Về nhân vật lịch sử Phan Châu Trinh (1872 - 1926) trước đây đã có nhiều người nghiên cứu, nhất là về vai trò, vị trí của ông đối với phong trào cách mạng đầu thế kỷ. Tuy nhiên, do phương pháp, trình độ nhận thức, cững như do hạn chế về tư liệu mà sự đánh giá về ông cũng có nhiều điểm chưa thỏa đáng. Vấn đề Phan Châu Trinh trong điều kiện cho phép hiện nay đặt ra trước các nhà nghiên cứu nhiều khía cạnh mới mẻ. Trong bài viết này chúng tôi cố gắng tìm hiểu những đóng góp của ông vào sự thức tỉnh dân tộc đầu thế kỷ XX như là một thử nghiệm, một sự lựa chọn con đường phát triển cho dân tộc.
Có thể nói suốt cả cuộc đời, Phan Châu Trình đã kiên trì thực thi theo một chủ thuyết. Kể từ khi theo các đồng chí tham gia chuyến Nam du, cho đến khi từ Pháp trở về Sài Gòn và mất ở đây, ông vẫn ôm ấp cao vọng: khôi phục lại độc lập dân tộc, khôi phục chủ quyền cho đất nước. Muốn thế, trước hết phải thức tỉnh dân tộc, làm cho dân tộc thoát khỏi hôn mê của độc hại chuyên chế cổ hủ. Một trong các con đường đi tới là nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí, cải thiện đời sống nhân dân. Đây là con đường đấu tranh công khai hợp pháp, dần dần đưa dân tộc đi lên. Phải dựa vào chính sách "khai hóa văn minh" để công khai đấu tranh đòi các quyền dân chủ. Nhiệm vụ to lớn, lâu dài là làm cho dân ý thức được các quyền của mình, làm cho quyền dân chủ được thấm sâu, lan rộng đến mọi người.
Cùng với hai đ/c là Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp, Phan Châu Trinh cho rằng phải tìm kiếm một con đường đi lên cho dân tộc khác với con đường đấu tranh vũ trang bất hợp pháp. Phải kiên nhẫn tuyên truyền giáo dục cho nhân dân hiểu rõ, toàn dân một ý để đến ngày "đông tay vỗ nên bộp" **. Không thể nôn nóng đặt ra mục tiêu độc lập dân tộc ngay mà phải đi dần đến mục tiêu ấy theo kiểu "Ngu công dời núi", “Tinh vệ lấp biển" . Đó là chủ thuyết đấu tranh công khai đòi cải cách xã hội dân dần.
Chủ thuyết có vẻ ôn hòa này của các ông đã được nhân dân khắp ba kỳ hướng theo, dấy lên một phong trào Duy Tân rộng lớn. Chính quyền thực dân phong kiến hoảng sợ dồn phong trào trong máu lửa. Sự kiện này đánh dấu sự thức tỉnh của dân tộc, sự chuyển mình đấu tranh hướng theo ngọn cờ dân chủ tư sản, đánh dấu một giai đoạn mới khác trước về chất lượng. Quan niệm máy móc trước đây khi nghiên cứu Phan Châu Trinh là cố gắng quy tìm lập trường giai cấp của ông. Đi theo hướng này, hoặc cho rằng ông đang ở lập trường tư sản, hoặc cho rằng về thực chất ông vẫn là nhà nho phong kiến. Bởi vậy, nên thường chỉ thấy mặt hạn chế mặt tiêu cực, của lập trường hai giai cấp này, thể hiện các yếu điểm trong chủ thuyết và hành động của ông.
Ngày nay, đang ở giác độ tiến bộ xã hội, nếu chú ý nghiên cứu kỹ yêu cầu cụ thể của xã hội Việt Nam tại thời điểm ông sống, ta sẽ nhìn thấy đúng mức tầm chuyển hướng tư duy cho dân tộc của ông, từ một lối tư duy truyền thống, tư duy nông nghiệp phong kiến trì trệ khép kín sang tư duy cận đại hướng ra bên ngoài, hướng tới những giá trị mới mẻ của các nền văn minh cao hơn, phù hợp với hướng chung của thế giới.
Việc lựa chọn hướng đi của Phan Châu Trinh không phải là một sự ngẫu hứng mà được suy ngẫm, đúc rút từ những kinh nghiệm đấu tranh của bản thân, quê hương, dân tộc. Như ta đã biết, ông đã từng theo cha tham gia phong trào võ trang chống Pháp và đã tận mắt chứng kiến kết cục đau thương của phong trào này. Bản quán quê hương và gia đình đã phải ly tán, chia lìa vì mang tội "theo nghịch đảng". Ông đã quay về với sách vở thánh hiền, tham gia vào quan trường, không phải để "vinh thân phí gia" mà để thực thi chí lớn cứu nước an dân, nên đã có một cái nhìn thực tế về thực chất sự hư hại của chế độ đương thời. Do có óc quan sát đặc biệt sâu sắc và tinh tế mà ông đã đi tới quyết định trên, khác xa với những người đương thời với ông.
Ngay từ 1905, cùng một hướng Nam du để khảo sát thực tiễn, bắt mạch sĩ khí dân tình, nhưng Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh lại đi tới những kết luận khác nhau. Phan Bội Châu căn cứ vào sự nhiệt tình, hăng hái chống Pháp của dân Nam để cho rằng, lòng dân Nam chịu ơn chúa Nguyễn đã nhiều, vẫn hằng thờ chúa cũ. Đây là đất chứa tiền của của cả đất nước, muốn làm bạo động võ trang ắt cần tới sự ủng hộ tài chính của dân Nam. Do vậy cần dựng một vi hoàng tộc làm minh chủ để tranh thủ sự ủng hộ nhân tài vật lực ở đây. Cũng tại thời điểm này, Phan Châu Trinh lập luận khác rằng, lòng người dân Nam yêu nước chưa bao giờ hết. Chỉ có chế độ quân chủ chuyên chế quan liêu với hệ thống khoa cử cổ hủ của nó là chất độc dược làm chết lòng! Bởi vậy, việc đầu tiên là phải đánh tan tư tưởng quân chủ cổ hủ, phải đánh tan mộng khoa cử, mới mong phục hồi lại hồn nước, từ đó mới dần đi tới độc lập tự chủ.
Tuy khác nhau về trình tự, nhưng sự thống nhất về đích đi tới của hai ông đều là khôi phục độc lập dân tộc. Chính cụ Huỳnh Thúc Kháng là người hiểu hai cụ hơn ai hết đã nhận xét là hai con người, hai khuynh hướng "tương phản nhi tương thành".
Trước đây, bởi ảnh hưởng quan niệm tuyệt đối hóa coi bạo lực cách mạng chỉ là bạo lực võ trang, và biện pháp đấu tranh cách mạng chỉ là đấu tranh võ trang, mà có nơi có lúc, chúng ta không chú ý khai thác cống hiến của cụ Phan Châu Trinh. Thậm chí, có người còn cho cụ là sợ Pháp, sợ vũ khí tối tân, người đại diện cho giai cấp tư sản dân tộc yếu ớt bạc nhược, nên đã lựa chọn con đường “cách mạng cải lương". Ngay ở khái niệm cải lương này cũng là vấn đề phải xem lại.
Nếu như theo quan niệm phổ biến trước đây, để tuyệt đối hóa sự đối lập không khoan nhượng giữa cải lương và cách mạng, thì cải lương phản động là tư sản, phải đấu tranh đến cùng, chống mọi biểu hiện cải lương. Khi đánh giá cụ Phan Châu Trinh là cải lương vô hình trung chúng ta đã khoác cho cụ một cái áo không vừa. Thực tế lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ XX đã nảy sinh ra một yêu cầu dân tộc tiến lên con đường mới. Cụ Phan Châu Trinh là nhà yêu nước chủ trương mới, canh tân nhằm phát triển đất nước. Nếu cứ theo con đường cũ, thì nước không thể không mất vào tay ngoại bang. Bấy giờ, chủ quyền ta đã lọt vào tay thực dân Pháp, thực lực của ta thì yếu kém đủ đường, nếu tiếp tục con đường bạo động võ trang, ắt cũng sẽ thất bại! Phát hiện con đường mới - con đường cách mạng ôn hòa để nâng cao trình độ dân tộc lên mức mới, là công lớn của ông. Điều này đặc biệt có ý nghĩa khi mà cả dân tộc vừa mới trải qua một cuộc chống trả quyết liệt theo kiểu phong kiến cũ và không khỏi thất bại.
Khi một không khí thất bại bao trùm đất nước thì những bài thơ của ông, đặc biệt là bản "Tỉnh quốc hồn ca” đã có sức thổi bạt luồng tà khí đang vây bủa, để thức tỉnh hồn nước đang hồi mê ngủ. Nhiều lần ông khêu gợi lòng tự hào chính đáng cho dân nước:
"Ngồi mà nghĩ dư đồ Hồng Việt Ta cũng là một nước Á đông Xưa nay vẫn chán anh hùng… (1)
Đất nước có lịch sử oai hùng, văn hiến rực rỡ mà sao để lọt vào tay người. Lý giải nguyên nhân mất nước ông cho là do bởi:
Vua ngồi thăm thẳm cung sâu Một đời chỉ biết đè đầu dân đen Dưới đại thần đua chen tước lộc Ngoài trăm quan hì hục thân danh... (2)
Và do mặt khác nữa là trình độ mọi mặt của dân ta thấp kém thua sút so với các nước khác trên thế giới nên khi tố cáo thực dân phong kiến Phan Bội Châu nhằm mục đích kích thích lòng căm thù giặc ngoại xâm, kêu gọi đồng bào đoàn kết nổi dậy đánh thực dân Pháp. Phan Châu Trinh đã phân biệt có những người Pháp văn minh. Ông còn tập trung tố cáo những tệ nạn ở chốn hương thôn, quan trường, vua quan bù nhìn tượng gỗ. Mục đích lúc này của ông là vạch chỉ cho nhân dân ta thấy rõ tính chất thối nát bất hợp lý của thượng tầng kiến trúc đương thời. Điểm mới này rất có ý nghĩa.
Bởi vì, cho đến tận trước khi xã hội Việt Nam đối diện với Phương Tây, qua một thời gian hết sức lâu dài, kiến trúc ấy đã tỏ ra có tính hợp lý cao, nó bảo đảm duy trì trật tự xã hội theo hình chóp nón, có độ ổn định tương đối. Trong xã hội cũ đã ăn sâu một tư tưởng coi trật tự đó là tiền định, được chế định bởi một lực lượng siêu nhân, có thể coi như là quy luật, Phan Châu Trinh hiểu rất rõ tính chất "thâm căn cố đế" của tư tưởng này. Ông dốc sức vào đả phá, vạch trần trật tự của chính thể đó là:
Vua tôn như thánh như thần Phận tôi rơm rác, phận dân trâu bò (3)
Ông chỉ rõ, đây là chính thể độc tôn, độc đoán. Vua có quyền tối thượng về cả lập pháp, hành pháp và tư pháp. Chính thể chuyên chế bóp nghẹt mọi nhân quyền và dân quyền, mọi con tim và khối óc:
"Cấm chẳng cho hỏi han việc nước Cấm chẳng cho ao ước thở than… (4)
Khắp chốn công quyền đầy rẫy tệ nạn:
"Người cương trực lo lui bước trước Lũ nịnh tà lần lượt đầy sân Thói tham lam nhuộm sâu đến tủy Thói tham quan như đĩ tham tiền (5)
Như thế, tại thời điểm đen tối ấy, ông đã biết đặt vấn đề phát triển, tồn vong của dân tộc vào một xu hướng rộng lớn hơn của thế giới, của khu vực đó là xu thế dân chủ tư sản. Để tìm hướng đi mới ông đã suy nghĩ về điểm mạnh, điểm yếu của dân tộc mình khi so sánh với các nước láng giềng, với phương Tây. So sánh đổi chiếu không phải là một, nhưng Phan Châu trinh đã biết vượt qua lối suy nghĩ tập tổ, “Hoa hạ man di”, vượt qua cả trình độ suy nghĩ tiểu nông hạn hẹp, dám vươn tới những mẫu hình kiến trúc mới, đặt ra vấn đề thay đổi thể chế, một việc “phạm thượng” chưa từng có trong lịch sử tư tưởng của dân tộc. Không chỉ vì trật tự Vua - Quan kiểu phong kiến đã từng kéo dài hàng trăm nghìn năm, mà điều lưu ý nữa là chế độ thực dân đang cố tình duy trì trật tự ấy, để làm công cụ cho chúng áp chế nhân dân. Tầm vóc tư tưởng của ông phải được nhìn nhận ở khía cạnh đó nữa.
Tuy nhiên, trên thế giới lúc bấy giờ vấn đề dân quyền, nhân dân đang là những làn sóng sôi nổi, dội vào cả phương Đông thức tỉnh dân tộc Việt Nam. Điểm khác ở chỗ, bấy giờ Việt Nam đã mất chủ quyền, nhân dân bị giam trong ngục tối, nhưng là người hết lòng yêu nước, ông đã dũng cảm, dám chỉ ra con đường dân tộc tiến lên. Suốt cả cuộc đời ông lúc được tự do hay cả lúc bị giam cầm, khi ở Việt Nam hay ở Pháp, tất cả đều nhằm một mục đích phấn đấu làm cho dân nước thấy rằng mình có quyền, cần hướng theo tôn chỉ mới:
Công quyền là thánh tự do là thần Khắp thế giới toàn dân làm chủ (6)
Cùng với các đồng chí của mình, hòa với dòng tư tưởng cách tân đổi mới xã hội, hướng tới những giá trị chung phổ biến, đang có ý nghĩa cấp thiết đối với nhân dân Việt Nam. Phan Châu Trinh đã không tiếc sức mình tuyên truyền cổ vũ cho nền dân chủ. Do điều kiện lịch sử lúc đó và do cả những hạn chế của bản thân ông mà tư tưởng dân chủ này còn nhiều điểm đơn giản và gò ép Nho hóa. Dù thế nào chăng nữa việc đưa ý thức dân quyền thật sự là một cống hiến vào sự thức tỉnh dân tộc đầu thế kỷ XX.
Như trên đã nói, ông chủ trương cải cách đổi mới xã hội. Bởi vì nếu có như cũ thì dân nam chỉ có nước chết. Họ sẽ nổi dậy đấu tranh vũ trang. Đây là con đường chết, vì nước Việt Nam là nơi nước Pháp thâu lợi quyền và do đó nước Pháp sẽ mất lợi quyền. Ông khuyên chính phủ Pháp hãy thay đổi chính sách chính trị ở Việt Nam để có thể duy trì lợi quyền của cả hai nước. Đây là cơ sở của thuyết ỉ Pháp cầu tiến bộ của ông. Thực tế đã chỉ ra đó chỉ là ảo tưởng. Hy vọng ở thiện chí của chính truyền thực dân là một khả năng không có hiện thực.
Để thức dậy hồn nước, Phan Châu Trinh còn đặt ra vấn đề phản ánh rất sâu vào Nho giáo, vào nọc độc khoa cử, xương sống của nó, đả phá trật tự tiên thiên vua quan cũ kỹ. Ông dành nhiều thời gian, sức lực cho việc hạ bệ mẫu người nho sĩ đương thời với nguyên lý cũ cho rằng "Sĩ nhất tứ dân". Đối với ông, đây chẳng phải như vậy mà là bóng người:
Chẳng qua là quơ quào ba chữ May ra rồi ăn xớ của dân (7)
Ông đề ra nhiệm vụ phải xóa bỏ nhân sinh quan cũ kỹ của loại này, bắt tay vào xây dựng những quan niệm con người lý tưởng mới có trí tuệ cao xa, mang màu sắc người hùng của giai cấp tư sản đang lên. Nhưng nhìn kỹ ta vẫn còn thấy phảng phất ở đây hình ảnh người quân tử với những phẩm cách cáo đẹp cổ truyền như nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Đi sâu vào tầng sâu nhất của đời sống tinh thần ông đã biết đặt vấn đề xây dựng phong tục tập quán mới tốt đẹp, chống lại những thói hư tật xấu ở chốn hương thôn mà nhiều người đã nói tới!
Càng nhận thấy tính chất ưu trội của một nền văn hoá mới cao hơn, ông càng thấy phải hướng nhân dân mình theo đó, vừa cố gắng duy trì những phẩm giá tốt đẹp của văn hóa cổ truyền. Bởi vậy mà có người nói ông phê phán Nho nhưng lại đứng trên lập trường Nho. Thực ra không phải như thế, bởi vì, so với các nguyên lý Nho giáo ông đã có bước tiến vượt về căn bản, như trên đã nói. Bên cạnh đó những giá trị nhân đạo, đạo đức cá nhân của Nho giáo vẫn có ý nghĩa phù hợp trong mọi thời đại, phải kế thừa và phát triển. Đây là sự tiếp thu có phê phán rất đáng trân trọng của ông.
Khác với "Lễ trị”, “Đức trị” của Nho giáo, ông chủ trương lấy pháp luật làm chuẩn mực để điều hành xã hội: ông coi Rútxô, Môngtétxkiơ là những tiền bối, sách của họ được coi là sách gối đầu giường. Ông coi học phương Tây là cần thiết, nhưng ông cảnh tỉnh luôn những người học phương Tây một cách thụ động, máy móc. Với loại sùng ngoại vô lối này, ông nói bọn họ là hủ Tây. Hủ Tây và hủ nho, đều là hạng người dân nước cần sớm lìa xa, kẻo vạ cho dân nước. Nhìn lại khoảng đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam ở thời kỳ bi đát nhất, không có lối ra, trên thì cính quyền thực dân có đủ mọi mánh khóe dã man khôn khéo, giữa thì bọn tham quan ô lại mất hết tính người, dưới nữa dân ta lầm than, trình độ hết sức thấp kém, lạc hậu. Mọi nẻo đường hầu như đã bị chặn đứng. Không bó tay chờ chết, Phan Châu Trinh và các đồng chí của mình đã không tiếc sức vạch ra một hướng đi, theo dòng tư tưởng canh tân đất nước trước đây, hướng dân tộc phát triển mạnh theo con đường tư bản chủ nghĩa, hòng dần dần đưa nước ta hòa nhập vào dòng văn minh chung của thế giới. Nhân dân đã không nhầm khi đi theo ngọn cờ của các ông. Về mọi mặt dân tộc Việt Nam đã có những nhảy vọt, từ phạm trù tư duy phong kiến truyền thống sang phạm trù tư duy thời cận đại, chuẩn bị cho những bước tiếp theo.
Nhln chung, những phát hiện, đóng góp của ông có ý nghĩa tiếp nối chủ nghĩa yêu nước truyền thống, khơi dậy những giá trị tốt đẹp. Ông là đại biểu xuất sắc cho tầng lớp tri thức tiến bộ chuyển hướng tư duy dân tộc sang một thời kỳ mồi một cách chủ động tích cực, xứng đáng là nhà dân chủ tiên khu của Việt Nam đầu thế kỷ XX này.
** Quan niệm xuyên suốt của Phan Châu Trinh
(1) Thơ Phan Châu Trinh, Nxb Văn học, Hà Nội, 1983, tr. 128.
(2) Sách đã dẫn, tr.238.
(3) (4) (5) Sách đã dẫn, tr. 238, 249.
(6) Sđđ, tr. 249.
(7) Sđđ, tr. 131. Nguồn:
Tạp chí Triết học Số lượt đọc:
8891
-
Cập nhật lần cuối:
06/09/2008 05:27:55 PM
Trao đổi/Nhận xét | Tổng số:
1 |
Ý kiến về bài viết Đây thực sự là một bài viết có sự đánh giá khá khách quan và sâu sắc về tư tưởng canh tân, dân chủ của Phan Châu Trinh.
Nó có tác dụng cho ta thấy một cái nhìn khoa học và đa chiều về công lao của Phan Châu Trinh, giúp ta không lac hướng và nhìn sai lầm về cụ.
Cảm ơn tác giả về bài viết rất hay và có giá trị này.
Ý kiến của bạn về bài viết: |  | | Phan Châu Trinh (1872 - 1926) |
Thông tin liên quan: Nâng cao dân khí25/01/2010 04:24' PM Trong lịch sử vẻ vang của dân tộc ta, sức mạnh tinh thần của nhân dân, ở những thời điểm cụ thể, khi được phát huy cao độ, đã trở thành lực lượng vật chất vô song, làm nên những thành tự huy hoàng, trong điều kiện khó khăn tưởng chừng không làm nổi. Ý nghĩa lịch sử của tư tưởng dân chủ của Phan Châu Trinh19/07/2009 05:34' PM Sự thực, chủ nghĩa cải lương của Phan Châu Trinh là một hiện tượng nổi bật trong xã hội Việt nam vào những thập kỷ đầu của thế kỷ XX. Nó chứng tỏ Phan Châu Trinh rất quan tâm đến sự tiến bộ và tương lai của nước nhà. Chính vì vậy mà ông muốn cải tạo xã hội Việt Nam lúc đương thời theo con đường cải lương... Việt Nam cần các tư tưởng Khai sáng12/05/2009 01:45' PM Trong những bước đường đưa nhân loại tới nền văn minh hiện tại, một trong những cột mốc quan trọng là phong trào khai sáng bắt nguồn từ Âu châu, mà khởi đầu tại Anh quốc vào cuối thế kỷ 17, và tiếp sau tại Pháp, Mỹ và Nhật Bản vào các thế kỷ 18, 19. Chương III. Chức vụ không đồng nghĩa với tiến bộ của nhân loại (3)28/04/2009 08:09' PM Quan lại chức to hơn người nhưng không đồng nghĩa với giá trị hơn người. Đầu thế kỷ XX, trong triều đình Trung Quốc, nơi nổi tiếng thế giới về không khí phẩm trật quan lại, và cái ngày Tổng thống Viên Thế Khải bãi miễn việc rập đầu chào thay bằng bắt tay, tất cả các đại thần đều sửng sốt, người ta cảm thấy ngay tức thì một làn gió tinh khôi, nhẹ nhõm, nhân văn thổi qua, bởi vì, trước kia khi vào triều các quan phải quì gối rập đầu chào vua không khác gì súc vật, vậy mà thời khắc đó, họ được đứng thẳng trước người có chức vụ cao nhất, đưa tay ra bắt: thật chẳng có bao giờ có được cảm giác mình được làm người như lúc ấy. Cách ngôn luận của người Á Đông13/04/2009 04:17' PM Có người Tàu bẻ cái học thuyết Tôn Văn mà lại nhè kêu Tôn Văn là con heo, là ngu xuẩn. Người Á Đông ta, Tàu cũng vậy mà An Nam cũng vậy, không tinh thông luận lý học, cho nên trong khi ngôn luận, chẳng noi theo khuôn phép mà cứ nói già miệng để cầu hơn, nhiều khi lại nói hỗn ẩu vô lễ nữa. Sự đó, nói thiệt tình mà nghe, tỏ ra các dân tộc Á Đông ta còn chưa thoát hết cái tánh tình dã man, thật là một điều mà ta đáng lấy làm xấu hổ vậy. Tâm lý dân tộc với cuộc cải cách hành chính hiện nay18/03/2008 06:41' PM Trong số những cái mà người phương Ðông học ở người phương Tây thì nền Hành chính công là cái đáng học nhất, sau những cái tân tiến khác về kỹ thuật. Bộ máy hành chính Tây phương cho thấy hai ưu điểm rõ nhất: tinh giản và hữu hiệu. Ðó là cái hấp dẫn người Ðông phương cũng giống như các máy móc khác, vừa tốn ít người, vừa năng xuất cao... 100 năm Đông Kinh Nghĩa Thục: Trong cái nhìn hôm nay23/09/2007 09:18' AM Cái nhìn của một số trí thức thời nay về phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục. Ngẫm chuyện xưa để nói chuyện nay - con đường phát triển dân tộc... Nhà chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng: Học để làm người28/04/2007 04:28' PM Theo cụ Huỳnh Thúc Kháng: Cái trường học để "làm người" đó tức là cái cõi đời ta vậy. Bao nhiêu sự khốn khó ở đời, bao nhiêu sự kinh nghiệm người trước để lại đều là những bài dạy cho ta. "Làm người" ở đời đã khó như trên đã nói, thì "học làm người" chắc không phải chuyện dễ"... Phan Châu Trinh - cuộc đời và sự nghiệp15/03/2007 04:58' PM Phan Châu Trinh là một nhân vật lịch sử tiêu biểu trong phong trào cách mạng Việt Nam hồi đầu thế kỷ XX. Từ trước đến nay đã có nhiều người trong nước và nước ngoài nghiên cứu về Cụ. Trong dịp dâng hương tưởng niệm 80 năm ngày mất của cụ, thiết tưởng việc ôn lại cuộc đời và sự nghiệp Phan Châu Trinh để rút ra những bài học cho hôm nay cũng là một việc làm cần thiết và bổ ích... Chủ nghĩa dân tộc của Phan Bội Châu dưới nhãn quan triết học04/02/2007 09:28' AM Chủ nghĩa dân tộc của Phan Bội Châu được hình thành trên những nguyên lý triết học mà ông coi là nền tảng, như lẽ sống chết, quan hệ giữa lý và khí, tự do và bình đẳng, độc lập và tự cường dân tộc... Chủ nghĩa dân tộc của Phan Bội Châu đã vượt qua giới hạn tầm nhìn Nho giáo, tiếp thu các giá trị tư tưởng phổ biên của thời đại để đi đến hai mục đích lớn là giải phóng dân tộc và xây dựng một nước Việt Nam mới... Ra mắt Quỹ dịch thuật Phan Châu Trinh09/01/2007 08:23' PM Một năm sau khi NXB Tri thức thành lập, quỹ Dịch thuật Phan Châu Trinh được ra mắt và khởi động những dự án lớn với tham vọng hỗ trợ và quảng bá việc dịch thuật các tác phẩm có giá trị thuộc Tủ sách Tinh hoa Tri thức Thế giới. Bắt đầu từ 2007, giải thưởng dịch thuật mang tên nhà chí sĩ Phan Châu Trinh sẽ được tổ chức thường niên... Tân văn - Tân thư và ảnh hưởng của nó đến tư tưởng yêu nước ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX07/11/2006 06:21' PM Tân thư góp phần giúp cho trí thức Việt Nam tiêu biểu thời đó học được phương pháp mà sau này người ta thường gọi là: “Tự thức tỉnh, tự phê phán" để nhìn nhận rõ các ưu khuyết, nhất là các nhược điểm trầm trọng của chính tầng lớp mình, của nhân dân mình, dân tộc mình đặng sửa chữa, khắc phục... Những điều răn của cổ nhân05/10/2006 10:33' PM Xã hội phát triển đến mức nào đi nữa thì những giá trị truyền thống phương Đông, tức là cội nguồn văn hóa của mỗi dân tộc Châu Á vẫn cần phải được bảo tồn và trân trọng. Tuy là vốn cổ, nhưng nếu xét về nhân sinh quan đối với con người hiện đại thì dường như không cổ chút nào hay nói đúng hơn là câu chữ cũ, còn ý nghĩa thực tế vẫn hoàn toàn mới mẻ. Đây chính là điều đáng bàn luận và suy ngẫm... Đồng tình kiểu ấy chỉ tổ chết dân!04/10/2006 07:53' AM “ Bộ binh, Bộ lễ, Bộ hình - ba Bộ đồng tình…". Câu ca dao ấy, bọn tôi đã được học đâu từ hồi học cấp II ( ngày nay gọi là Trung học cơ sở). Ấn tượng chính mà chúng để lại trong đầu óc là hành động lả lơi chòng ghẹo của mấy vị tai to mặt lớn. Người ta thưởng thức nó với bao niềm khoái trá... Phan Châu Trinh và lòng tin vào sức mạnh của tri thức văn hóa20/09/2006 04:50' PM Ngày 24/3 vừa qua, chúng ta có một kỷ niệm lớn: 80 năm ngày mất của Phan Châu Trinh và sau đó mấy hôm, ngày 4/4 kỷ niệm 80 năm đám tang vĩ đại của ông mà Nguyễn Ái Quốc trong báo cáo gửi Quốc tế cộng sản hồi đó đã viết: “trong lịch sử người An nam chưa hề được chứng kiến một sự kiện to lớn như vậy bao giờ”... Ảnh hưởng của “Tân thư” trong tư tưởng Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh17/07/2006 08:32' PM Đối với các nhà nho Việt Nam yêu nước hồi đầu thế kỷ - những người đã từng bị Nho giáo bưng tai bịt mắt, đã thấy được ở một chừng mực nào đó sự lạc hậu của nhà trường Nho giáo và đang khao khát giải thích nhiều vấn đề có liên quan đến sự nghiệp giải phóng dân tộc, thì “Tân thư" đã có sức hút mãnh liệt... Tư tưởng của Ngô Thì Nhậm về con người và giáo dục con người06/07/2006 06:56' PM Ngô Thì Nhậm (1746 – 1803) là nhà tư tưởng tiêu biểu của lịch sử dân tộc, với những đóng góp về mặt triết học, chính trị học, quân sự học, văn học, giáo dục… Trong đó, vấn đề con người được ông quan tâm trước hết. Ông tiếp cận vấn đề con người và bản tính con người vừa trên cơ sở “thiên tính tự nhiên’ vừa trong những quan hệ xã hội phức tạp. Đặc biệt, ông chỉ ra vai trò to lớn của điều kiện kinh tế và giáo dục đối với sự hình thành và thay đổi bản tính con người... Một trường hợp mở đất29/06/2006 09:27' PM Để đạt được thành quả trên, ông phải chịu khó ra công học hỏi kinh nghiệm qua những lần tiếp xúc với những người nước ngoài và quan trọng nhất là do ông có tính thanh liêm, công bằng... Người tạo nên vụ Big Bang 80 năm trước ở Sài Gòn25/03/2006 12:50' PM Ngày 24/3 này, chúng ta có một kỷ niệm lớn: 80 năm ngày mất của Phan Châu Trinh, và sau đó mấy hôm, ngày 4/4, kỷ niệm 80 năm đám tang vĩ đại của ông, mà Nguyễn Ái Quốc trong báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản hồi ấy đã viết là "trong lịch sử người An Nam chưa hề được chứng kiến một sự kiện to lớn như vậy bao giờ"... Tôn Trung Sơn – Nhà cách mạng, nhà triết học16/03/2006 08:47' PM Tôn Trung Sơn nêu lên cương lĩnh của chủ nghĩa Tam dân: dân tộc, dân quyền và dân sinh. Năm 1911, ông lãnh đạo cách mạng Tân Hợi, cuộc cách mạng dân chủ tư sản ở Trung Quốc... Lượm lặt Ý nghĩa trần ai17/03/2010 10:56' AM Đã có rất nhiều sách, những Ông Thày và muôn lời khuyên trong Đời. Tôi thường không so sánh và xem những thứ đó ở khía cạnh Đúng – Sai mà là khả năng áp dụng những gì, đặc biệt ngộ ra điều gì để Bản thân có được năng lực chuyển hóa Tinh thần hướng Thượng... Tâm sự tuổi già15/03/2010 09:17' AM Tháng ngày hối hả, đời người ngắn ngủi, thoáng chốc đã già. Chẳng dám nói hiểu hết mọi lẽ nhân sinh nhưng chi có hiểu đời mới sống thanh thản, sống thoải mái. Tiếng Hà Nội hay nên... hiếm12/03/2010 03:07' PM Có nhà văn nữ viết trong một truyện ngắn của mình thế này: "Người Hà Nội phát âm âm xát nhẹ như tiếng gió thổi qua chiếc lá mỏng tang". Tuy nhiên, dường như tiếng Hà Nội lịch lãm đang rơi vào quy luật muôn đời: Hay nên... hiếm. Biểu tượng thất truyền- Dan Brown tái xuất giang hồ12/03/2010 10:39' AM Hội Tam điểm là tổ chức bí ẩn nhất thế giới, cuốn theo quanh vô vàn ám tượng và truyền thuyết. Hình ảnh thì phô trương, nhưng hoạt động thì giấu kín. Hội viên có thể công khai nhưng cách thức kết nạp thì ém nhẹm. Sống nhàn thời kết nối12/03/2010 09:19' AM Thời xưa, các cụ phẩy tay áo bỏ chốn lao xao về sống ẩn chỉ cần cầm trong tay “một cuốc, một cần câu”. Ngày nay, chúng ta về sống ẩn thì nhớ cầm theo điện thoại di động và một cái laptop nối mạng. Thêm trong ba lô vài đĩa nhạc, vài cuốn sách hay thì càng tốt… Một nghìn bảy trăm cây số từ Hà Nội10/03/2010 09:58' AM Chiều xuân mưa bay Hà Nội, ông cũng mơ màng theo như bao người tha hương. Nhưng cơn mưa ấy là cơn mưa của một quá khứ, Hà Nội ngày ông trở về cũng là một Hà Nội khác xưa đến “một nghìn lần” như ông thừa nhận. Với tôi, ông là một người đã làm công việc của mình, đi qua cuộc đời bề bộn, với những toan tính sắp đặt để khẳng định chỗ đứng, có khi thành có khi bại. Một khi đã lên yên, chỉ có thể phóng đi, chấp nhận thị phi cùng những hậu quả không mong muốn. Cái sự bất chấp liều mạng của ông thời nào, nay có đầy ở những người Việt mới. Người Hà Nội trong... mắt ngoại kiều09/03/2010 09:37' AM Có một Hà Nội thanh lịch đáng yêu, nhưng cũng có một Hà Nội còn đôi điều chưa hài lòng. Đó là cảm nhận của những người nước ngoài đã từng đến hoặc đang sống ở Hà Nội. Cha và con gái06/03/2010 10:12' AM Con đã trở thành một người vợ, một bà mẹ trẻ, con có công việc ổn định nhưng vẫn làm cha ngạt thở trong vòng tay ôm rất chặt mỗi lần về nhà với cha mẹ. Cha thích được con cắt móng chân, móng tay. Quá đỗi dịu dàng. Thật là dễ chịu khi mình hài lòng và yên tâm tuyệt đối về người mà mình yêu thương, con ạ! Bài khác: Tiêu chí kiểm định đạo đức con người qua tục ngữ, thơ ca dân gian Việt Nam02/11/2005 08:15' AM Tục ngữ, thơ ca dân gian Việt Nam là kết quả lao động sáng tạo, thể hiện những tài triết lý sâu sắc được đúc rút từ thực tiễn của cha ông ta. Chúng ta thấy trong đó chứa đựng nhiều việc cụ thể, hoặc nhận thức cảm tính và suy luận… Mặc dù vậy, tục ngữ, thơ ca dân gian Việt Nam cũng thừa nhận rằng, việc kiểm định đạo đức con người không phải là dễ dàng, đơn giản; song không phải vì thế mà ý nghĩa của tục ngữ, thơ ca dân gian Việt Nam giảm đi, mà trái lại, càng nói lên giá trị hiện thực của loại hình văn học độc đáo này... Triết lý môi trường01/11/2005 07:27' AM Định nghĩa hay nhất về con người xưa nay vẫn là câu nói của cổ nhân: Nhân thân: tiểu vũ trụ. Không gian Euclide là không gia ba chiều. A.Einstein đã “cắm” thêm vào không gian Euclide một chiều nữa là “chiều thời gian” (cũng là chiều lịch sử) và hình thành nên quan niệm triết học - khoa học “không gian - thời gian liên tục”. Quan niệm “Vũ trụ”, “Không gian thời gian liên tục” như thế thì con người là một “Tiểu vũ trụ” đã thống nhất, hòa đồng với “Đại vũ trụ”, thống nhất hòa đồng thế giới vĩ mô và thế giới vi mô. Đấy chính là tiền đề để ta triết lý về môi trường thời hiện đại... Về nguồn gốc triết học Việt Nam28/10/2005 07:53' AM Mặc dù một số tài liệu cả trong nước và ở nước ngoài đã nói về triết học Việt Nam (1), song một câu hỏi mà cho đến nay vẫn chưa có sự trả lời thống nhất trong giới lý luận - đó là: Việt Nam có triết học không? Nếu có thì đó là triết học gì? Nguồn gốc ra đời, sự tồn tại và phát triển cũng như vai trò của nó đối với hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của dân tộc ta như thế nào? Cảm nhận triết lý tục ngữ, ca dao27/10/2005 08:31' AM Theo một lối suy ngẫm nào đó, có thể coi những thể ngữ ca dao đọng lại cho đến bây giờ là kết quả của vô vàn những cuộc tuyển chọn, nên thường là những điều người hôm nay vẫn tâm đắc, gật gù, thấy chúng. nghiệm đúng với mình. Thế là chúng mang tính triết lý. Triết lý chẳng qua là những kinh nghiệm sống, nghiệm đúng nhiều trường hợp. Nghiệm đúng càng nhiều thì triết lý càng nâng cao... Cái tâm đời thường20/10/2005 08:06' AM Cái Tâm con người gắn với đời sống con người. Đời sống dù là của một vĩ nhân hay của một người thường thì cũng cần phải có cái đế sống, tức là phải ăn, mặc, duy trì nòi giống. Vòng đi trở lại, chả thiếu gì những kẻ cao siêu rút cuộc cũng phải thừa nhận cái đời thường thế mà hoá ra to lắm. Có người còn cho là hơn cả sự to: Sống cho trọn một cái đời thường là khó nhất... Tiến tới một triết học về hợp tác vì sự giải phóng con người16/10/2005 10:05' AM Vượt thời gian là một khả năng tuyệt vời của nhận thức. Khả năng vượt thời gian cho phép người ta có thể truy đuổi, suy ngẫm về tương lai, hay ít nhất là chuẩn bị tiền đề tâm lý để đi đến với nó. Và ngay cả những người hôm nay đã tìm ra công nghệ để đi đến tương lai nếu trong quá trình tiến đến tương lai tiếp theo, tương lai cấp hai, vẫn khư khư giữ lấy bản đồ án của tương lai thứ nhất thì cũng sẽ trở thành kẻ bảo thủ trong giai đoạn thứ hai này. Cơ sở của công nghệ đi đến tương lai là tư duy không ngừng, lựa chọn không ngừng và loại bỏ không ngừng... Tư tưởng, phong trào Khai Sáng là gì?09/10/2005 03:01' PM Phong trào Khai sáng là phong trào bắt đầu thời thế kỷ 18 ở châu Âu, coi việc tuyên truyền, phổ biến các tư tưởng tiến bộ, nâng cao các chuẩn mực đạo đức và tri thức khoa học (chứ không phải tôn giáo, điều giáo điều có sẵn) là những phương tiện quan trọng để biến đổi cuộc sống xã hội, con người, làm cho nhân loại tiến bộ. Mấy suy nghĩ về việc xác định bản chất của thế giới quan23/09/2005 08:44' AM Ngày nay, dưới sự tác động của các quá trình dân chủ hoá, nhân đạo hoá, tin học hoá và toàn cầu hoá, việc xác định tình trạng hiện thời của đời sống xã hội và vạch ra con đường phát triển của nó trong tương lai không chỉ là công việc riêng của các nhà lãnh đạo, các chính trị gia, mà còn cuốn hút sự tham gia đông đảo của mọi tầng lớp đại chúng. Trong khung cảnh như thế, việc xác định, xây dựng và phổ biến một thế giới quan khoa học và cách mạng sẽ mang lại một ý nghĩa vô cùng quan trọng. |