay, phải ‘quay lưỡi 7 vòng’ đã, suy nghĩ ki trước sau, nhiều mặt:

“Gà ba lần vỗ cánh mới gáy,

“người ba lần ngẫm nghĩ mới nói”

Nhưng cái gốc vấn đề vẫn chỉ là một: vẫn từ tâm hồn trung thực, chứ không uốn mình theo động cơ thực dụng (bên ngoài). Những khi đàm luận, ta rất thận trọng tâm lí của người đối thoại. Đó chỉ là vì tâm của ta trọng thị con người, chứ tuyệt nhiên không vì đối phó. Do đó không chấp nhận nguỵ tạo, đạo đức giả hoặc chỉ theo xảo thuật tâm lí v.v…. Gặp đối tác mưu mô, cũng phải ‘lựa lời’, nhưng vì bản lĩnh, chứ không vì giả tạo cốt ‘nói dựa’ một cách hèn kém. Nếu đối tác là lương thiện và chân tình, thì không cho phép khách sáo, giả dối, phải rất chân tình. Qua mấy ví dụ trên, để thấy, bất luận Học gì cũng đều phải từ GỐC tâm hồn cả.

CHỌN HỌC GÌ NỮA?

Chọn học tập DƯỠNG TÍNH (tu dưỡng tính nết). Điều này cao hơn và khó hơn một bậc so với học kiến thức. Học mà là luyện thành tập quán thuần thục. Ví dụ luyện tính tận tụy với bổn phận. Hãy làm tròn bổn phận trong mọi hoàn cảnh, tận tâm tận lực chăm chỉ hoàn thành công việc. Có thể coi đây là một trong những nội dung cần được học trước tiên vì là bửu bối bất biến dùng để ứng vạn biến trong sự nghiệp mỗi người chúng ta .

Rồi luyện tính đoàn kết hoà đồng. Nó bao gồm luyện tâm tính tránh gây gổ với xung quanh, tự trong lòng san bằng mọi xích mích; luyện trình độ giải quyết bất hoà nếu xảy ra; luyện cách giữ hoà khí với mọi người, nhưng chớ suồng sã; luyện cách làm cho đối phương hiểu rằng họ được lắng nghe, họ không hề bị coi thường mỗi khi có sự bảo lưu ý kiến v.v..

Luyện nếp suy tưởng, tự vấn, rút kinh nghiệm. Chọn nửa giờ mỗi ngày thành nếp như lời khuyên của A. Carrel, Lỗ Tấn. Có thể chọn ban đêm kiểu ‘nuôi dạ khí’ của Mạnh Tử, hoặc chọn sáng sớm - lúc này chẳng ai làm phiền, đầu óc còn sảng khoái.

Tính coi trọng sức mạnh tinh thần - thể chất (tâm-thể) thông qua quyết tâm giữ gìn và nâng cao sức khoẻ tâm-thể bằng kỉ luật rèn luyện, nếp sống không buông thả.

Và một ví dụ nữa về loại dưỡng tính hết sức quan trọng: Luyện tính quý trọng thời gian. Việc học tập này có đặc điểm là tự nó lại trực tiếp ích lợi cho việc ‘học tập không ngừng’. Bởi vì con người ta chỉ thu được kết quả học tập tốt khi biết sử dụng năng lực trí não trong từng khung thời gian nhất định mà mình có. Có thể nói mức kết quả học tập tỷ lệ thuận với mức quý trọng ngày giờ của mình. Mỗi giờ rỗi mà không xen kẽ, kết hợp học tập vào, không góp phần cụ thể cho kết quả học tập dù chỉ hiểu thêm một điều rất nhỏ thôi, thì đã uổng phí một giờ. ‘Học tập’ được cách biết tận dụng thời gian tốt nhất thì đạt kết quả nhiều nhất trong ‘học tập’. Cũng đạt kết quả nhiều nhất về sống phong phú hơn tức dài hơn, ‘sống trọn vẹn hiện tại’ hơn, biết tận hưởng ngày hôm nay, ngay giờ đang sống, luôn ý thức được là đang nỗ lực học hỏi, luôn tìm tòi tra cứu ngay những điều mà thực tiễn lúc đó cho thấy là cần phải biết mà chưa biết, không gác lại hôm sau.

Giành được thời gian nhờ chắt chiu và sử dụng có phương pháp nên sẽ an tâm tự học tập nghiên cứu không giới hạn, và cả học các nội dung luyện tính khác nữa. Không mảy may uổng phí thời gian, nên lúc nào cũng học thêm được một cái gì đó kể cả những giây phút mà hoàn cảnh cuộc đời buộc ta phải tạm dừng lại giẫm chân tại chỗ.

Chúng ta hãy quyết tâm nghiêm túc rèn luyện cho thành thói quen quý trọng thời gian, làm cho nó thành hẳn nếp sống bền vững của mình. Đến khi đó, ta dần hiểu thế nào là sống có tâm hồn, sẽ xót xa trước những cảnh đời không biết dùng thời gian làm gì cả, tới mức tìm cách “giết thời gian”(!), ta sẽ thấy xa lạ các lối sống ‘chỉ để ý ba chuyện tào lao’, ‘trong đầu óc chẳng có mảy may tư tưởng-mục tiêu nào đang đeo đuổi cả’, lối sống ‘hết hội hè, tiếp tân, lại sinh nhật, tiệc tùng liên miên’, ‘chỉ dạ hôị, xem phim, hát xướng, vũ trường, chơi bời, …’, đó là chưa nói nghiện ngập nữa. Có thể nói đây là một tiêu chí đơn giản dễ ứng dụng thực hành khi cần đánh giá nhanh một con người, ví dụ khi bạn trẻ tìm chọn người yêu, chọn bạn trăm năm chẳng hạn: hễ xét thấy ai đó không quý, ngược lại xả láng thời gian, thì có thể xa lánh ngay không thương tiếc.

Học tập tích cực, sâu sắc các mặt như nêu trên - đúng là khổ luyện, nhưng học tập cũng đẹp, vui, lí thú lắm chứ, góp phần chăm sóc, nuôi dưỡng tâm hồn ngày một cao đẹp, vui đời lên mãi.

VUI ĐỜI

Nhờ vui đời không ngừng mà rèn luyện tâm hồn tốt. Đổi lại, nhờ tâm hồn được rèn luyện tốt mới có vui đời không ngừng.

Niềm vui luôn gắn với cái đẹp, với thiện chí và lẽ phải, cho nên không thể bỏ quên niềm vui khi tiến hành rèn luyện tâm hồn.

Phải rất coi trọng niềm vui, vì như một ý tưởng rất nhân văn đã nêu “đời có sẵn nguồn vui, con người cần biết hưởng thụ ngọn nguồn đó của đời”. Cuộc đời là một khúc ca, ‘hãy hát lên’. Vậy câu nói “sống nghĩa là làm việc” không được hiểu một cách cực đoan thành ‘sống chỉ là làm việc’. Con người còn cần biết hưởng thụ và bảo tồn tạo dựng niềm vui cho tâm hồn mình. Lại cần biết góp phần một cách có ý thức tạo thêm và làm phong phú thêm mãi niềm vui cho người thân và mọi người nữa chứ. Như thế hưởng thụ và tạo thêm niềm vui đều vì nhân sinh – nâng cao chất lượng cuộc sống. Bản thân niềm vui của mỗi người bắt nguồn từ nhân sinh quan người đó. Tâm hồn con người có nhiệm vụ sử dụng niềm vui hữu ích nhất cho công việc của mình. Dùng niềm vui làm cho sự sống thực sự triển nở, cởi mở, hào phóng, dẹp bớt ưu sầu ‘nơi trần thế’. Vâng, bàn cả vấn đề ‘trần thế’ đấy: cuộc đời mỗi cá thể hữu hạn “ngắn ngủi như giọt sương mai”. Lẽ tự nhiên này được chấp nhận hết sức tự nhiên trong tâm hồn nhờ niềm vui đời. Đời ai cũng cần niềm vui, tựa như một nhu cầu bản năng vậy. Niềm vui đời nảy sinh từ ý niệm rõ rệt sự trường tồn của thiên nhiên, xã hội, dân tộc, dòng họ, nhân văn

Chúng ta còn chủ động dùng niềm vui để tăng hiệu suất hoạt động của mình. Nói chung ở đời, thái độ tiếp nhận mọi sự việc phải luôn tích cực dù đời có xảy bất ngờ thế nào mặc dầu. Bởi vì tiếp nhận sự vật không chỉ để tiếp nhận, mà là để hành đỘng bằng ứng đáp thích hợp. Nếu vậy tiếp nhận bao giờ cũng phải là tiếp nhận kép gồm cả hai mặt âm-dương đi liền nhau, tức bao giờ cũng phải có niềm VUI. Niềm vui nâng cánh tâm hồn để hành động, là chỉ số về ‘mức vị tha’ nơi ta còn lại nhiều hay ít, là vũ khí bảo vệ tâm hồn trong hành động.

Ở trên vừa nhắc vấn đề hưởng thụ niềm vui. Về vấn đề hưởng thụ đó trong khung cảnh ‘luyện từ gốc tâm hồn’, cần lưu ý hai khía cạnh tế nhị:

Thứ nhất là hưởng thụ một cách thanh tao, đâu phải kiểu ‘tận hưởng lạc thú’ chìm đắm vô độ, đâu phải kiểu ‘sống gấp’. “Vui quá ắt sinh buồn” rồi trống rỗng, rồi với cảm giác ‘uổng phí đời’ mà thôi. Thứ hai là hưởng thụ niềm vui chỉ trở thành trọn vẹn, khoáng đạt nếu là trên nền an tâm đã và đang tròn mọi bổn phận với ý thức đầy đủ về TRÁCH NHIỆM đã nhận lãnh trên đôi vai mình. Vì cuộc đời chỉ thật sự vui nếu vui có ý nghĩa khi tự giác về Trách Nhiệm. Trào lưu thời đại hiện nay tiến lên nhanh chóng nên có lúc tưởng như không kịp có thời gian cho sự phán đoán về chữ Trách Nhiệm vừa nêu, và cả về ‘mục tiêu, lẽ sống, ý nghĩa cuộc sống’? Chỉ biết đã dễ sinh nhiều hẫng hụt. Nên về ý niệm Trách Nhiệm, Bổn Phận, rất cần tránh cầu kì, cố chấp, cầu toàn, mỗi người phải luôn kịp thời sửa đổi cho phù hợp để luôn ý niệm được chúng, do đó lúc nào cũng có thể dễ thật sự vui.

Để hưởng thụ niềm vui tốt hơn ta có thể xem gương cha ông đã ý niệm được niềm vui thế nào. Ngược dòng lịch sử, ta tìm hiểu tính cách sống ung dung tự tại, rộng mở của các bậc hiền nhân nước ta và phương Đông, ta thấy nói chung nó xuất xứ từ sự thể nghiệm, lãnh hội được giá trị đặc biệt của niềm Vui trên nền của lạc quan tiến thủ. “..Khi nhiệt tình học tập đã quên ăn, khi hứng thú làm việc đã quên mọi ưu phiền … Biết điều hay - không bằng biết niềm Vui” (đó là câu nói của Khổng Tử).

Chúng ta càng cần luyện cách hưởng niềm vui đời bền vững: trong mọi tình huống căng thẳng, chúng ta hãy biết tự buông lỏng và không quan trọng hóa những điều vụn vặt, biết phóng thích mọi khó chịu, bực bội, phức tạp, gây buồn phiền ra khỏi tâm trí để rèn luyện tâm hồn tốt mà một biểu hiện là không ngừng vui đời.

NỤ CƯỜI là cách biểu lộ tự nhiên của niềm vui đời chính đáng và thần thánh nữa của tâm hồn được rèn luyện. Tất nhiên có chút khía cạnh y học: cười tác dụng tốt lành đối với sức khoẻ. Thậm chí cười có thể giúp cho tuần hoàn, bài tiết, tiêu hoá, biên độ hô hấp, sự thăng bằng thần kinh-thể dịch thuận lợi hơn. Cười còn giải toả sự căng thẳng đầu óc thật tài tình, có khi hết lúc nào không biết, ngăn chặn sự đăm đăm chăm chú vào các stress. Về tác dụng của cười, ta hãy nghe một người thọ 122 tuổi nói. Bà Jeanne Calment (1875-1997), quê ở gần Marseille (Pháp) lúc sinh thời được hỏi về bí quyết trường thọ, đã khuyên: “Hãy giữ nụ cười. Có lẽ nhờ nó mà tôi sống lâu”. Tâm hồn giữ được trẻ của bà còn có đặc điểm ‘rất phóng khoáng’, ưa nói thẳng, giỏi hài hứơc không ác ý, cũng là để giữ nụ cười.

Nét mặt tươi như hoa, vâng không phải tiếng cười, chỉ là cười nụ làm gương mặt luôn rạng rỡ, quý hoá thay! Khác với muôn loài, con người có ‘gương’ mặt có thể ‘phản chiếu’ cái ánh cao quý của tâm hồn. Với tâm hồn được rèn luyện, nâng cao, không khư khư ích kỉ mà chan hoà với xung quanh, thì nét mặt tươi như hoa nếu điểm xuyết những nụ cười chân thành thì quả là tác phẩm hoàn mỹ của Tạo hoá.

Ngược lại có những người, chẳng coi ai ra gì, tự buông thả cho phép mình vênh vênh mang bộ mặt lạnh lùng, lãnh đạm như mặt nạ vô cảm (cũng là ‘chủ trương’(!) của một số tác giả nước ngoài như đã nêu trong mở đầu bài này) ‘tới mức xua đẩy mọi người’ và cứ thế mang cái lạnh lẽo thờ ơ ấy, thậm chí cao ngạo khinh người, mà đi gieo rắc nơi nơi.

Có nhân bản hơn không nếu suốt đời gương mặt luôn đồng hành với nụ cười hồn hậu xuất phát từ trái tim vị tha chân thành, nụ cười ban phát được hoà khí, có thể toả sáng làm tiêu tan u ám mỏi mệt, khơi dậy lòng tin, hy vọng và lạc quan vui đời, thậm chí có thể truyền vào mai sau (ví dụ nụ cưới vị tha từ một ân sư uy tín truyền cho cho cả cuộc đời các thế hệ học trò nối tiếp, nối tiếp mãi).

HÀI HƯỚC là một đỉnh còn cao hơn. Là gì vậy? Ai cũng có những lúc công việc gặp nguy hiểm, căng thẳng. Những lúc này tại sao ta không biết khôn ngoan (và cao cường nữa) cho đan xen một cách rất tự nhiên chất khôi hài, dí dỏm vào? Nếu đời giống như ‘tấn trò đời’ (theo cách nói của H. De Balzac) thì trong đó mỗi chúng ta rất có thể nhập vai (cách nói của Shakespeare) mà diễn đoạn nguy hiểm căng thẳng ấy cho rõ thật dí dỏm, đầy bản lĩnh. Đời đương nhiên là có chất khôi hài và rất cần phải có nó là vì vậy. Còn Hài Hước là đỉnh cao của nụ cười và niềm vui đời khi điểm xuyết một số hạt ngọc trí tuệ tinh tế có chất khôi hài. Nếu nâng lên sánh vai cùng chất văn-học-truyện-kể thì mới thành những truyện hài hước, thật dễ mến. Truyện hài hước là nhu cầu của mọi cộng đồng xưa và nay, đông và tây. Hầu như dân tộc nào cũng có kho tàng truyện hài quý báu của mình.

Một đặc điểm của khiếu hài hước là châm biếm thuần tuý để cười vui: về sinh hoạt, cười cả bản thân mình, vừa phủ định vừa khẳng định, không ẩn ác ý, không xúc phạm khuyết tật thể chất những người nghe, cũng không ngầm mang tính chất dạy đạo đức. Thế mà hài hước có công dụng tuyệt vời, khó mà kể hết. Có khi nó còn được dùng để đối đáp một cách thông minh các lời nói khích hoặc lời tấn công thậm chí trấn áp, không đáp mà là đã đáp, ‘cứ nhẹ nhàng’ kể, chuyện lấy chất liệu từ lời đối phương nói khích rồi phát triển lên cao trào, lên mãi tới thái cực, đến độ vượt các cực đoan đó nên rành rành là phi lí. Nhờ thế, giữ được hoà khí, đưa được bầu không khí căng hoặc ‘bị đầu độc’ trở lại bình thường.

Bên cạnh đời sống vật chất (Phần 2)
 
ChúngTa.com @ Facebook
 
Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: .
Tổng số người truy cập: .
Số người đang trực tuyến: .
.
Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,