Về nhân vật lịch sử Phan Châu Trinh (1872 - 1926) trước đây đã có nhiều người nghiên cứu, nhất là về vai trò, vị trí của ông đối với phong trào cách mạng đầu thế kỷ. Tuy nhiên, do phương pháp, trình độ nhận thức, cững như do hạn chế về tư liệu mà sự đánh giá về ông cũng có nhiều điểm chưa thỏa đáng. Vấn đề Phan Châu Trinh trong điều kiện cho phép hiện nay đặt ra trước các nhà nghiên cứu nhiều khía cạnh mới mẻ. Trong bài viết này chúng tôi cố gắng tìm hiểu những đóng góp của ông vào sự thức tỉnh dân tộc đầu thế kỷ XX như là một thử nghiệm, một sự lựa chọn con đường phát triển cho dân tộc.
Có thể nói suốt cả cuộc đời, Phan Châu Trình đã kiên trì thực thi theo một chủ thuyết. Kể từ khi theo các đồng chí tham gia chuyến Nam du, cho đến khi từ Pháp trở về Sài Gòn và mất ở đây, ông vẫn ôm ấp cao vọng: khôi phục lại độc lập dân tộc, khôi phục chủ quyền cho đất nước. Muốn thế, trước hết phải thức tỉnh dân tộc, làm cho dân tộc thoát khỏi hôn mê của độc hại chuyên chế cổ hủ. Một trong các con đường đi tới là nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí, cải thiện đời sống nhân dân. Đây là con đường đấu tranh công khai hợp pháp, dần dần đưa dân tộc đi lên. Phải dựa vào chính sách "khai hóa văn minh" để công khai đấu tranh đòi các quyền dân chủ. Nhiệm vụ to lớn, lâu dài là làm cho dân ý thức được các quyền của mình, làm cho quyền dân chủ được thấm sâu, lan rộng đến mọi người.
Cùng với hai đ/c là Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp, Phan Châu Trinh cho rằng phải tìm kiếm một con đường đi lên cho dân tộc khác với con đường đấu tranh vũ trang bất hợp pháp. Phải kiên nhẫn tuyên truyền giáo dục cho nhân dân hiểu rõ, toàn dân một ý để đến ngày "đông tay vỗ nên bộp" **. Không thể nôn nóng đặt ra mục tiêu độc lập dân tộc ngay mà phải đi dần đến mục tiêu ấy theo kiểu "Ngu công dời núi", “Tinh vệ lấp biển" . Đó là chủ thuyết đấu tranh công khai đòi cải cách xã hội dân dần.
Chủ thuyết có vẻ ôn hòa này của các ông đã được nhân dân khắp ba kỳ hướng theo, dấy lên một phong trào Duy Tân rộng lớn. Chính quyền thực dân phong kiến hoảng sợ dồn phong trào trong máu lửa. Sự kiện này đánh dấu sự thức tỉnh của dân tộc, sự chuyển mình đấu tranh hướng theo ngọn cờ dân chủ tư sản, đánh dấu một giai đoạn mới khác trước về chất lượng. Quan niệm máy móc trước đây khi nghiên cứu Phan Châu Trinh là cố gắng quy tìm lập trường giai cấp của ông. Đi theo hướng này, hoặc cho rằng ông đang ở lập trường tư sản, hoặc cho rằng về thực chất ông vẫn là nhà nho phong kiến. Bởi vậy, nên thường chỉ thấy mặt hạn chế mặt tiêu cực, của lập trường hai giai cấp này, thể hiện các yếu điểm trong chủ thuyết và hành động của ông.
Ngày nay, đang ở giác độ tiến bộ xã hội, nếu chú ý nghiên cứu kỹ yêu cầu cụ thể của xã hội Việt Nam tại thời điểm ông sống, ta sẽ nhìn thấy đúng mức tầm chuyển hướng tư duy cho dân tộc của ông, từ một lối tư duy truyền thống, tư duy nông nghiệp phong kiến trì trệ khép kín sang tư duy cận đại hướng ra bên ngoài, hướng tới những giá trị mới mẻ của các nền văn minh cao hơn, phù hợp với hướng chung của thế giới.
Việc lựa chọn hướng đi của Phan Châu Trinh không phải là một sự ngẫu hứng mà được suy ngẫm, đúc rút từ những kinh nghiệm đấu tranh của bản thân, quê hương, dân tộc. Như ta đã biết, ông đã từng theo cha tham gia phong trào võ trang chống Pháp và đã tận mắt chứng kiến kết cục đau thương của phong trào này. Bản quán quê hương và gia đình đã phải ly tán, chia lìa vì mang tội "theo nghịch đảng". Ông đã quay về với sách vở thánh hiền, tham gia vào quan trường, không phải để "vinh thân phí gia" mà để thực thi chí lớn cứu nước an dân, nên đã có một cái nhìn thực tế về thực chất sự hư hại của chế độ đương thời. Do có óc quan sát đặc biệt sâu sắc và tinh tế mà ông đã đi tới quyết định trên, khác xa với những người đương thời với ông.
Ngay từ 1905, cùng một hướng Nam du để khảo sát thực tiễn, bắt mạch sĩ khí dân tình, nhưng Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh lại đi tới những kết luận khác nhau. Phan Bội Châu căn cứ vào sự nhiệt tình, hăng hái chống Pháp của dân Nam để cho rằng, lòng dân Nam chịu ơn chúa Nguyễn đã nhiều, vẫn hằng thờ chúa cũ. Đây là đất chứa tiền của của cả đất nước, muốn làm bạo động võ trang ắt cần tới sự ủng hộ tài chính của dân Nam. Do vậy cần dựng một vi hoàng tộc làm minh chủ để tranh thủ sự ủng hộ nhân tài vật lực ở đây. Cũng tại thời điểm này, Phan Châu Trinh lập luận khác rằng, lòng người dân Nam yêu nước chưa bao giờ hết. Chỉ có chế độ quân chủ chuyên chế quan liêu với hệ thống khoa cử cổ hủ của nó là chất độc dược làm chết lòng! Bởi vậy, việc đầu tiên là phải đánh tan tư tưởng quân chủ cổ hủ, phải đánh tan mộng khoa cử, mới mong phục hồi lại hồn nước, từ đó mới dần đi tới độc lập tự chủ.
Tuy khác nhau về trình tự, nhưng sự thống nhất về đích đi tới của hai ông đều là khôi phục độc lập dân tộc. Chính cụ Huỳnh Thúc Kháng là người hiểu hai cụ hơn ai hết đã nhận xét là hai con người, hai khuynh hướng "tương phản nhi tương thành".
Trước đây, bởi ảnh hưởng quan niệm tuyệt đối hóa coi bạo lực cách mạng chỉ là bạo lực võ trang, và biện pháp đấu tranh cách mạng chỉ là đấu tranh võ trang, mà có nơi có lúc, chúng ta không chú ý khai thác cống hiến của cụ Phan Châu Trinh. Thậm chí, có người còn cho cụ là sợ Pháp, sợ vũ khí tối tân, người đại diện cho giai cấp tư sản dân tộc yếu ớt bạc nhược, nên đã lựa chọn con đường “cách mạng cải lương". Ngay ở khái niệm cải lương này cũng là vấn đề phải xem lại.
Nếu như theo quan niệm phổ biến trước đây, để tuyệt đối hóa sự đối lập không khoan nhượng giữa cải lương và cách mạng, thì cải lương phản động là tư sản, phải đấu tranh đến cùng, chống mọi biểu hiện cải lương. Khi đánh giá cụ Phan Châu Trinh là cải lương vô hình trung chúng ta đã khoác cho cụ một cái áo không vừa. Thực tế lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ XX đã nảy sinh ra một yêu cầu dân tộc tiến lên con đường mới. Cụ Phan Châu Trinh là nhà yêu nước chủ trương mới, canh tân nhằm phát triển đất nước. Nếu cứ theo con đường cũ, thì nước không thể không mất vào tay ngoại bang. Bấy giờ, chủ quyền ta đã lọt vào tay thực dân Pháp, thực lực của ta thì yếu kém đủ đường, nếu tiếp tục con đường bạo động võ trang, ắt cũng sẽ thất bại! Phát hiện con đường mới - con đường cách mạng ôn hòa để nâng cao trình độ dân tộc lên mức mới, là công lớn của ông. Điều này đặc biệt có ý nghĩa khi mà cả dân tộc vừa mới trải qua một cuộc chống trả quyết liệt theo kiểu phong kiến cũ và không khỏi thất bại.
Khi một không khí thất bại bao trùm đất nước thì những bài thơ của ông, đặc biệt là bản "Tỉnh quốc hồn ca” đã có sức thổi bạt luồng tà khí đang vây bủa, để thức tỉnh hồn nước đang hồi mê ngủ. Nhiều lần ông khêu gợi lòng tự hào chính đáng cho dân nước:
"Ngồi mà nghĩ dư đồ Hồng Việt Ta cũng là một nước Á đông Xưa nay vẫn chán anh hùng… (1)
Đất nước có lịch sử oai hùng, văn hiến rực rỡ mà sao để lọt vào tay người. Lý giải nguyên nhân mất nước ông cho là do bởi:
Vua ngồi thăm thẳm cung sâu Một đời chỉ biết đè đầu dân đen Dưới đại thần đua chen tước lộc Ngoài trăm quan hì hục thân danh... (2)
Và do mặt khác nữa là trình độ mọi mặt của dân ta thấp kém thua sút so với các nước khác trên thế giới nên khi tố cáo thực dân phong kiến Phan Bội Châu nhằm mục đích kích thích lòng căm thù giặc ngoại xâm, kêu gọi đồng bào đoàn kết nổi dậy đánh thực dân Pháp. Phan Châu Trinh đã phân biệt có những người Pháp văn minh. Ông còn tập trung tố cáo những tệ nạn ở chốn hương thôn, quan trường, vua quan bù nhìn tượng gỗ. Mục đích lúc này của ông là vạch chỉ cho nhân dân ta thấy rõ tính chất thối nát bất hợp lý của thượng tầng kiến trúc đương thời. Điểm mới này rất có ý nghĩa.
Bởi vì, cho đến tận trước khi xã hội Việt Nam đối diện với Phương Tây, qua một thời gian hết sức lâu dài, kiến trúc ấy đã tỏ ra có tính hợp lý cao, nó bảo đảm duy trì trật tự xã hội theo hình chóp nón, có độ ổn định tương đối. Trong xã hội cũ đã ăn sâu một tư tưởng coi trật tự đó là tiền định, được chế định bởi một lực lượng siêu nhân, có thể coi như là quy luật, Phan Châu Trinh hiểu rất rõ tính chất "thâm căn cố đế" của tư tưởng này. Ông dốc sức vào đả phá, vạch trần trật tự của chính thể đó là:
Vua tôn như thánh như thần Phận tôi rơm rác, phận dân trâu bò (3)
Ông chỉ rõ, đây là chính thể độc tôn, độc đoán. Vua có quyền tối thượng về cả lập pháp, hành pháp và tư pháp. Chính thể chuyên chế bóp nghẹt mọi nhân quyền và dân quyền, mọi con tim và khối óc:
"Cấm chẳng cho hỏi han việc nước Cấm chẳng cho ao ước thở than… (4)
Khắp chốn công quyền đầy rẫy tệ nạn:
"Người cương trực lo lui bước trước Lũ nịnh tà lần lượt đầy sân Thói tham lam nhuộm sâu đến tủy Thói tham quan như đĩ tham tiền (5)
Như thế, tại thời điểm đen tối ấy, ông đã biết đặt vấn đề phát triển, tồn vong của dân tộc vào một xu hướng rộng lớn hơn của thế giới, của khu vực đó là xu thế dân chủ tư sản. Để tìm hướng đi mới ông đã suy nghĩ về điểm mạnh, điểm yếu của dân tộc mình khi so sánh với các nước láng giềng, với phương Tây. So sánh đổi chiếu không phải là một, nhưng Phan Châu trinh đã biết vượt qua lối suy nghĩ tập tổ, “Hoa hạ man di”, vượt qua cả trình độ suy nghĩ tiểu nông hạn hẹp, dám vươn tới những mẫu hình kiến trúc mới, đặt ra vấn đề thay đổi thể chế, một việc “phạm thượng” chưa từng có trong lịch sử tư tưởng của dân tộc. Không chỉ vì trật tự Vua - Quan kiểu phong kiến đã từng kéo dài hàng trăm nghìn năm, mà điều lưu ý nữa là chế độ thực dân đang cố tình duy trì trật tự ấy, để làm công cụ cho chúng áp chế nhân dân. Tầm vóc tư tưởng của ông phải được nhìn nhận ở khía cạnh đó nữa.
Tuy nhiên, trên thế giới lúc bấy giờ vấn đề dân quyền, nhân dân đang là những làn sóng sôi nổi, dội vào cả phương Đông thức tỉnh dân tộc Việt Nam. Điểm khác ở chỗ, bấy giờ Việt Nam đã mất chủ quyền, nhân dân bị giam trong ngục tối, nhưng là người hết lòng yêu nước, ông đã dũng cảm, dám chỉ ra con đường dân tộc tiến lên. Suốt cả cuộc đời ông lúc được tự do hay cả lúc bị giam cầm, khi ở Việt Nam hay ở Pháp, tất cả đều nhằm một mục đích phấn đấu làm cho dân nước thấy rằng mình có quyền, cần hướng theo tôn chỉ mới:
Công quyền là thánh tự do là thần Khắp thế giới toàn dân làm chủ (6)
Cùng với các đồng chí của mình, hòa với dòng tư tưởng cách tân đổi mới xã hội, hướng tới những giá trị chung phổ biến, đang có ý nghĩa cấp thiết đối với nhân dân Việt Nam. Phan Châu Trinh đã không tiếc sức mình tuyên truyền cổ vũ cho nền dân chủ. Do điều kiện lịch sử lúc đó và do cả những hạn chế của bản thân ông mà tư tưởng dân chủ này còn nhiều điểm đơn giản và gò ép Nho hóa. Dù thế nào chăng nữa việc đưa ý thức dân quyền thật sự là một cống hiến vào sự thức tỉnh dân tộc đầu thế kỷ XX.
Như trên đã nói, ông chủ trương cải cách đổi mới xã hội. Bởi vì nếu có như cũ thì dân nam chỉ có nước chết. Họ sẽ nổi dậy đấu tranh vũ trang. Đây là con đường chết, vì nước Việt Nam là nơi nước Pháp thâu lợi quyền và do đó nước Pháp sẽ mất lợi quyền. Ông khuyên chính phủ Pháp hãy thay đổi chính sách chính trị ở Việt Nam để có thể duy trì lợi quyền của cả hai nước. Đây là cơ sở của thuyết ỉ Pháp cầu tiến bộ của ông. Thực tế đã chỉ ra đó chỉ là ảo tưởng. Hy vọng ở thiện chí của chính truyền thực dân là một khả năng không có hiện thực.
Để thức dậy hồn nước, Phan Châu Trinh còn đặt ra vấn đề phản ánh rất sâu vào Nho giáo, vào nọc độc khoa cử, xương sống của nó, đả phá trật tự tiên thiên vua quan cũ kỹ. Ông dành nhiều thời gian, sức lực cho việc hạ bệ mẫu người nho sĩ đương thời với nguyên lý cũ cho rằng "Sĩ nhất tứ dân". Đối với ông, đây chẳng phải như vậy mà là bóng người:
Chẳng qua là quơ quào ba chữ May ra rồi ăn xớ của dân (7)
Ông đề ra nhiệm vụ phải xóa bỏ nhân sinh quan cũ kỹ của loại này, bắt tay vào xây dựng những quan niệm con người lý tưởng mới có trí tuệ cao xa, mang màu sắc người hùng của giai cấp tư sản đang lên. Nhưng nhìn kỹ ta vẫn còn thấy phảng phất ở đây hình ảnh người quân tử với những phẩm cách cáo đẹp cổ truyền như nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Đi sâu vào tầng sâu nhất của đời sống tinh thần ông đã biết đặt vấn đề xây dựng phong tục tập quán mới tốt đẹp, chống lại những thói hư tật xấu ở chốn hương thôn mà nhiều người đã nói tới!
Càng nhận thấy tính chất ưu trội của một nền văn hoá mới cao hơn, ông càng thấy phải hướng nhân dân mình theo đó, vừa cố gắng duy trì những phẩm giá tốt đẹp của văn hóa cổ truyền. Bởi vậy mà có người nói ông phê phán Nho nhưng lại đứng trên lập trường Nho. Thực ra không phải như thế, bởi vì, so với các nguyên lý Nho giáo ông đã có bước tiến vượt về căn bản, như trên đã nói. Bên cạnh đó những giá trị nhân đạo, đạo đức cá nhân của Nho giáo vẫn có ý nghĩa phù hợp trong mọi thời đại, phải kế thừa và phát triển. Đây là sự tiếp thu có phê phán rất đáng trân trọng của ông.
Khác với "Lễ trị”, “Đức trị” của Nho giáo, ông chủ trương lấy pháp luật làm chuẩn mực để điều hành xã hội: ông coi Rútxô, Môngtétxkiơ là những tiền bối, sách của họ được coi là sách gối đầu giường. Ông coi học phương Tây là cần thiết, nhưng ông cảnh tỉnh luôn những người học phương Tây một cách thụ động, máy móc. Với loại sùng ngoại vô lối này, ông nói bọn họ là hủ Tây. Hủ Tây và hủ nho, đều là hạng người dân nước cần sớm lìa xa, kẻo vạ cho dân nước. Nhìn lại khoảng đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam ở thời kỳ bi đát nhất, không có lối ra, trên thì cính quyền thực dân có đủ mọi mánh khóe dã man khôn khéo, giữa thì bọn tham quan ô lại mất hết tính người, dưới nữa dân ta lầm than, trình độ hết sức thấp kém, lạc hậu. Mọi nẻo đường hầu như đã bị chặn đứng. Không bó tay chờ chết, Phan Châu Trinh và các đồng chí của mình đã không tiếc sức vạch ra một hướng đi, theo dòng tư tưởng canh tân đất nước trước đây, hướng dân tộc phát triển mạnh theo con đường tư bản chủ nghĩa, hòng dần dần đưa nước ta hòa nhập vào dòng văn minh chung của thế giới. Nhân dân đã không nhầm khi đi theo ngọn cờ của các ông. Về mọi mặt dân tộc Việt Nam đã có những nhảy vọt, từ phạm trù tư duy phong kiến truyền thống sang phạm trù tư duy thời cận đại, chuẩn bị cho những bước tiếp theo.
Nhln chung, những phát hiện, đóng góp của ông có ý nghĩa tiếp nối chủ nghĩa yêu nước truyền thống, khơi dậy những giá trị tốt đẹp. Ông là đại biểu xuất sắc cho tầng lớp tri thức tiến bộ chuyển hướng tư duy dân tộc sang một thời kỳ mồi một cách chủ động tích cực, xứng đáng là nhà dân chủ tiên khu của Việt Nam đầu thế kỷ XX này.
** Quan niệm xuyên suốt của Phan Châu Trinh
(1) Thơ Phan Châu Trinh, Nxb Văn học, Hà Nội, 1983, tr. 128.
(2) Sách đã dẫn, tr.238.
(3) (4) (5) Sách đã dẫn, tr. 238, 249.
(6) Sđđ, tr. 249.
(7) Sđđ, tr. 131. Nguồn:
Tạp chí Triết học Số lượt đọc:
6217
-
Cập nhật lần cuối:
06/09/2008 05:27:55 PM
Ý kiến của bạn: |  | | Phan Châu Trinh (1872 - 1926) |
Thông tin liên quan: Tâm lý dân tộc với cuộc cải cách hành chính hiện nay18/03/2008 06:41' PM Trong số những cái mà người phương Ðông học ở người phương Tây thì nền Hành chính công là cái đáng học nhất, sau những cái tân tiến khác về kỹ thuật. Bộ máy hành chính Tây phương cho thấy hai ưu điểm rõ nhất: tinh giản và hữu hiệu. Ðó là cái hấp dẫn người Ðông phương cũng giống như các máy móc khác, vừa tốn ít người, vừa năng xuất cao... 100 năm Đông Kinh Nghĩa Thục: Trong cái nhìn hôm nay23/09/2007 09:18' AM Cái nhìn của một số trí thức thời nay về phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục. Ngẫm chuyện xưa để nói chuyện nay - con đường phát triển dân tộc... Nhà chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng: Học để làm người28/04/2007 04:28' PM Theo cụ Huỳnh Thúc Kháng: Cái trường học để "làm người" đó tức là cái cõi đời ta vậy. Bao nhiêu sự khốn khó ở đời, bao nhiêu sự kinh nghiệm người trước để lại đều là những bài dạy cho ta. "Làm người" ở đời đã khó như trên đã nói, thì "học làm người" chắc không phải chuyện dễ"... Phan Châu Trinh - cuộc đời và sự nghiệp15/03/2007 04:58' PM Phan Châu Trinh là một nhân vật lịch sử tiêu biểu trong phong trào cách mạng Việt Nam hồi đầu thế kỷ XX. Từ trước đến nay đã có nhiều người trong nước và nước ngoài nghiên cứu về Cụ. Trong dịp dâng hương tưởng niệm 80 năm ngày mất của cụ, thiết tưởng việc ôn lại cuộc đời và sự nghiệp Phan Châu Trinh để rút ra những bài học cho hôm nay cũng là một việc làm cần thiết và bổ ích... Chủ nghĩa dân tộc của Phan Bội Châu dưới nhãn quan triết học04/02/2007 09:28' AM Chủ nghĩa dân tộc của Phan Bội Châu được hình thành trên những nguyên lý triết học mà ông coi là nền tảng, như lẽ sống chết, quan hệ giữa lý và khí, tự do và bình đẳng, độc lập và tự cường dân tộc... Chủ nghĩa dân tộc của Phan Bội Châu đã vượt qua giới hạn tầm nhìn Nho giáo, tiếp thu các giá trị tư tưởng phổ biên của thời đại để đi đến hai mục đích lớn là giải phóng dân tộc và xây dựng một nước Việt Nam mới... Triết học không còn là đặc sản của những "thiên tài"…01/10/2008 10:52' AM (TT&VH) - Bùi Văn Nam Sơn sinh năm 1947 tại Vĩnh Trinh, Duy Xuyên, Quảng Nam, từng học khoa Triết, Đại học J. W. Goethe, Frankfurt/M, CHLB Đức. Trong khoảng 5 năm trở lại đây, khoảng 15 tác phẩm do ông dịch, chú giải, hoặc giới thiệu, chú thích, hiệu đính… được giới học thuật và bạn đánh giá rất cao. Sau ba quyển Phê phán của I. Kant và Hiện tượng học Tinh thần của Hegel, nay ông vừa cho ra mắt bản dịch và chú giải quyển Khoa học Lôgíc của Hegel (NXB Tri thức, 2008). TT&VH có một cuộc trò chuyện đặc biệt với ông. Một vài suy nghĩ về vai trò triết học Hegel và “ý niệm tuyệt đối” của ông16/09/2008 08:09' AM Triết học Hêgen là một thứ "chủ nghĩa duy tâm thông minh", có những "hạt nhân hợp lý" và rất có giá trị, trở thành một trong những tiền đề trực tiếp của chủ nghĩa Mác, được các học giả và các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đánh giá rất cao... Gặp “ông chủ” Viet-studies13/09/2008 09:43' AM Các “fan” bất ngờ gặp ở Press Café trong cơn mưa lạ Sài Gòn. Hiểu vì sao trên trang web được coi như bộ lọc tri thức lớn nhất, có dòng báo cáo: “Cho đến ngày 16.8 trang này không được cập nhật thường xuyên – người làm trang về quê”. Vị khách cao gầy, áo pun giản dị, kêu “1 ly cà phê đá lớn” – giáo sư tại Mỹ nổi tiếng nhưng khiêm nhường - Trần Hữu Dũng... Nghĩ về người tri thức12/09/2008 09:05' AM Từ đòi hỏi phát triển của xã hội hiện đại mà hiểu sâu hơn cái logic của tư duy truyền thống khi đặt kẻ “ sĩ” đứng đầu trong thang bậc phận vị xã hội khi các cụ ta từng hiểu rõ “ phi thương bất phú, phi công bất hoạt, phi nông bất ổn, phi trí bất hưng”. Khi tiến trình phát triển và hội nhập của đất nước đi vào chiều sâu, vấn đề tri thức và trí thức càng nổi rõ... Sức sống của triết học Mác trong xã hội hiện đại09/09/2008 07:54' PM Bản chất khoa học và cách mạng của triết học Mác được thể hiện trước hết ở thế giới quan và phương pháp luận của triết học Mác là kim chỉ nam cho hoạt động nhận thức và cải tạo xã hội. Thứ hai là sự thống nhất hữu cơ giữa lý luận và thực tiễn là nguyên tắc nền tảng của triết học Mác. Thứ ba, triết học Mác là sự thống nhất giữa tính mở, tính phát triển của hệ thống lý luận và tính ổn định của lập trường duy vật biện chứng và những phương pháp luận cơ bản của nó. Đó là những giá trị vĩnh hằng của triết học Mác... Tại sao phải đọc những tác phẩm khoa học thời Cổ đại06/09/2008 04:49' PM Tôi có thể hiểu được vì sao ông đưa các thi sĩ, triết gia, sử gia cổ đại vào trong chương trình đọc và thảo luận những tác phẩm vĩ đại, nhưng tôi không hiểu vì lý do gì chúng ta phải đọc những tác phẩm lỗi thời và sai lệch về sinh học, vật lý học, thiên văn học và y học được viết hơn hai ngàn năm trước Cách mạng tháng 8 và người trí thức03/09/2008 09:13' PM Kỷ niệm 63 năm Cách mạng tháng Tám – “Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa” tuổi 63, người trí thức bừng tỉnh trước nền kinh tế thị trường hội nhập toàn cầu diễn ra trên đất nước ta như một cơn lốc xoáy. Rất lâu rồi, bây giờ mới có những hội thảo, những chuyên đề về vai trò của trí thức. Mọi người đồng thanh xác định vị trí của trí thức trong các ngành... Bài khác: Tiêu chí kiểm định đạo đức con người qua tục ngữ, thơ ca dân gian Việt Nam02/11/2005 08:15' AM Tục ngữ, thơ ca dân gian Việt Nam là kết quả lao động sáng tạo, thể hiện những tài triết lý sâu sắc được đúc rút từ thực tiễn của cha ông ta. Chúng ta thấy trong đó chứa đựng nhiều việc cụ thể, hoặc nhận thức cảm tính và suy luận… Mặc dù vậy, tục ngữ, thơ ca dân gian Việt Nam cũng thừa nhận rằng, việc kiểm định đạo đức con người không phải là dễ dàng, đơn giản; song không phải vì thế mà ý nghĩa của tục ngữ, thơ ca dân gian Việt Nam giảm đi, mà trái lại, càng nói lên giá trị hiện thực của loại hình văn học độc đáo này... Triết lý môi trường01/11/2005 07:27' AM Định nghĩa hay nhất về con người xưa nay vẫn là câu nói của cổ nhân: Nhân thân: tiểu vũ trụ. Không gian Euclide là không gia ba chiều. A.Einstein đã “cắm” thêm vào không gian Euclide một chiều nữa là “chiều thời gian” (cũng là chiều lịch sử) và hình thành nên quan niệm triết học - khoa học “không gian - thời gian liên tục”. Quan niệm “Vũ trụ”, “Không gian thời gian liên tục” như thế thì con người là một “Tiểu vũ trụ” đã thống nhất, hòa đồng với “Đại vũ trụ”, thống nhất hòa đồng thế giới vĩ mô và thế giới vi mô. Đấy chính là tiền đề để ta triết lý về môi trường thời hiện đại... Về nguồn gốc triết học Việt Nam28/10/2005 07:53' AM Mặc dù một số tài liệu cả trong nước và ở nước ngoài đã nói về triết học Việt Nam (1), song một câu hỏi mà cho đến nay vẫn chưa có sự trả lời thống nhất trong giới lý luận - đó là: Việt Nam có triết học không? Nếu có thì đó là triết học gì? Nguồn gốc ra đời, sự tồn tại và phát triển cũng như vai trò của nó đối với hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của dân tộc ta như thế nào? Cảm nhận triết lý tục ngữ, ca dao27/10/2005 08:31' AM Theo một lối suy ngẫm nào đó, có thể coi những thể ngữ ca dao đọng lại cho đến bây giờ là kết quả của vô vàn những cuộc tuyển chọn, nên thường là những điều người hôm nay vẫn tâm đắc, gật gù, thấy chúng. nghiệm đúng với mình. Thế là chúng mang tính triết lý. Triết lý chẳng qua là những kinh nghiệm sống, nghiệm đúng nhiều trường hợp. Nghiệm đúng càng nhiều thì triết lý càng nâng cao... Cái tâm đời thường20/10/2005 08:06' AM Cái Tâm con người gắn với đời sống con người. Đời sống dù là của một vĩ nhân hay của một người thường thì cũng cần phải có cái đế sống, tức là phải ăn, mặc, duy trì nòi giống. Vòng đi trở lại, chả thiếu gì những kẻ cao siêu rút cuộc cũng phải thừa nhận cái đời thường thế mà hoá ra to lắm. Có người còn cho là hơn cả sự to: Sống cho trọn một cái đời thường là khó nhất... Tiến tới một triết học về hợp tác vì sự giải phóng con người16/10/2005 10:05' AM Vượt thời gian là một khả năng tuyệt vời của nhận thức. Khả năng vượt thời gian cho phép người ta có thể truy đuổi, suy ngẫm về tương lai, hay ít nhất là chuẩn bị tiền đề tâm lý để đi đến với nó. Và ngay cả những người hôm nay đã tìm ra công nghệ để đi đến tương lai nếu trong quá trình tiến đến tương lai tiếp theo, tương lai cấp hai, vẫn khư khư giữ lấy bản đồ án của tương lai thứ nhất thì cũng sẽ trở thành kẻ bảo thủ trong giai đoạn thứ hai này. Cơ sở của công nghệ đi đến tương lai là tư duy không ngừng, lựa chọn không ngừng và loại bỏ không ngừng... Tư tưởng, phong trào Khai Sáng là gì?09/10/2005 03:01' PM Phong trào Khai sáng là phong trào bắt đầu thời thế kỷ 18 ở châu Âu, coi việc tuyên truyền, phổ biến các tư tưởng tiến bộ, nâng cao các chuẩn mực đạo đức và tri thức khoa học (chứ không phải tôn giáo, điều giáo điều có sẵn) là những phương tiện quan trọng để biến đổi cuộc sống xã hội, con người, làm cho nhân loại tiến bộ. |