Godel và bản tính của chân lý toán học

Nguyễn Tiến Văn dịch và giới thiệuTạp chí Tia Sáng
09:42' CH - Thứ tư, 28/12/2005
Triết gia kiêm tiểu thuyết gia Rebecca Goldstein là một thí dụ tiêu biểu về mối quan hệ: học giả/nhà văn của những khoa nhân văn mới có Rebecca Goldsteincăn bản khoa học – mẫu người chiết trung về tri thức, tìm kiếm ý tưởng từ đa nguyên và chấp nhận những căn-nguồn chứng minh có giá trị, hơn là làm việc bên trong các “hệ thống” hoặc “trường phái”.

Tư duy có căn bản khoa học trong những học giả nhân văn được khai sáng hiện nay là một phần của văn hoá công cộng và Goldstein là một trong số những nhà văn dẫn đạo. Hiện là giáo sư Triết học tại Trinity College, ở Hartford, Connecticut; từng dạy tại các đại học Barnard, Rutgens, Columbia, và vài đại học khác. Năm 2005, bà được bầu chọn vào Viện Hàn lâm Khoa học & Nghệ thuật của Mĩ. Là tác giả của 5 cuốn tiểu thuyết: The Mind-Body Problem [Vấn đề hồn-xác], The Late-Summer Passion of a Woman of Mind [Đam mê cuối hạ của một người đàn bà trí thức], The Dark Sister [Người chị u huyền], Mazel, Properties of Light [Những tính chất của ánh sáng]; và một tuyển tập truyện ngắn Strange Attractors [Những điểm hấp lực dị kì]. Cuốn sách gần đây nhất Incompleteness: The Proof and Paradox of Kurt Godel [Bất toàn: chứng cứ và nghịch lí của Kurt Godel].


Dưới đây là cuộc trò chuyện giữa bà và tạp chí Edge (Biên thành) ngày 6.8.2005 về việc đi tìm căn gốc của Định lí bất toàn trong toán học của Godel. Lí luận chân lí số học đúng nhưng không thể chứng minh hiện hữu trong lí luận thời cổ Hy Lạp của Epimenides. Định lí của Godel còn xuất phát từ sự chạm trán giữa các nhà lý luận thực chứng học ở Vienna (trong đó có Wittgenstein) với Gode trên lập trường triết học Platon.

Edge: Dường như bà có một bộ sưu tập kì dị về những mối quan tâm: toán học, vật lí và triết học là một phía; và giả tưởng là phía kia. Tại sao một tiểu thuyết gia lại đi dạy khoa học triết học và có đủ quan tâm về toán để viết một cuốn sách về những định lí về bất toàn của Kurt Godel?

Rebecca Goldstein: Đối với tôi những mối tương thuyết ấy là tự nhiên. Đó là vấn đề những dạng thức khác nhau của cái đẹp. Những nhà toán học và những nhà vật lí cũng được hướng dẫn bởi những nguyên lí về thanh tao và cái đẹp chẳng khác gì các tiểu thuyết gia và các nhạc sĩ. Einstein bảo triết gia khoa học Hans Reichenbach rằng ngay cả trước cuộc nhật thực năm 1918 - ủng hộ cho thuyết tương đối của ông, thì ông cũng đã biết là thuyết ấy phải đúng bởi nó quá đẹp. Và Hermann Weyl, người làm việc về cả thuyết tương đối và cơ học lượng tử, nói: “Công việc của tôi đã luôn luôn cố gắng thống nhất cái đúng với cái đẹp, nhưng khi tôi phải chọn cái này hoặc cái kia, tôi thường chọn cái đẹp”. Tôi cũng xin nói cùng điều đó về việc viết tiểu thuyết. Khi bạn dùng các ý tưởng trong toán hoặc vật lí hoặc triết học trong một tác phẩm giả tưởng, câu hỏi đặt ra là bạn có thể bẻ quẹo ý tưởng bao xa để khiến nó làm được việc trong tiểu thuyết, làm được việc như một ẩn dụ. Tôi cố gắng hết sức gần gũi với sự thật trong chừng mức có thể, nhưng khi tôi phải chọn, thì chọn theo cách của Weyl.

Toán học dường như chính là nơi chốn duy nhất bạn không cần phải chọn, nơi cái đúng và cái đẹp luôn luôn thống nhất. Một trong những cuốn sách ưa chuộng mọi lúc của tôi là A Math- ematicians’ Apology [Biện hộ của một nhà toán học] của G.H. Hardy, nó cố gắng chứng minh cho một lớp độc giả phổ thông rằng toán học mật thiết với cái đẹp. Ông đưa ra hai chứng cớ để làm thí dụ, một chứng tỏ rằng không có số nào là số nguyên tố lớn nhất. Đó là những chứng cứ giản dị, dễ nắm bắt và chúng khơi dậy ngạc nhiên trong tâm hồn. Tôi đọc cuốn sách của G. H. Hardy vào mùa hè, sau khi tốt nghiệp cử nhân, ngay trước khi tiếp tục vào trường cao học. Đó cũng là mùa hè tôi đọc cuốn sách mỏng đáng yêu của Newman và Nagel tựa đề là Godel’s Proof [Chứng cứ của Godel]. Đọc hai cuốn sách cùng lúc thật tuyệt vời. Không gì có thể làm tôi xác tín vào quan điểm của Hardy về toán học và cái đẹp hơn sự đồng thời đọc về Chứng cứ của Godel.

Cuốn sách của Hardy không những chỉ hấp dẫn về mặt trí tuệ mà còn gây xúc cảm, thậm chí có tính tụng ca nữa, bởi ông đang để tang cho sự mất đi tính sáng tạo toán học. Ông ta ở tuổi ngũ tuần, và như ông viết, toán học là một trò chơi của thanh niên! Ông viết cuốn sách sau toan tính tự tử lần đầu và trước toan tính thứ nhì – lần [tự tử] thành công. C. P. Snow thuyết phục mãi để ông viết một cuốn sách mô tả những lạc thú đặc biệt của sự sáng tạo toán học cho những người không hề trải nghiệm nó. Cuốn sách có một tác động lớn với tôi, khắc sâu trong tôi sự nông cạn của việc phân nhánh trí tuệ và những đam mê. Trí tuệ là đam mê.

Và dĩ nhiên chính ông Snow là người đã đặt tên gọi cho chúng là hai nửa nền văn hóa – mà nay ông đi thêm bước nữa. Snow cảnh giác rằng một mặt những người thực hành những khoa học toán học và mặt khác những ngành nghệ thuật và nhân văn đang đánh mất khả năng thông hiểu lẫn nhau, khiến cho tất cả cùng nghèo nàn đi. Ý tưởng của ông về việc nối cầu giữa hai nền văn hoá, để sáng tạo một nền văn hoá thứ ba, đi tiếp cận với cây cầu chủ yếu từ phía khoa học. Một số lớn những nhà khoa học của tạp chí Edge mà ông đang tự gắn bó với những loại câu hỏi trong truyền thống vẫn thường được các nhà nhân văn đề đạt, những câu hỏi liên can tới ý nghĩa làm người. Nhưng cũng có một vận động từ phía kia nữa. Có những nghệ sĩ tự sự khác – tôi đang nghĩ đến những nhà tiểu thuyết như Richard Powers, Alan Lightman, Dan Lloyd, và những kịch tác gia như Michael Frayn, và Paul Parnell (họ viết vở kịch QED [Quan- tum Electro namics: Điện động học lượng tử/Quod erat demonstratum: Điều phải chứng minh] về Richard Feynmann) – là những người đang hội nhập những ý tưởng toán học và khoa học vào tác phẩm của mình. Đó là một điểm kì vọng trong nền văn hóa này.

Tôi ưa nghĩ rằng những khía cạnh nông nổi của khung cảnh trí tuệ thuộc thế kỉ vừa qua đã diễn hết trò rồi. Tôi chủ ý nói riêng đến những sự phấn khích vào tính khách quan và tính thuần lí, thường mang dạng những công kích vào khoa học. Không có gì kém hào hứng hơn việc giảm trừ mọi thứ vào những kiến thiết xã hội và vào những quan điểm tủn mủn của con người. Lạc thú của suy nghĩ là trong sự cố gắng ra khỏi tự thân chúng ta – điều này cũng đúng trong các ngành nghệ thuật và nhân văn như là trong toán và khoa học. Có một chút gì anh hùng trong ý tưởng về phía tri thức khách quan. Tri thức càng đưa bạn lìa xa quan điểm cá nhân của riêng bạn bao nhiêu thì tri thức đó càng anh hùng bấy nhiêu. Có thể những ý tưởng mới đang sắp làm sống động lại những ngành nghệ thuật, và nhân văn cũng đang sắp đồng minh với những khoa học. Dĩ nhiên, không phải là tiểu thuyết sẽ đề đạt những chủ đề khoa học – như thế hẳn sẽ hạn chế một cách lố bịch. Nhưng tôi hi vọng rằng tinh thần rộng mở liên kết với sự theo đuổi chân lí khoa học sẽ thấm đẫm vào những ngành nghệ thuật và nhân văn.

Những liên hệ này giữa các khoa học và các ngành nhân văn liệu có tương quan như thế nào với Godel?

Một trong những điều kì lạ xảy ra trong thế kỉ 20 là những kết quả rút ra từ toán học và vật lí được kết nạp vào cuộc tấn kích lên tính khách quan và tính thuần lí. Tôi chủ chốt nghĩ đến thuyết tương đối và những định lí về bất toàn của Godel.

Mùa hè trước khi bước chân vào ban cử nhân ở đại học tôi có đọc một cuốn sách khá phổ thông lúc đó, của một triết gia ở New York tên là William Barrett, tựa đề là Irrational Man (Con người phi lí tính). Nó mơ hồ đượm màu của chủ nghĩa hiện sinh và nó lập luận khá ráng sức rằng con người kiến thiết mọi chân lí. Nó nói nhiều về Nietzsche và Heidegger, nhưng chỉ có một vài trang về thuyết tương đối và những định lí bất toàn, đưa ra lập luận rằng rốt cuộc của những kết quả này là ngay trong vật lí và toán học cũng không hề có chân lí khách quan và tính thuần lí. Vạn vật đều là tương đối ứng với quan điểm của con người, và rằng những chứng cớ của toán học là bất toàn bởi không có cơ sở nào cho tri thức toán học. Mọi thứ đều bị nhiễm tính chủ quan của con người, để cho chúng ta không có cơ sở nào biện biệt giữa cái thuần lí và cái phi lí. Tôi đọc điều này ngay trước khi bước chân vào đại học và khiến tôi ra khơi mà bao nhiêu cánh buồm đều đói gió. Trước kia tôi từng hăng say học những điều quan trọng nhưng bấy giờ tôi đọc được rằng điều quan trọng duy nhất để học là chẳng có điều gì là quan trọng cả, ít ra cũng chẳng có điều nào mà không phải do chúng ta tạo dựng nên, nó dường như ngầm phá tầm quan trọng của chúng. Tôi cũng từng thích tạo dựng sự việc như bất cứ ai; nói cho cùng, tôi là một kẻ tương lai sẽ viết tiểu thuyết. Tuy vậy, ý nghĩ rằng công chuyện tạo dựng này xâm nhập cả vào toán học đã làm tôi xì hơi.

Và điều trớ trêu là cả hai Einstein và Godel – vốn có một mối kết giao bằng hữu truyền kì khi họ cùng ở Học viện Cao cấp inceton (the Princeton Insti- tute for Advanced Study) – đều đã không tận tụy hơn với ý tưởng về chân lí khách quan. Cả hai đều là những người siêu cấp hiện thực khi xét trong lĩnh vực của họ, Einstein trong vật lí, và Godel trong toán học. Điều trớ trêu càng sâu sắc hơn trong trường hợp Godel bởi không những ông là một nhà hiện thực toán học, tin tưởng rằng chân lí toán học có cơ sở trong thực tại, mà còn trớ trêu hơn nữa, là chính sự xác tín siêu toán học này đã thực sự làm động cơ thúc đẩy những chứng cứ nổi tiếng của ông.

Godel là một nhà hiện thực toán học, một người theo chủ nghĩa Platon. Ông tin rằng cái làm cho toán học chân thực là bởi nó mang tính mô tả - dĩ nhiên, không phải về thực tại kinh nghiệm, mà là về một thực tại trừu tượng. Trực giác toán học là một cái gì tương hợp với một loại tri giác cảm quan. Trong luận văn của ông mang tên: “What Is Cantor’s Continuum Hypothesis?” [Giả thuyết liên tục của Cantor là gì?], Gdel viết rằng chúng ta không thể nhìn thấy những sự vật mà chúng tình cờ chân thực, mà chúng ta đang nhìn thấy những sự vật mà chúng phải là chân thực. Thế giới của những thực thể trừu tượng là một thế giới thiết yếu, đó là lí do chúng ta có thể diễn kịch những mô tả của chúng ta về nó qua lí tính thuần túy (pure reason).

Một trong những điều lí thú về Godel là ông trở nên đắm say với chủ nghĩa Platon khi là sinh viên, một sinh viên ban cử nhân ở Đại học Vienna. Ông theo một giảng khóa triết học của Heinrich Comperz. Khi tôi đọc những trang bản thảo của Godel trong tầng hầm của thư viện irestone ở Đại học Princeton, tôi khám phá ra rằng về cuối đời ông được người ta gửi tới một bản câu hỏi về những ảnh hưởng triết học. Những nhà xã hội học đã liệt kê một nhóm các triết gia nặng kí, và Godel xao lãng hầu như toàn bộ họ- (mặc dù ông nói rằng Kant có chút xíu ảnh hưởng). Theo Godel, ảnh hưởng lớn nhất lên đời ông là giáo sư Comperzs, người đã giới thiệu ông vào lập trường triết học, chủ nghĩa Platon. Đáp ứng của Godel là mạnh mẽ. Ông chuyển môn chọn từ vật lí sang toán học, chuyên môn nhất về lí thuyết số, bởi ông nghĩ rằng chính đó là nơi ông đã tìm ra những kết quả thân thiết với trái tim theo Platon của ông. Điều này cho bạn thấy định hướng triết học làm động cơ cho công cuộc của ông. Dường như Godel đã ấp ủ một cao vọng táo bạo ngay khi còn là một sinh viên trẻ tuổi: sản sinh một kết quả toán học có những hàm nghĩa siên toán học, những hàm nghĩa, hoặc ít nhất là những gợi ý, về bản tính của tự thân toán học. Nó như thể một họa sĩ tạo tác một bức tranh có nói được một điều gì về bản tính của cái đẹp, không chừng còn có một điều gì để nói về sự tại sao cái đẹp lại làm ta xúc động. Toán học nêu lên những câu hỏi siêu tính (meta-questions), bởi vì nó là tiên nghiệm (a priori), là miễn dịch với sự xét lại trải nghiệm, là thiết yếu. Làm sao chúng ta lại có được tri thức loại này? Nó là về cái gì? Những sự thật chúng ta học được về cõi không gian, thời gian rốt ráo ra đều mang tính trải nghiệm; và chúng là ngẫu nhiên. Chúng không miễn dịch với sự xét lại trải nghiệm, đó là lí do vật lí đòi hỏi những thiết bị đắt tiền để trắc nghiệm những tiên đoán của nó đối với thế giới. Những nhà toán học thì rẻ tiền; vậy nên họ đáng giá trong so sánh phí tổn và hiệu quả ở các đại học – đó cũng là một cách khác để nói rằng toán học là tiên nghiệm. Nhưng tính tiên nghiệm và tính thiết yếu này trình ra những vấn đề. Những chân lí tiên nghiệm, thiết yếu, có thể là về cái gì? Không chừng chúng chẳng là về cái gì cả, ngoại trừ những hệ thống dạng thức mà chúng ta kiến thiết, thuần là những hậu quả của việc thao tác những biểu tượng theo quy luật, như thể trong trò chơi cờ vua. Chủ nghĩa Platon chối bỏ câu trả lời này. Nó tuyên xưng rằng toán học là mô tả về những thực thể trừu tượng, về số và tập hợp, chúng tồn tại riêng biệt khỏi nỗ lực của chúng ta, đang tìm hiểu chúng qua những hệ thống toán học của chúng ta.

Chủ nghĩa Platon đã luôn luôn có một hấp lực lớn đối với các nhà toán học, bởi nó làm cơ sở cho cảm quan của họ rằng họ đang khám phá hơn là đang phát minh ra những sự thật. Khi Godel đem lòng yêu chủ nghĩa Platon, theo tôi, nó trở thành cốt lõi cho đời sống của ông. Ông tình cờ đã kết hôn rồi, nhưng mối tình chân thực của đời ông là chủ nghĩa Platon, và ông mắc vào cái vòng tình ái, như rất đông trong chúng ta, khi ông là một sinh viên chưa tốt nghiệp.

Vào thời của Godel, chủ nghĩa Platon là một lập trường ít phổ thông. Hầu hết các nhà toán học, chẳng hạn như David Hilbert, gương mặt vời vợi trong thế hệ trước của những nhà toán học và còn sống khi Gdel ở tuổi thanh niên, đều là những người theo chủ nghĩa hình thức. Chương trình của Hilbert là hình thức hoá mọi ngành toán học. Chính bản thân Hilbert đã làm xong việc hình thức hóa hình học, tùy thuộc vào việc số học được hình thức hóa. Và điều mà chứng cớ lẫy lừng của Godel chứng tỏ là số học không thể hình thức hóa được. Bất cứ hệ thống hình thức về số học nào cũng sẽ hoặc là bất nhất (inconsistent) hoặc là bất toàn (incomplete).

Vào ngày 7 tháng 10 năm 1931, khi 24 tuổi, ông loan báo kết quả của mình, một chứng cứ bày tỏ rằng bất cứ hệ thống hình thức nào đủ phong phú để biểu hiện số học cũng sẽ có một mệnh đề là đúng và không thể chứng minh. Ông thực sự còn bày tỏ cách kiến thiết, trong mỗi hệ thống hình thức nhất trí, một mệnh đề số học chân thực mà không thể chứng minh. Điều này nghe ra nghịch lí, bởi nếu ông bày tỏ rằng nó chân thực, thì không phải là ông đã chứng minh nó chân thực rồi sao? Nhưng nó không nghịch lí. Chứng cứ này lướt bên mép bờ của nghịch lí.

Một phần hậu cảnh tiếp ngay với Chứng cứ của Godel không chỉ là Chương trình của Hilbert, mà còn là thủ đô Viên [Vienna] trong những năm cuối thập niên 1920 và đầu thập niên 1930. Khi còn là sinh viên, Godel đã được một trong những giáo sư của mình là Hans Hahn, mời tham dự những buổi gặp mặt truyền kì của những nhà thực chứng luận lí (logical positivists), là những người sau này được biết đến như Nhóm Viên (the Vienna Circle). Đôi khi Gdel được xếp loại như là một nhà thực chứng luận lí là bởi sự liên kết thời trẻ này. Đúng là Godel đã không tranh luận với họ khi tham dự những buổi họp tổ chức tại một căn phòng u ám trước tầng hầm của Đại học Viên. Nhưng chính bởi ông chọn cách không tranh luận không có nghĩa là ông chẳng bất đồng với họ một cách kịch liệt. Một người say mê chủ nghĩa Platon ắt phải so le một cách sâu xa với những nhà thực chứng luận lí.

Godel không tin vào khả năng truyền thông của chúng ta. Ông nghĩ rằng ngôn ngữ tự nhiên là không chính xác, và chúng ta thường không hiểu nhau. Godel muốn minh chứng một định lí toán học, nó sẽ có toàn bộ sự chính xác của toán học – là ngôn ngữ duy nhất có thể tuyên xưng ít nhiều về sự chính xác – nhưng với tầm vóc triết học. Ông muốn một định lí toán học có thể đáp ứng những để xuất của siêu toán học (meta-mathematics). Và hai điều phi thường đã xảy ra. Một là ông thực sự đã tạo tác ra một định lí như thế. Một nữa là những thành phần sinh động hơn trong cõi văn hóa trí thức đã thông giải định lí đó về mặt triết học, và nói lên ngay cái điều đối nghịch với điều ông chủ ý để nói bằng chính định lí đó. Godel chủ ý chứng tỏ rằng tri thức toán học của chúng ta vượt quá những chứng cứ hình thức của chúng ta. Ông không có ý muốn lật đổ quan niệm rằng chúng ta có được tri thức toán học khách quan, hoặc cũng không có ý tuyên xưng rằng không có chứng cứ toán học – hoàn toàn trái lại. Ông tin rằng chúng ta tất nhiên là có tiếp cận với một thực tại toán học độc lập. Những hệ thống hình thức của chúng ta là bất toàn bởi có nhiều thực tại toán học hơn là có thể chứa trong bất cứ hệ thống hình thức nào của chúng ta. Chính xác hơn, điều ông bày tỏ là toàn thể những hệ thống hình thức của chúng ta đủ mạnh cho số học thì hoặc là bất nhất hoặc là bất toàn. Vậy mà một hệ thống bất nhất thì hoàn toàn vô giá trị bởi vì những hệ thống bất nhất cho phép bạn dẫn xuất những mâu thuẫn. Và một khi bạn có một mâu thuẫn thì bạn có thể tha hồ chứng minh bất cứ điều gì.

Bà có nghĩ rằng chứng cứ của Godel phơi mở một điều gì về tương quan giữa ngôn ngữ và thực tại?

Chứng cứ của Godel không xem ngôn ngữ mang tính kiến thiết thực tại. Đúng hơn ngôn ngữ lệ thuộc vào thực tại. Nhưng điều đó không có nghĩa là ngôn ngữ không quan trọng trong chứng cứ, là không có điều gì đó mê huyền diễn ra trong những ngôn ngữ, có thể bảo rằng, được nói lên trong chứng cứ. Thực vậy, chứng cứ đó là một sự xếp tầng nhiều loại ngôn ngữ, và cung cách theo đó chứng cứ liên kết những tầng lớp này là cốt tuỷ chiến lược của chứng cứ.

Có ngôn ngữ toán học thuần túy, và rồi có ngôn ngữ siêu toán học, nó mô tả tự thân những hệ thống hình thức, những quy luật của những hệ thống hình thức. Cái khéo khôn là ở ch ỗ ông khiến những câu vốn nói một điều gì thẳng băng về số học cũng đồng thời nói một điều gì đó về chính chúng. Những câu này xoay xở để nói lên trên hai bình diện, và sự nói nước đôi (double-speak) này được hoàn tất qua cái ngày nay chúng ta gọi là đánh số Godel (Gdel numbering). Mỗi thành tố trong hệ thống đều có một số, và bạn cũng có thể ủy thác những con số cho những công thức hoàn thiện (well- formed formulas) gồm những thành tố kia, và cho những chuỗi của các công thức hoàn thiện – vốn là thực chất của các chứng cứ - bằng những quy luật tổ hợp (combinatorial rules). Cho sẵn bất cứ dây kí hiệu nào (string of symbols) bạn có thể dẫn xuất con số duy nhất đi cùng với dây đó, và đảo lại. Bởi có sự đánh số của Godel, những mệnh đề kia vừa nói một điều gì thẳng băng về số học nhưng cũng đồng thời nói một điều gì về chính chúng, một điều gì về những tính chất hình thức của riêng chúng. Đó là cung cách theo đó tính tự thân quy chiếu (self-referentiality) được sử dụng trong chứng cứ.

Tính tự thân quy chiếu, vốn đã sản sinh nhiều vấn đề luận lí quỷ quái – nhà luận lí học Raymond Smullyan đã viết rất hay về chúng trong những cuốn sách lí thú của ông – có cội nguồn từ thời Hi Lạp cổ đại, khi Epimenides, một người dân đảo Crete, nói rằng mọi người dân đảo Crete đều nói dối. Đây là một nghịch lí. Nói cho ngay, trong phát ngôn của Epimenides không có gì nghịch lí nhưng nó ắt dẫn tới câu sau đây, lại lẫy lừng mang tính nghịch lí: “Câu này sai”. Điều Epimenides nói được triển khai là: “Tôi là một người dân đảo Crete; mọi điều người dân đảo Crete nói là sai; ngay điều tôi nói đây là sai”. Và câu phát biểu cuối cùng thực sự nghịch lí. Bởi vì nếu nó đúng thì ắt nó sai, và nếu nó sai thì ắt nó đúng.

Và tâm trí đổ sụp. Godel đã chiếm hữu dạng thức cổ đại nghịch lí này để sản xuất ra một mệnh đề mà chúng ta có thể thấy là nó đúng chính bởi vì chúng ta có thể thấy là nó không thể chứng minh. Mệnh đề này có một ý nghĩa toán học thuần tuý, thẳng băng nhưng nó cũng là một mệnh đề nói về tự thân. Mệnh đề này, thực sự, là: “Chính mệnh đề này không thể chứng minh được”. Nó đúng, hay nó sai? Nếu nó sai, ắt sự phủ định mệnh đề đó là đúng. Sự phủ định mệnh đề đó nói rằng mệnh đề có thể chứng minh. Vậy, giả định là hệ thống nhất trí, nếu mệnh đề nói nước đôi, vấn nạn này là sai, ắt sự phủ định của nó là đúng, điều đó có nghĩa là tự thân mệnh đề vấn nạn kia như thế có thể chứng minh được. Vậy là nếu nó sai, nó không thể là sai được. Nếu nó sai ắt là nó đúng. Vậy nên nó phải đúng. Nhưng không thể chứng minh được.

Đó là cung cách ông thực hiện. Đó là mệnh đề vừa đúng vừa không thể chứng minh được. Và hãy nhớ rằng nó còn có một ý nghĩa số học nghiêm ngặt nữa. Điều đó được hoàn tất qua sự đánh số Godel. Vậy là ông đã chứng tỏ rằng trong bất cứ hệ thống hình thức nhất trí nào về số học sẽ có những mệnh đề số học đúng nhưng không thể chứng minh được. Một hệ thống hình thức về số học hoặc phải là bất nhất, hoặc là bất toàn. Định lí bất toàn thứ nhì, vốn tiếp theo khá thẳng băng từ định lí thứ nhất, chứng minh rằng một trong những điều bạn không thể chứng minh trong một hệ thống hình thức về số học là tính nhất trí của chính hệ thống đó. Vậy nên đang khi bạn làm việc trong một hệ thống bạn không thể chứng minh từ bên trong hệ thống đó là nó nhất trí. Và dĩ nhiên là một hệ thống bất nhất thì vô giá trị bởi lẽ bạn có thể chứng minh bất cứ điều gì trong một hệ thống bất nhất.

Edge: Bà có thể nói điều gì về môi giới trong đó Godel sống vào lúc ông ta tạo tác ra những định lí này không?

Goldstein: Giữa hai cuộc thế chiến, Vienna là một nơi bừng men trí tuệ. Có một sự bất mãn và tỉnh mộng đối với những cung cách cũ về tiến hành công việc. Những sự kinh hoàng của Thế chiến 1 vẫn còn trong bộ nhớ hiện hành và có một toan tính để vứt bỏ những lề lối xưa, để nghĩ lại về sự việc trong nhiều địa hạt.

Giữa hai cuộc thế chiến, Vienna là một nơi bừng men trí tuệ. Có một sự bất mãn và tỉnh mộng đối với những cung cách cũ về tiến hành công việc. Những sự kinh hoàng của Thế chiến 1 vẫn còn trong bộ nhớ hiện hành và có một toan tính để vứt bỏ những lề lối xưa, để nghĩ lại về sự việc trong nhiều địa hạt.

Vậy nên chúng ta thấy môn phân tâm học khởi đầu ở đó, và kiến trúc theo chủ nghĩa hiện đại của Adolf Loos, và Arnold Schoenberg với âm nhạc vô chủ âm (atonal music). Có nhiều đối thoại liên văn hóa và liên khoa. Những người chủ nghĩa thực chứng lí luận là một bộ phận thiết tha với điều này. Họ cố gắng nghĩ lại những cơ sở của tri thức, nghĩ lại những cơ sở của ngôn ngữ. Họ tuyên xưng rằng nếu chúng ta thanh tẩy ngôn ngữ, chúng ta sẽ có thể thanh tẩy tri thức.

Như nhà chủ nghĩa thực chứng lí luận quan niệm, phần lớn sự kinh hoàng đưa đến hậu quả trong Đại chiến là do sự suy nghĩ lộn xộn mà ra. Người ta tuyên xưng là biết những điều không có cách nào họ khả dĩ biết được. Những quan tâm chính trị đã đem lại sự hăng say cho vận động kia. Nếu chúng ta khiêm tốn hơn trong những tuyên xưng về tri thức của chúng ta, có lẽ chúng ta sẽ tránh được phần nào cái bi kịch mà loài người chúng ta có hướng ngả theo. Nhiều người trong bọn họ - chắc chắn có Neurath và Carnap – cũng có chính trị thiên tả nữa. Họ dịu giọng khi sang Hoa Kì. Nhưng ở Vienna, khi Gôdel còn ở đó, có một sự hăng say trong cố gắng nghĩ lại ngôn ngữ và những giới hạn của điều gì ta có thể nói.

Wittgenstein có một ảnh hưởng cực lớn lên Nhóm Vienna gồm những nhà thực chứng lí luận. Ông đã viết cuốn Tractatus Logico-Philosophicus [Luận về triết học Luận lí] trong những chiến hào của Thế chiến 1. Trong sách đó, xuất bản năm 1922, ông cố gắng phác thảo những phạm vi riềm ngoài của ngôn ngữ và chứng tỏ rằng ngôn ngữ có một biên giới quanh nó. Có những quy luật cho phép chúng ta nói điều gì nói được, và có rất nhiều thứ nằm bên kia biên giới. Ông ghi nhận là phần lớn những điều quan trọng không thể nói được.

Nhưng ở đó ông bất đồng ý kiến với những người thực chứng lí luận. Những người thực chứng chiến đấu về phía bên kia đường phân ranh; ngoài cái nói được chẳng có gì hết cả. Xa hơn cái chúng ta có thể nói không có gì cả. Nhưng Wittgenstein thực sự tin rằng chiều quan trọng nhất, cái mà ông tham chiếu như là "điều huyền nhiệm" (the mystical) chỉ là không nói được mà thôi, không hề có nghĩa là nó không tồn tại. Nếu chúng ta cố nói nó, chúng ta sẽ thốt ra cái vô nghĩa. Nhưng nó là cái vô nghĩa quan trọng. Vậy nên, Wittgenstein không thực sự là một nhà thực chứng. Nhưng Nhóm Vienna lại cứ hiểu ông là một nhà thực chứng và họ thán phục ông quá chừng. Họ ra công học tập cuốn Tractatus và họ học nó suốt một năm ròng. Và nó là một cuốn sách mỏng! Họ gặp nhau mỗi tối thứ năm và học từng câu một trong cuốn Tractatus. Cuốn sách có bề ngoài rất sáng tỏ, nhưng thực ra nó khá tối tăm. Nó hoàn toàn đẹp, hoàn toàn mang tính thơ, nhiều chất nghệ thuật hơn là khoa học, như thực tế nhà lí luận học Frege đã viết cho Wittgenstein, ở một trong những bức thư dường như tán tụng kia mà một tác giả có lẽ không nên nhận được thì hơn. Mặc dù những nhà thực chứng khởi hứng từ Wittgenstein, ông này có một thái độ lưỡng lự đối với họ. Ông ta chỉ nói chuyện với một ít người: Schlick và Friedrich Waissman, một đệ tử sùng bái Wittgenstein. Wittgenstein là một người có cá tính mạnh mẽ, một người có mị lực rất lớn.

Wittgenstein lúc đó mới khoảng bước qua tứ tuần. Ông đã sang học ban cử nhân ở Đại học Cambridge trước chiến tranh và đã khiến Bertrand Russell bị kích động. Russell, cùng với Alfred North Whitehead, đã viết bộ sách Principia Mathematica [Những nguyên lí toán học], ra sức giảm trừ số học vào lí luận và lí thuyết tập hợp (set theory). Một vấn đề trùm lấp là làm sao bảo vệ hệ thống luận lí và lí thuyết tập hợp của bạn tách khỏi những tập hợp nghịch lí. Bản thân Russell đã từng khám phá ra một trong những tắc ách này của lí tính tiên nghiệm: tập hợp của mọi tập hợp vốn không phải là thành phần của chính chúng. Điều này dẫn tới một nghịch lí – bạn thấy điều này khi bạn hỏi phải chăng tập hợp này là một thành phần của chính nó: nếu nó là thì ắt nó không là, và nếu nó không là thì ắt nó là. Nói cách khác, không thể có một tập hợp như thế bởi vì nó dẫn tới nghịch lí. Vì vậy, hệ thống hình thức của bạn phải chặn sự hình thành loại tập hợp này, và những cái khác khi chúng dẫn tới những nghịch lí. Tác phẩm Những nguyên lí toán học của Russell và Whitehead có một tập hợp những quy luật đặc biệt – họ gọi nó là lí thuyết về kiểu mẫu (the theory of types) – chúng sẽ canh để gạt ra ngoài lí thuyết tập hợp những tập hợp vấn nạn nhất định – loại tập hợp mang lại nghịch lí. Nhưng điều này hoàn toàn tùy tiện. Họ không có một lí thuyết về những gì đang diễn tiến ở đó, và họ phát ra một lời mời các nhà toán học và các nhà luận lí đưa ra một giải thích tốt hơn – một lí thuyết về việc khi nào thì ngôn ngữ sạch và thuần, và khi nào thì nó nhiễm nghịch lí. Làm sao chúng ta có thể thanh tẩy ngôn ngữ luận lí toán học của chúng ta để nó không hình thành những nghịch lí. Điều đó đã cù rủ Wittgenstein tới Cambridge.

Wittgenstein có một ảnh hưởng to lớn lên Russell. Thoạt tiên Russell nghĩ là Wittgenstein có một loại mẫn cảm mới. Ông cho Russell cái cảm quan rằng ông thực sự biết một điều gì không thể truyền thông, rằng có một điều gì ông đang cố gắng nắm bắt mà Russell nhìn không ra. Kết quả của những tương tác này là Russell bỏ hẳn luôn môn luận lí toán học. Wittgenstein làm cho Russell vững tin rằng những lề lối làm việc cũ kĩ của mình là sai. Russell nói rằng ông không thể hoàn toàn hiểu những gì Wittgenstein nói, nhưng ông cảm thấy tận trong xương tủy là anh ta phải đúng. Đó là thứ tác động mà Wittgenstein có trên người anh ta.

Khi đi vào chiến hào ông viết cuốn Tractatus. Nó có một tác động to lớn lên những nhà tư tưởng ở Vienna đang cố nghĩ lại những cơ sở của mọi tri thức và mọi ngôn ngữ. Và như tôi đã nhắc, ông luôn chối bỏ họ, ông nói rằng bọn họ không hề hiểu ông. Một trong những cách để thực sự hiểu điều này là cái mệnh đề cuối cùng trong cuốn Tractatus: "Về điều gì chúng ta không thể nói lên, về điều đó chúng ta phải im lặng". (Of what we cannot speak thereof we must be silent). Nó có lưỡng nghĩa. Nó có thể có nghĩa là mọi sự hiện diện đều có thể nói và chúng ta có thể nói rành mạch, hoặc nó có thể có nghĩa là có những sự kiện ở ngoài kia, nhưng ngôn ngữ của chúng ta không đầy đủ để biểu hiện chúng; rằng ngôn ngữ của chúng ta chừa ra những khoanh của thực tại. Nếu chúng ta cố biểu hiện cái bất khả ngôn trong ngôn ngữ, chúng ta sẽ vi phạm những quy luật của ngôn ngữ và mắc vào sự vô nghĩa.

Wittgenstein dường như muốn nói cách sau; rằng có những khía cạnh của thực tại vượt ngoài khả năng của chúng ta để biểu hiện chúng.

Những nhà thực chứng hiểu cách, cách trước, rằng tiêu chuẩn cho sự có nghĩa làm cạn kiệt mọi sự kiện. Mọi thứ có thể nói đều có thể nói rành mạch, và không có gì khác ngoài kia.

Chẳng thú vị sao, là trên đời lại có những triết gia bị ám ảnh với cố gắng nói sự vật một cách chính xác, với sự ban ra những quy luật của mọi sự chính xác, và những gì họ nói hoài về sự chính xác thì lại không đủ chính xác cho họ hiểu nhau. Bạn có thể hiểu câu nói của Gôdel, như ông ta được viện dẫn là đã nói với nhà toán học Menger một đêm kia khi họ cùng thả bộ về nhà sau một trong những buổi gặp gỡ của nhóm thực chứng lí luận, đại khái là: "Tôi càng suy nghĩ về ngôn ngữ thì dường như đối với tôi lại càng khó có thể cho chúng ta rằng bao giờ người ta hiểu được nhau".

Tôi tin rằng Godel khi ấy đo lường các bậc trưởng thượng. Quan điểm của ông về toán học, về sự có nghĩa, về những gì chúng ta có thể biết, về tầm quan trọng của ngôn ngữ trong sự tạo dáng cho thực tại, đều lỗi nhịp với quan điểm của các nhà thực chứng.

Khi tôi là một sinh viên cao học về triết, vẫn còn một vài giáo sư, những triết gia đại học Cambridge, đã từng thuộc vòng trong Wittgenstein, và đôi khi họ sang giảng ở đại học Princeton. Và tôi cố đi nghe họ. Họ vẫn còn bảo lưu một vài bộ tịch của Wittgenstein. Ông ta có nhiều tật máy giật; ông ta nhăn mặt khỉ và còn phát ra những tiếng gừ gừ trong lúc suy nghĩ, và mấy vị giáo sư kia cũng nhăn mặt và gừ nữa. Wittgenstein có tác động thôi miên trên người khác. Nhưng đối với Gôdel thì không.

Đây là những gì tôi nghĩ. Gôdel bực mình vì Wittgenstein. Ông không chỉ giữ những quan điểm siêu toán học so le một cách sâu xa với những quan điểm của Wittgenstein – và mặc dù Wittgenstein không phải là một nhà thực chứng, quan điểm của ông về cơ cở toán học, đặc biệt trong cuốn Tractatus, nằm trong mạch của chủ nghĩa thực chứng – nhưng tôi nghĩ ông ta còn bực mình nữa bởi sự rùm beng mà những người chung quanh, đám thực chứng thuộc Nhóm Vienna, cổ võ về Wittgenstein. Chúng ta chỉ miễn trừ trò đó cho những ai chúng ta nghĩ là xứng đáng. Và dưới ánh sáng của Gôdel, Wittgenstein không xứng.
Dù sao đi nữa, những cuộc đàm thoại bị Wittgenstein chế ngự này là những thảo luận mà Gôdel thường lui tới khi ông ta đang ôm ấp những ý tưởng của riêng mình về những cơ sở của toán học; không chỉ ôm ấp mà như tất cả chúng ta đều biết, mà còn thực sự triển khai những trực giác sẽ dẫn tới những định lí về bất toàn của ông.

Gôdel là một con người kín tiếng, một con người mờ đục. Ông ta không cho ta nhiều để cố tưởng tượng ra con người nội tâm. Một con người viết tiểu thuyết được đào luyện về nghệ thuật nhập vào các nhân vật, cả thực sự lẫn được tưởng tượng ra. Phần lớn tài khéo của một tiểu thuyết gia nằm ở chỗ tự thân luồn lách vào đời sống nội tâm của kẻ khác. Gôdel là người khó mà xâm nhập. Tôi khá tin tưởng rằng có một mối xúc cảm mạnh mẽ nào đó gắn liền với Wittgenstein; tôi có thể dựng lên một câu chuyện khá thuyết phục để gây hiệu ứng này. Nhưng rốt cuộc đó có thể là một câu chuyện dàn dựng. Nó mang tính cưỡng hành đối với tôi, hay dở cũng đành, và nó có ý nghĩa, về mặt tâm lí. Lại còn có cả bằng chứng ít nhiều, trong văn tự.

Về cuối đời Gôdel có những điều gay gắt để nói về Wittgenstein. Dĩ nhiên, không phải mặt giáp mặt, thường khi cũng chẳng phải nói với người khác, nhưng qua thư từ. Phần lớn những thư này ông không gửi đi bao giờ, và tôi gặp được chúng trong thư viện Firestone, nằm giữa những di cảo, Nachlass, của Gôdel. Wittgenstein không bao giờ chấp nhận kết quả của Gôdel; ông nói trong tác phẩm The Foundations of Mathematics [Những cơ sở của toán học], xuất bản sau khi ông qua đời, rằng nhiệm vụ của ông không phải là thảo luận với Gôdel, mà là vòng qua Gôdel. Ông cũng gọi những kết quả của Gôdel là những mánh lới của một nhà ảo thuật về luận lí, những trò tiểu xảo luận lí (logical artifices/Kunststucken). Có người bảo với Gôdel về điều này, và đó chính là lúc ông phát tác phần nào nỗi bực dọc của ông về Wittgenstein, nỗi bực dọc mà nếu những suy đoán về tâm lí của tôi là đúng, đã hàng nhiều thập niên, đã ủ kín rất lâu về trước khi Gôdel lắng nghe những nhà thực chứng ca tụng những quan điểm của Wittgenstein, mà hiểu rằng Wittgenstein bênh vực việc họ kết án mọi quan điểm siêu hình, gồm cả chủ nghĩa Platon.

Dĩ nhiên, không phải chỉ riêng Wittgenstein là bác bỏ những định lí của Gôdel. Có những nhà toán học hiện nay còn đang tranh luận với những kết quả về bất toàn, đôi khi trên cơ sở của chủ nghĩa kiến thiết (constructivist), tức là những dè dặt nghiêm ngặt về những gì có thể, và quan trọng hơn, không thể cầu viện trong chứng cứ. Rồi lại có những kẻ chấp nhận rằng về mặt toán học Gôdel đã chứng minh được kết quả của ông về sự bất toàn, nhưng họ lại bác bỏ quan điểm siêu toán học, tức chủ nghĩa hiện thực toán học (mathematical realism) mà Gôdel nghĩ rằng được các kết quả của ông mạnh mẽ gợi ra. Chắc chắn có những nhà luận lí toán học là những người theo chủ nghĩa hình thức, ngay cả trong ánh sáng của những định lí bất toàn. Chủ nghĩa Platon của Gôdel về mặt tâm lí có thể đã là động cơ thúc đẩy công việc tìm kiếm sự bất toàn của ông, để giúp ông đóng một thứ ông coi như cây nêm giữ những khái niệm về chân lí toán học và khả tính chứng minh (provability); nhưng điều đó không có nghĩa là những định lí của ông về mặt luận lí đã phản chứng chủ nghĩa hình thức (formalism). Trái tim theo chủ nghĩa Palton của Gôdel có thể đã hân hoan với những kết quả của ông, bởi chúng dường như đã bênh vực cho niềm tin của ông rằng thực tại toán học hiện hữu độc lập với những hệ thống hình thức. Nhưng chủ nghĩa Platon không hàm ngụ trong những kết quả về bất toàn. Chủ nghĩa Platon không là một định lí toán học chút nào.

Dĩ nhiên, Gôdel đã làm cho người ta khó có thể không là một người theo chủ nghĩa Platon. Ông chứng minh rằng có những mệnh đề về số học đúng nhưng không thể chứng minh được. Điều đó nghe ra gần với tuyên xưng rằng những chân lí số học độc lập với bất cứ hoạt động nào của con người. Những triết gia về toán học chắc chắn có thể tránh kết luận theo chủ nghĩa Platon, nhưng, chừng nào họ không chỉ "vòng qua Gôdel", họ bắt buộc phải nhảy múa đặc dị. Ngay cả Wittgenstein, người nói rằng nhiệm vụ của mình không phải là đề đạt những định lí của Gôdel, cũng không thể tránh được việc cứ phải vòng đi vòng lại với chúng. Ông tranh luận về chúng trong lớp của mình với Alan Turine. Và dĩ nhiên tác phẩm của chính Turing, việc ông chứng minh rằng chúng ta không thể giải được vấn đề ngưng chạy (the halting problem) – đại khái, biết rằng một chương trình điện toán cho sẵn sẽ tạo ra một kết quả khi có một nhập liệu cho sẵn hoặc sẽ kéo lê mãi cho đến kiệt quệ, tự thân kế thừa định luật thứ nhất của Gôdel về bất toàn.

Có những nhà toán học nói rằng những gì Gôdel đã làm thì chẳng liên quan gì đến công việc trong đời làm toán của họ; rằng họ không bao giờ phải nghĩ về sự bất toàn, cho đến nổi chẳng biết rành rẽ bất toàn là cái gì. Vậy là bạn có thể làm toán và ở ngoài cuộc thảo luận siêu toán học. Đây có lẽ là một thái độ khá chung trong số những nhà toán học. Và trong một nghĩa nào đó, nó là một thái độ tự nhiên. Khi bạn đang làm việc trong ngành, bạn làm những gì có thể làm trong đó. Loài cá không cần phải là chuyên viên về bản tính của nước.

Điều đó cũng đúng trong địa hạt khác nữa, chẳng hạn như vật lí. Các nhà vật lí bất đồng ý kiến một cách triệt để về sự thông giải các lí thuyết vật lí – một số nghĩ là họ chỉ mô tả một thực tại vật thể khách quan; một số khác lại nghĩ lí thuyết chỉ là những công cụ để tiên đoán – vẫn có thể cộng tác với tư cách nhà vật lí, có thể dùng chung những lí thuyết vật lí để đạt những kết quả khoa học, hoặc về mặt lí thuyết, hoặc về mặt ứng dụng. Công việc ngày lại ngày của bạn như một nhà vật lí không nhất thiết sẽ phải thay đổi cách này hoặc cách khác bởi quan điểm siêu tính của bạn về bản chất vật lí. Và công việc ngày lại ngày của bạn như một nhà toán học không nhất thiết sẽ phải thay đổi bởi quan điểm siêu tính của bạn về bản chất của toán học. Bạn cũng chẳng cần phải có một siêu quan điểm. Những định lí của Gôdel chỉ quan trọng nếu bạn quan tâm đến những câu hỏi siêu tính kia và làm một nhà toán học bạn không nhất thiết phải quan tâm đến những câu hỏi đó.

- Bà liên kết mối quan tâm này về những cơ sở triết học của toán học và vật lí với tình bạn nổi tiếng Gôdel và Einstein, phải không ạ?

Lắm người trong số những kẻ ngắm đôi bạn đó thong dong thả bộ mỗi ngày về nhà từ Viện Nghiên cứu Cao cấp, đắm mình trong trò chuyện – những người trong số quen biết bọ bảo tôi rằng họ chỉ ưa nói với nhau – thắc mắc là sao hai con người khác nhau đến thế lại có thể gắn bó tới mức đó. Nhưng cái gắn bó họ là, trước nhất, họ quan tâm rất sâu sắc về những câu hỏi siêu tính của những địa hạt riêng từng người, những câu hỏi không phải về việc những địa hạt này thực sự đang làm là gì và làm sao chúng xoay xở để làm được điều đó.

Cả hai ông đều nhìn việc làm của mình trong một khung cảnh triết học nhất định. Cả hai đều là những người theo chủ nghĩa hiện thực kiên định, Einstein trong vật lí, và hiển nhiên Gôdel trong toán học. Viễn kiến triết học đó đặt để họ so le với nhiều nhà khoa học cùng tầm vóc với họ. Vậy nên điều lí thú là hai khuôn mặt này rất lẫy lừng nhưng tự cảm thấy bị gạt bên lề, và bị gạt bên lề trong những cung cách tương tự. Điều này có thể giải thích phần nào sự gắn bó cách khác làm ngỡ ngàng những ai quen biết họ. Và thêm nữa cả hai còn nối liền với nhau trong cùng sự éo le mà tôi nêu ra khi mở đầu câu chuyện, là công trình của họ bị cuốn vào cuộc tấn kích chung vào tính khách quan và tính thuần lí. Một lần nữa tôi nhớ lại mùa hè năm đó, trước khi tôi bước vào đại học và đọc trong sách là cả thuyết tương đối và sự bất toàn đã chứng tỏ, với toàn thể quyền uy của vật lí và toán học, là không có những tiêu chuẩn khách quan nào cho chân lí và lí tính. Cả hai đều phải lưu vong khỏi Châu Âu đã Quốc xã hóa, nhưng lạ thay họ cũng là những lưu vong trí tuệ, và điều đó làm đa số sững sờ, xét vì công trình của họ thường được coi là nặng tầm vóc trung tâm.

Họ, cả hai đều đã tác động đến những cuộc cách mạng trong những địa hạt riêng của từng người, nhưng cách họ nhìn công trình của chính mình, ánh sáng triết học mà họ nghĩ công trình của họ tỏa ra, không thể so le hơn với hầu hết những người đồng thời.

Einstein và Gôdel là những đồng minh chân chính, và sau khi Einstein qua đời, sự cô đơn tự nhiên của Gôdel càng khắc sâu, cùng với nhưng khuynh hướng hoang tưởng của ông. Ông đi đến một kết cục buồn thảm. Sự nghi ngại của ông đối với ngôn ngữ, trong một nghĩa, được minh chứng. Nghi ngại ngôn ngữ, ông đã nỗ lực làm cho toán học của ông nói lên những xác tín siêu toán học của mình, nhưng những kẻ khác lại thường thông giải những định lí của ông là nói ngay cái đối nghịch với những gì ông muốn chúng nói. Ai lại không trở nên càng nghi hoặc hơn về sự truyền thông của con người? Ai lại không càng rút lui vào cô đơn? Dĩ nhiên tôi không đang biện minh cho sự hoang tưởng của ông. Nhưng có chút bóng dáng nào đó của một sự đáp ứng thuần lí trong sự phi thuần lí (irrationality) nữa.

Tôi chạnh buồn cho cảm quan cô đơn của ông, nó phải sâu thẳm biết chừng nào. Tôi buốt lòng khi ngẫm đến việc ông cảm thấy thế giới quá đổi thù nghịch đến nỗi ông tin rằng thức ăn của mình bị đầu độc và vì thế ngưng ăn và chết trong đói khát. Tôi đã trải qua một thời gian dài để tưởng tượng ra một người như thế phải cảm xúc như thế nào. Và tôi đặt tương phản giữa nơi chốn thâm u và lạnh lẽo mà ông sống bao năm dài, và ở đó, ông kết liễu đời mình với cái cảm nhận ngạc nhiên bừng sáng mà tôi trải qua mùa hè đó trước khi bước vào cao học, khi tôi lần đầu tiên hiểu được tuyệt tác về lí trí của Gôdel. Ông ban kinh nghiệm đó cho vô số người, và chúng ta biết ơn.

Godel và bản tính của chân lý toán học
ChúngTa.com @ Facebook
Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: .
Tổng số người truy cập: .
Số người đang trực tuyến: .
.
Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,