Đang tải dữ liệu...
ChúngTa.com.NET CommunityHanoi Software JSCDoanh nhân 360
Home
 
Suy ngẫm
 
Giáo dục
 
Trải nghiệm Trưởng thành
 
Kinh doanh
 
CNTT
 
Góc Giải trí
 
Tác giả
   Bản chất thế giới    Nhận thức    Hệ giá trị    Thực tiễn-Hành động    Ngẫm nghĩ Việt Nam    Điểm sách hay
Tìm bài viết
Tìm kiếm nâng cao
Thống kê
Số lượt truy cập: 44.299.483
Số người trực tuyến: 333
Bạn đọc đến từ đâu?

Bạn đọc của ChúngTa.com đến từ đâu?

“Giáo dục nhồi nhét thì dẫn đến “vô văn hóa”

Sơn Hà
Vietimes
   
01:17' AM - Chủ nhật, 26/10/2008

Bằng kinh nghiệm của nhiều năm nghiên cứu và giảng dạy tại trường Đại học Công nghệ Tokyo (Nhật Bản) và Đại học Sungkyunkwan (Hàn Quốc), GS Vật lý Vũ Văn Hùng chia sẻ những quan sát của ông về tính chủ động trong các giảng đường đại học tại các quốc gia nói trên.

PV: Bằng kinh nghiệm của những năm tháng nghiên cứu và giảng dạy tại Hàn Quốc và Nhật Bản, ông có nhận xét gì về tinh thần chủ động trong giảng dạy và học tập ở các nước này?

GS Vũ Văn Hùng: Điều mà tôi cảm nhận được rõ nhất là thái độ say mê làm việc và môi trường khoa học cởi mở trong các trường đại học tại nước bạn. Cách làm việc của những giáo sư và sinh viên ở đó rất khác chúng ta. Khi người thầy làm việc, họ luôn làm với một tinh thần say mê và hoàn toàn chủ động. Hơn nữa, với họ, làm việc không có nghĩa đơn thuần chỉ là giảng dạy mà phần lớn thời gian họ dành cho thí nghiệm.

Thông qua các nghiên cứu đó, họ sẽ tổ chức triển khai các hệ thống đề tài được thực hiện qua các nghiên cứu sinh của mình. Đây là cách thức rất hay, thể hiện rõ tinh thần bình đẳng, cùng nhau tiếp cận tri thức của những nền giáo dục tiên tiến trên thế giới.

PV: Không khí học tập và nghiên cứu đó khiến tôi nghĩ đến một triết lý giáo dục. Đó là, điều quan trọng ở người thầy không chỉ là “tháp ngà” trí thức, mà quan trọng hơn người thầy phải là người truyền cảm hứng, người đem lại cho sinh viên một sự hứng khởi học tập. Bởi lẽ, bản chất của giáo dục là một quá trình dân chủ giữa thầy và trò cùng bước vào lâu đài trí thức, cùng hỗ trợ, khích lệ, tác động lên nhau chứ không phải người này áp đặt kiến thức lên người kia.

GS VVH: Đúng vậy. Về phía khác, bản thân sinh viên cũng học tập với một ý thức tự giác rất cao. Trên ba lô của họ, tôi thấy hầu như lúc nào cũng đầy ắp những cuốn sách mượn ở thư viện. Họ luôn luôn ở trong tư thế đọc, nghiền ngẫm và nghiên cứu.

Điều đặc biệt nhất, những lúc mệt mỏi, sinh viên nước ngoài luôn tìm đến sách. Hình như với những con người trẻ tuổi ấy, trên những trang sách ấy có rất nhiều điều thú vị, cần thiết cho cuộc sống và tương lai sắp tới? Tri thức đã thực sự đem lại cho họ niềm vui và tinh thần hứng khởi học hành

PV: Vậy theo ông, tinh thần chủ động học tập và nghiên cứu trong các trường Đại học ở Hàn Quốc và Nhật Bản có nguồn gốc từ đâu?

GS VVH: Theo tôi, nguồn gốc của tinh thần chủ động nói trên trước hết nằm ở chỗ họ đã tạo ra được một môi trường làm việc nghiêm túc và chuyên nghiệp mà đến đó, người thầy muốn giảng dạy, nghiên cứu. Bởi họ được đánh giá cao, được tôn vinh và có cơ hội thăng tiến mà không phải lo toan gì về cuộc sống. Chính điều này đã ràng buộc trực tiếp tới trách nhiệm của giảng viên với sinh viên, buộc họ cũng phải toàn tâm toàn ý với tương lai của mình.

Có một lý do nữa khiến tinh thần chủ động tiếp cận và chiếm lĩnh kiến thức của sinh viên các nền giáo dục tiên tiến đáng trân trọng là họ phải “trả giá” rất cao cho những gì mình lĩnh hội. Họ học để có thể làm việc thực sự, đáp ứng đủ cho nhu cầu xã hội. Họ tự xác định, học là cách thức nhanh nhất khiến mình có thể gia nhập hàng ngũ nguồn nhân lực chất lượng cao, để sống sung túc bằng chính những gì mình có.

PV: Có ý kiến cho rằng, những cách đổi mới về phương pháp dạy trong các trường Đại học hiện nay đa số theo kiểu “bình cũ rượu mới”? Học thảo thuận thì sinh viên ít phát biểu, máy chiếu thì thay thế cho việc đọc chép thuận lợi hơn… Những thay đổi đó hầu như đều là thay đổi về mặt kỹ thuật. Còn vấn đền quan trọng nhất, là thay đổi một triết lý giáo dục nhằm đào tạo ra những con người tự do, chủ động, sáng tạo, có trách nhiệm, từ đó dẫn đến một loạt thay đổi khác về phương pháp, chương trình học… lại chưa được bộ Giáo dục chú trọng. Ông nghĩ gì về quan điểm này?

GS VVH: Về vấn đề này, theo tôi có lẽ chúng ta cần phải nhìn nhận, xem xét lại. Bởi kiến thức được truyền lại cho thế hệ sau bởi những người thầy thông qua một quá trình giao tiếp trực tiếp chứ không phải chủ yếu qua các kênh hình hay các bài giảng online.

Tại nước ngoài, thực tế các giảng đường luôn tồn tại song song tất cả các hình thức giảng dạy. Nghĩa là giáo sư vẫn sẽ thuyết trình, ghi phấn và đối thoại trực tiếp với học trò; đồng thời cho chiếu các project tóm tắt nội dung cơ bản bài học.


Đặc biệt hơn, họ tiến hành ghi hình lại các giờ lên lớp đó, tạo điều kiện cho người học được xem lại các bài giảng đó một cách chi tiết hơn nếu muốn. Nhưng, cách làm này chỉ là một kênh chứ không phải là điều chủ yếu. Hàn Quốc và Nhật Bản vẫn hết sức chú trọng đến sự truyền đạt trực tiếp.

PV: Truyền đạt trực tiếp ở đây có giống như việc giảng viên đọc cho sinh viên chép đang diễn ra phổ biến trong các giảng đường đại học của Việt Nam?

GS VVH: Truyền đạt trực tiếp thật ra đồng nghĩa với một quá trình giao tiếp hai chiều. Ở đó, người thầy truyền đạt toàn bộ kinh nghiệm làm việc của mình, ý tưởng nghiên cứu của mình cho học viên. Trên cơ sở đó sẽ tổ chức các semina. Hoạt động này được thực hiện một cách thường xuyên nhằm kiểm tra, đánh giá mức độ lĩnh hội của sinh viên.

Đây được coi là những bài tập đầu tiên giúp sinh viên làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học về lâu dài. Một lợi ích nữa của phương pháp này là sinh viên được quyền nói, được quyền phản biện một cách tích cực trong một nhóm cụ thể. Cách thức làm việc ấy rõ ràng tốt hơn rất nhiều so với chuyện chúng ta chỉ dùng công nghệ thông tin thuần túy, một chiều và đầy bị động.

So sánh vui thì có thể nói rằng, đứng cạnh giảng dạy trực tiếp, powerpoint, video hay nhiều thứ khác nữa chỉ là những “kĩ nghệ” không hơn kém. Tất nhiên, để đạt được điều đó đòi hỏi cao trách nhiệm của người thầy. Thầy phải là người thắp lửa say mê, thổi bùng lên đam mê trong sáng tạo, trong nhận thức của trò. Chân kiềng thứ ba không kém phần quan trọng trong mối quan hệ biện chứng nói trên chính là chất lượng của giáo trình, sách vở.

Sinh viên được quyền nói, được quyền phản biện một cách tích cực trong một nhóm cụ thể

Đối với các giảng viên đại học ở Việt Nam, điều chúng ta phải lưu ý là giảng dạy phải đi đôi với nghiên cứu. Vì thiếu vế sau, kiến thức sẽ không được cập nhật, mà trở nên rất ngán ngẩm, kinh viện do thiếu đi những cái mới. Thầy có say mê thì trò mới có thể nhiệt tình học tập được. Nghiên cứu của người đứng lớp nhiều khi lại là viên nam châm thu hút thêm lòng khát khao chân lý của sinh viên, nhất là những sinh viên trẻ tuổi.

PV: Theo ông có những giải pháp nào để tăng tính chủ động của sinh viên và giáo viên trong cách dạy và học?

GS VVH: Để giải quyết vấn đề giáo dục đại học, trước hết chúng ta nên nhận thức rõ những vấn đề chính có quan hệ biện chứng với nhau cần phải giải quyết một cách trọn vẹn: thứ nhất là thầy, thứ hai là trò và cuối cùng là giáo trình. Nếu như trò không phải là những người được “chọn lọc” tốt, không chủ động trong việc tiếp cận và kiến giải chân lý thì chúng ta cũng không thể đào tạo ra những sản phẩm tốt.

Bàn về vai trò của người thầy, tôi lại nhớ đến một câu nói của Anhxtanh: “Bục giảng thì nhiều nhưng thầy giáo giỏi và cao quý thì hiếm. Các giảng đường thì nhiều và rộng nhưng số người trẻ tuổi thành thật, khao khát chân lý và lẽ công bằng thì cũng hiếm”.

Theo tôi, quan trọng hơn hết, chúng ta phải thay đổi cách thức truyền thụ, để có thể giáo dục cho học trò một tư duy độc lập. Bởi thật ra, chỉ dạy kiến thức chuyên ngành dù sâu rộng đến đâu vẫn là chưa đủ, trước mặt những người trẻ đâu chỉ có đơn thuần những học thuật, con số và những điều trong sách vở.

Về cơ bản, chúng ta nên chuyển đổi từ việc mang cho sinh viên con cá đã chế biến thơm phức, ngon lành bằng cách hướng dẫn họ cách làm ra món ăn chất lượng ấy.

PV: Vậy đổi mới tư duy, hay trao công thức tư duy vào tay sinh viên được thể hiện như thế nào?

GS VVH: Đầu tiên, các thầy cô, trường lớp hãy dạy cho họ - những người trẻ tuổi, trẻ lòng ấy ý thức phấn đấu vươn lên, không nản lòng trước khó khăn, vấp váp. Trên cơ sở này, họ sẽ hình thành được một thế giới quan tích cực, nhận thức được những giá trị chân – thiện – mỹ để bước tới. Cái đích cuối cùng là giúp cho họ luôn có ý nghĩ: Kiến thức là quà tặng chứ không phải là nhiệm vụ ngán ngẩm.

Thứ hai, điều mà sinh viên chúng ta vẫn còn rất thiếu và cần phải khắc phục sớm là họ thiếu đi một tư duy phê phán và phản biện. Giáo dục nhồi nhét thì dẫn đến “vô văn hóa”, không hữu ích, không có hiệu quả. Để tránh điều này, tại sao chúng ta không dạy sinh viên cái nhìn phê phán để tư duy có thể va đập mà ngộ ra chân lý? Có không ít sinh viên Việt Nam thường làm ngơ trước những điều mình chưa hiểu?

Thứ ba, không kém phần quan trọng, chúng ta hãy khuyến khích khả năng sáng tạo độc lập của người học. Xét trên nhiều khía cạnh đây là cách tối ưu để đổi mới phương pháp học theo hướng tích cực hóa người học

PV: Đã nhiều năm nay, giải pháp “sinh viên chấm điểm giảng viên” (một giải pháp quan trọng và rất hiệu quả ở các ĐH Châu Âu, Mỹ, Nhật, Hàn Quốc…đã áp dụng) liên tục được đề nghị áp dụng vào các trường ĐH nhưng vẫn chưa được thực hiện. Ông có nghĩ đó là một giải pháp hay để “chế tài”, khuyến khích giảng viên đổi mới phương pháp giảng dạy tích cực hơn nữa?

GS VVH: Chuyện “sinh viên chấm điểm giảng viên” thật ra mới chỉ được làm thử nghiệm thí điểm ở một số trường, và cũng chỉ lấy ý kiến của sinh viên ở một số môn, đối với một số thầy. Những ý kiến này được xem như để tham khảo, chứ chưa phải một cơ chế để đánh giá.

Bởi vậy, nếu chúng ta coi đó là chế tài để kích thích giảng viên đổi mới phương pháp giảng dạy thì không phải. Hơn nữa, trong thời gian tới, chỉ khoảng 1, 2 năm nữa rất nhiều trường đại học sẽ tiến hành giảng dạy theo tín chỉ - một môn có thể có vài ba thầy dạy và sinh viên sẽ được chọn giảng viên theo ý mình. Hy vọng đó là bước đầu tiên để “kích cầu” cả nền giáo dục nước ta hiện nay.

PV: Xin cảm ơn ông!

Số lượt đọc:  5610  -  Cập nhật lần cuối:  26/10/2008 01:26:15 AM
  Trao đổi/Nhận xétTổng số:  5
CÁI TÔI VÀ NHẬN THỨC
DO VAN HUNG  - Email:  dovanhung88@yahoo.com   (25/01/2009 12:43:42 PM)
Rất nhiều sinh viên coi việc học là một nhiệm vụ ngán ngẩm, là một sinh viên tôi cảm nhận rất rõ điều đó... Tất cả do xuất phát từ quá trình nhồi nhét kiến thức? Do sinh viên cảm nhận và những vấn đề như "điểm số...". Dẫn đến tình trạng học của sinh viên như bây giờ. Tôi cho rằng đã đánh mất cái tôi cả khi sinh viên ý thức được.

Tôi nghĩ rằng giải pháp là làm sao cho sinh viên nhận thức được vị trí của họ trong những vấn đề lớn lao...
Sinh viên không chỉ cần kiến thức, mà cần cả cách nghiên cứu
Trần An  - Email:  funny_click@yahoo.com   (26/11/2008 10:23:18 PM)
Vào những năm cấp 3, tôi được thầy cô rèn luyện cách tự học. Trong giờ Toán, thầy chẳng giảng lý thuyết gì cả, mà thay vào đó là giờ "kiểm tra". Chúng tôi phải chuẩn bị kiến thức ở nhà trước mỗi buổi học, tự hiểu ý nghĩa của những mệnh đề, công thức... tìm cách giải bài tập, ngày hôm sau thầy sẽ gọi ngẫu nhiên tên trong danh sách lên làm bài, điểm số sẽ là điểm lấy vào sổ, thực. Tôi thực sự thấy biết ơn thầy Toán cấp 3 của mình, bởi thầy đã truyền đạt kiến thức cho chúng tôi một cách rất riêng.

Cả thầy dạy Lý của tôi cũng thế, phải tự đọc sách rồi tự thắc mắc, sau đó thầy mới giảng cặn kẽ lại.
Khi lên đại học thì tôi bị hụt hẫng. Bị sốc. Bởi cách dạy "đọc, chép". Tôi theo học ở một trong những trường đại học chất lượng nhất nước. Thầy dạy Hóa hiện tại của tôi có thói quen hay nói câu này "Do số tiết học bị rút ngắn lại nên những phần này chỉ nên cưỡi ngựa xem hoa thôi" Tôi thực sự không hiểu chúng tôi thực sự được truyền đạt những gì?

Thầy dạy môn đại cương ngành của tôi là một trong các giảng viên mà tôi kính trọng nhất từ khi bước vào giảng đường đại học. Không chỉ những bài giảng trực tiếp phối hợp chiếu slide của thầy, mà còn cách thầy hướng dẫn chúng tôi tự tra cứu sách. Thế nhưng "lửa" của thầy dường như vẫn chưa đủ lớn. Những gì thầy giảng có vẻ hơi nhàm đối với ai đã đọc kỹ sách. Lớp học thì các bạn khá thụ động, không sôi nổi lắm.

Tôi nghĩ một trong các lí do mà sinh viên ngày nay chán đến giảng đường là do cách đào tạo. Chúng tôi là những người trẻ, chúng tôi "thèm" sự mới mẻ. Chúng tôi đâu cần những buổi thực hành làm việc như một cái máy, để rồi thi, chấm điểm, sau đó quên hết? Chúng tôi đâu cần những tiết học, dồn cả đống kiến thức vào đầu, để rồi quên, rồi học lại?

Khi tôi kể cách dạy và học tại đại học Việt Nam cho một số bạn bè tôi đang du học ở một số nước tiên tiến như Mỹ, Canada, hay Anh, bạn tôi đều cười và bảo " Thời nào rồi mà còn cách học ấy?". Tôi cũng tự hỏi "Thời nào rồi?"
XIN HAY MOT LAN NHIN THANG THAN
MINH TUE  - Email:  ojosycorazon@yahoo.com   (07/11/2008 10:56:12 AM)
Quả thật giáo dục đại học của Việt Nam hiện nay có quá nhiều bất cập. Có lẽ bất cập lớn nhất là phương pháp giảng dạy.

Nếu một lần các bạn đến giảng đường của một trường Đại học trong những giờ như Chủ nghĩa xã hội khoa học, Lịch sử Đảng...thì sẽ thấy không khí ở đó như thế nào? Có lẽ người ta nghĩ rằng sinh viên Việt Nam khổ sở quá không có thời gian để ngủ nên phải tranh thủ ngủ trong giờ học. Thầy giảng cứ giảng còn trò ngủ dưới có rất nhiều cách để nghe giảng phong phú: vừa ngủ vừa nghe, vừa làm bài tập vừa nghe, vừa buôn vừa nghe, vừa nhắn tin vừa nghe, vừa chụp ảnh vừa nghe. Không phải họ không muốn học mà học phương pháp giảng dạy của thầy sao mà không thể lọt qua đầu họ.

Còn chưa nói đến giáo trình, những gì dạy hiện tại có lẽ không còn phù hợp với tình hình hiện tại. Lịch sử ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam bất cứ một sinh viên nào cũng đã học trong 12 năm ở phổ thông. Bây giờ là một sinh viên lại học lại từ đầu. Thật sự môn học này không gây được hứng thú đối với sinh viên.

Còn chưa nói đến một vài nhân tố khác, ví dụ như giọng nói của thầy, trang phục của thầy khi lên lớp cũng ảnh hưởng rất lớn đến sinh viên.

Có quá nhiều điều phải chấn chỉnh lại trong giáo dục Việt Nam.
Vì sao giáo dục vẫn nhồi nhét ?
Bùi Thị Mỹ Duyên  - Email:  btmduyen8kt1@yahoo.com   (27/10/2008 08:22:12 PM)
Là một sinh viên năm hai, khi được đọc những suy ngẫm của giáo sư về vẫn đề trên, em tự hỏi vì sao chương trình đạo tào Đại học lại nhồi nhét quá nhiều kiến thức trong một thời gian có hạn. Quả thật có rất nhiều kiến thức, kỹ năng cần học, thế nhưng nếu với thời gian ngắn ngủi vậy liệu bao nhiêu phần trăm sinh viên thật sự lĩnh hội được những kiến thức được học?

Một sự thật không thể phủ nhận là chất lượng đào tạo bậc đại học nước ta còn rất nhiều hạn chế, chạy theo chương trình , học xem hoa ngắm cảnh , đối phó với các kỳ thi. Thi xong thì chẳng còn gì , vậy học để làm gì? Có lần lật lại tài liệu đã thi kết thúc học phần và tự hỏi một bài tập tương tự trong thực tế liệu em có thể giải không, em đã mất một thời gian để nghiền ngẫm lại những gì mình đã học, dường như tất cả chỉ là một môn học có công thức tính toán cho từng bài, em hỏi em học sai phương pháp ư, thế thì học như thế nào? Trong một học kỳ có khoảng 7-8 môn thời lượng tuỳ môn có 2,3,4,5,6tiết/tuần. Đọc lý thuyết chưa thực sự hiểu vấn đề, làm sao có thắc mắc hay cơ hội nghiên cứư thực tế,chưa kể bị áp lực bởi điểm số nếu không học sẽ rớt... áp lực cuộc sống,cá nhân,... thiếu trang thiết bị giảng dạy. Có những buổi đi vào học nhưng thầy chưa chuẩn bị giáo trình kỹ, cứ hỏi đúng không các em? Cả buổi chỉ 1 bài tập chẳng xong, lớp học thì quá ồn, có thể nói đây là do ý thức sinh viên chưa cao, thế tại sao sinh viên lại như vậy?

Có lẽ đấy là những suy nghĩ còn nông cạn của em về những gì em trải qua, em rất mong tìm được câu trả lòi cho mình.
Một bài phỏng vấn hay
Trần Công Bằng  - Email:  bangvbcp@gmail.com   (27/10/2008 10:59:14 AM)
Khi còn là học sinh phổ thông, một cách vô tình tôi đã có tác phong tự học do bố tôi và anh tôi đã để lại rất nhiều tạp chí Văn học, báo Văn nghệ, toán học và tuổi trẻ, Kvant của Liên xô. Tôi được lạc vào thế giới của tư tưởng, vẻ đẹp kỳ diệu của các con số và biểu thức toán học. Tôi nhớ như in thày giáo dạy toán cấp 3, trong một tiết dạy toán quỹ tích đã nói rằng: Với bài học này thày chỉ dạy cho các em hết 5 phút. Nhưng thày và các em cùng nhau tìm ra cách giải bài toán quỹ tích đó.

Nhưng khi vào Đại học, tôi bị rơi vào cảm giác hẫng hụt: Thày đọc, trò chép, rất ít hội thảo, ít đề tài nghiên cứu, không tham khảo tạp chí chuyên ngành. Khi ôn thi thày cho vài chục câu hỏi, đến buổi phụ đạo học sinh "tán" thày xin bớt câu hỏi này rồi xin bớt câu kia theo cái cách câu này liên quan đến câu kia nên nếu câu này được bớt thì câu kia cũng nên bớt (mà tôi gọi là chiến thuật "con rắn vuông"). Có vấn đề cần tranh luận thì thày lại cho rằng tôi hay cãi thày.

Thật là buồn cho nền giáo dục ĐH mà chỉ tạo ra các học sinh cấp 4
  Ý kiến của bạn về bài viết:
GS-TS Vật lý Vũ Văn Hùng- Phó Trưởng phòng Sau Đại học (ĐH Sư Phạm Hà Nội)
Bài mới:  
Bài khác:
Liên kết web
Trang chủGiới thiệuLiên hệ