Một số đặc trưng cơ bản của Nho giáo Việt Nam

Nguyễn Tài ThưGiáo sư, tiến sĩ, Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam - Tạp chí Triết học
09:55' SA - Thứ ba, 06/01/2015

Trước hết, bài viết trình bày ba đặc trưng cơ bản của Nho giáo Việt Nam: thứ nhất là về vai trò của Nho giáo đối với xã hội Việt Nam phong kiến, độc lập, tự chủ; thứ hai là về chiều hướng và động lực phát triển của Nho giáo Việt Nam; thứ ba là về bốn phong cách tư duy của Nho giáo Việt Nam. Tiếp đó, bài viết chỉ ra và phân tích ba nguyên nhân đã làm nên những đặc trưng đó, gồm: một là, sự truyền bá và phát triển của Nho giáo ở Việt Nam đã diễn ra trong điều kiện không bình thường; hai là, chế độ phong kiến chuyên chế tông pháp ở Việt Nam chỉ cho phép Nho giáo phát triển theo một chiều hướng và trong phạm vi có lợi cho triều đình; và ba là, Nho giáo Việt Nam thiếu cơ sở vật chất cần thiết để phát triển.

Hiện có nhiều ý kiến khác nhau về đặc trưng của Nho giáo ở Việt Nam, như vấn đề ứng dụng trong thực tế, sáng tạo trong hành động, giản đơn trong lập luận, rập khuôn, giáo điều trong tư duy, v.v.. Vậy, đặc trưng của Nho giáo Việt Nam trong lịch sử là gì và vì sao lại có đặc trưng đó? Đó là những vấn đề hiện vẫn mang tính cấp bách và cần được nghiên cứu sâu hơn.

1. Một số đặc trưng cơ bản

Bản chất của một sự vật được bộc lộ ra phụ thuộc vào sự tiếp xúc của nó với môi trường xung quanh. Cũng như vậy, đặc trưng của Nho giáo ở Việt Nam được biểu hiện ra phụ thuộc vào các phương diện khảo sát khác nhau, mà từ mỗi một phương diện đó lại có thể đi tới những nhận thức khác nhau. Ở đây, tôi lựa chọn một số phương diện dễ thấy để tìm hiểu, đó là vai trò của Nho giáo đối với xã hội Việt Nam, là chiều hướng và động lực vận động của Nho giáo Việt Nam và phong cách tư duy do sự hoạt động đó đưa lại.

Thứ nhất, vai trò của Nho giáo đối với xã hội Việt Nam phong kiến, độc lập, tự chủ.

Sau khi giành được độc lập dân tộc ở đầu thế kỷ X, Ngô Quyền đã xoá bỏ chế độ quận huyện của nhà Hán và xây dựng nên một chính thể độc lập, tự chủ. Nhưng, con người làm nên lịch sử Việt Nam lúc đó là dựa trên di sản của thời kỳ Bắc thuộc để lại, gồm cơ cấu xã hội, con người, học thuyết, tín ngưỡng, trong đó có Nho giáo.

Dù các triều đình Việt Nam đã xem xét và lựa chọn, kế thừa và cải tạo lý luận của Nho giáo cho phù hợp với cuộc sống của mình và thải loại những gì không phù hợp với mình, nhưng những nguyên lý cơ bản của nó thể hiện nên nội dung tư tưởng của chế độ phong kiến phương Đông vẫn được bảo lưu và thực hiện. Các nguyên lý như “mệnh trời”, “chính danh”, “tam cương, ngũ thường”, “trung hiếu lễ nghĩa”, v.v. của Nho giáo Trung Quốc đã trở thành nền tảng tư tưởng cho các triều đình Việt Nam tổ chức nên hệ thống cai trị, quy định nên các sinh hoạt chính trị, kinh tế, tư tưởng, văn hoá, phong tục tập quán, v.v. mang sắc thái Việt Nam. Sau một thời gian kế thừa và vận dụng Nho giáo, các triều đình phong kiến Việt Nam đã cải biến mảnh đất này từ thân phận nô lệ và phụ thuộc vào đế quốc Hán trở thành một xã hội phong kiến độc lập, có nhiều phương diện ngang hàng với nước Hán.

Sự kết hợp giữa giai cấp phong kiến thống trị của Việt Nam và Nho giáo không những đã cải biến chế độ chính trị - xã hội còn nhiều yếu tố đơn sơ, chất phác của thời kỳ Văn Lang - Âu Lạc, không những đã xóa bỏ những tàn tích nô lệ và phụ thuộc của thời kỳ Bắc thuộc, biến Việt Nam thành một xã hội phong kiến độc lập, mà còn góp phần thúc đẩy xã hội đó nhanh chóng đi đến chỗ tập quyền và thống nhất. Song, loạn 12 sứ quân ở đầu thế kỷ X, hiện tượng nội bộ hai triều Đinh và Tiền Lê luôn diễn ra cảnh giết chóc lẫn nhau để chiếm đoạt ngôi vua đã khiến đất nước vừa mới độc lập lại có nguy cơ mất nước. Tình hình đó đòi hỏi phải có một chính thể quân chủ tập trung, thống nhất thì mới khắc phục được. Nhà Lý đã đáp ứng được yêu cầu này. Nho giáo với các lý thuyết như vua là do mệnh trời sắp đặt, người làm vua phải có đức, vua ra vua, bề tôi ra bề tôi, bề tôi phải trung với vua… đã giúp nhà Lý xác lập và củng cố chế độ phong kiến trung ương tập quyền, đã tạo cho họ sức mạnh để ổn định được bên trong và đề kháng được bên ngoài. Các triều đại Trần, Lê Sơ đã tiếp tục con đường thống nhất và tập quyền đó của triều Lý, tiếp tục khai thác và sử dụng các yếu tố tập quyền và thống nhất của Nho giáo để xây dựng triều đại. Như vậy, sự tác động của Nho giáo đã làm cho xu thế vận động của xã hội từ phân tán đến tập trung quyền lực vào một triều đình ở Việt Nam sớm trở thành hiện thực.

Nho giáo không những đã có công trong việc dựng nước Việt Nam về mặt chế độ, mà còn cung cấp kiến thức cho các nhà Nho yêu nước đấu tranh cho độc lập dân tộc, cho quyền tự chủ của quốc gia, cho sự ngang hàng với Trung Quốc phong kiến. Đúng là Nho giáo không dạy người Việt Nam yêu nước như có người đã quan niệm, nhưng nhiều mệnh đề, nhiều khái niệm của Nho giáo dùng trong hệ thống thiết lập và củng cố chế độ phong kiến, khi được cấu trúc lại trên lập trường của dân tộc và nhân dân, lập trường yêu nước Việt Nam, lại tỏ ra có sức mạnh để chống trả kẻ thù dân tộc. “Thiên mệnh” (mệnh trời) của sách “Thượng thư”, “nhân” của Khổng Tử, “nhân nghĩa” của Mạnh Tử, “đại trượng phu” của Mạnh Tử, “thời” và “tuỳ thời” của “Kinh Dịch”, “hoà” của “Tả truyện”, v.v. đã đi vào tác phẩm của Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi,... và trở thành công cụ tinh thần đắc lực, chiến đấu cho độc lập, tự do. Xét về mặt này, Nho giáo cũng có tác dụng tích cực đối với các công cuộc cứu nước của dân tộc Việt Nam.

Đi liền với tác dụng về mặt chính trị là tác dụng về mặt văn hoá của Nho giáo. Những yếu tố về văn hoá trong “Ngũ kinh” và “Tứ thư” đã là cơ sở tư tưởng và học vấn để các triều đình Việt Nam lựa chọn người tài qua các kỳ thi Nho giáo. Chúng được dùng làm tài liệu để giáo dục con người, nhằm không những làm cho họ trở thành người có học vấn, tức là Nho sĩ, mà còn bồi dưỡng nên những con người phi thường, đó là những đấng trượng phu, những người quân tử. Một khi những danh hiệu đó đạt được thì quả trở thành nhân, bởi chính họ tác động trở lại, làm cho xã hội đó được vững vàng hơn, bền chặt hơn.

“Lễ”, một tư tưởng quan trọng của Nho giáo, có vai trò đặc biệt đối với xã hội. Khổng Tử nói: “Vi quốc dĩ lễ” (Làm việc nước thì dựa vào lễ - Luận ngữ). Tuân Tử nói: “Lễ giả, cường quốc chi bản dã” (Lễ là gốc làm cho nước mạnh - Tuân Tử). Nội dung của khái niệm lễ này rất rộng, nhưng xét về mặt văn hoá, nó đã có những ảnh hưởng không nhỏ tới phong tục tập quán Việt Nam. Vào những năm đầu công nguyên, tục lệ của Việt Nam còn khác nhiều so với tục lệ Hán. “Truyện Mã Viện” trong “Hậu Hán thư” ghi rằng, Mã Viện tâu với Hán đế: “Luật Việt khác với luật Hán, cần phải bác bỏ hơn 10 việc”(1) (luật đây có nghĩa là tục lệ, phong tục - N.T.T.). Nhưng, bởi tư tưởng của kẻ thống trị là tư tưởng thống trị xã hội, nên chẳng bao lâu sau, nhiều tập tục cổ của người Việt bị mất đi và thay thế vào đó là tục lệ của Hán có trong Nho giáo.

Nhìn lại lịch sử, chúng ta thấy rõ rằng, nhiều phong tục tập quán của Việt Nam thời Trung đại, từ tế lễ, cưới xin, ma chay, đến hội hè, tuần tiết,… đều mang dấu ấn của những điều đã ghi trong sách “Lễ ký” của Nho giáo. Có thể nói, tục lệ Hán truyền vào đã làm phong phú thêm cho tục lệ Việt. Tất nhiên, những tục lệ gắn với lối sống của các tầng lớp cơ bản trong xã hội Việt, gắn với nghề trồng lúa nước bản địa thì không thay đổi.

Tuy ra đời ở Trung Quốc, nhưng Nho giáo đã tồn tại phổ biến ở Việt Nam, vì chế độ xã hội Việt Nam thời Trung đại giống như chế độ xã hội Trung Quốc, đều là xã hội phong kiến. Vốn là công cụ thống trị của giai cấp phong kiến ngoài nước và trong nước đối với dân tộc Việt Nam, nhưng Nho giáo cũng có sự phục vụ nhất định cho sự tiến bộ của đất nước Việt Nam. Thể hiện ở chỗ, giai cấp phong kiến Việt Nam lúc còn sứ mệnh lịch sử đã biết vận dụng và cải tạo những yếu tố tích cực của Nho giáo, dùng chúng vào việc làm lợi cho đất nước mình, cho nhân dân mình. Quá trình đó diễn ra dần dần, từng bước một, đến một độ nhất định, đã đưa Việt Nam từ chỗ còn tương đối lạc hậu, trở thành một nước thi thư, một xã hội có văn hiến, ngang hàng với các nước phương Đông khác.

Song, vai trò tích cực của Nho giáo ở Việt Nam là có giới hạn, chỉ kéo dài khoảng 5 thế kỷ. Nếu cho một đồ thị về sự phát triển của Nho giáo Việt Nam thì đó là một đường cong chúc xuống với điểm bắt đầu là triều Lý và đi tới đỉnh cao là thời Lê Thánh Tông của triều Lê, sau đó là thời kỳ Nho giáo rơi vào khủng hoảng cho đến tận cuối triều Nguyễn. Khi Lê Thánh Tông tự hào rằng, quan lại triều đình đều từ nhà Nho mà ra và rằng, triều đại nhà Lê sẽ được dài lâu như triều đại nhà Châu bên Trung Quốc: “Hưởng niềm vui thịnh trị 800 năm như nhà Châu” (Bát bách Cơ Châu lạc trị bình)(2), thì đó cũng là lúc báo hiệu sự đi xuống của triều Lê và của cả Nho giáo Việt Nam. Ông mất không bao lâu thì Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, khiến cho tuổi thọ của triều Lê thuộc vào loại ngắn ở Việt Nam, thực chất chỉ có 100 năm (1428 - 1527). Nguyên tắc trung với vua của Nho giáo không còn hiệu lực. Hiện tượng đó không những với triều Lê, mà còn đối với các triều đại phong kiến Việt Nam sau đó. Suốt 3 thế kỷ - XVI, XVII, XVIII, nhiều nhà Nho có tâm huyết với đất nước đã cố tìm trong Nho giáo một ánh sáng của sự trị bình xã hội, nhưng đều bất lực.

Đầu thế kỷ XIX, Nguyễn Ánh diệt được nhà Tây Sơn, thống nhất đất nước, lên làm vua, lập ra triều Nguyễn. Gia Long (miếu hiệu của Nguyễn Ánh) và các vị vua Nguyễn kế tiếp đều ra sức đề cao Nho giáo, phục hồi địa vị độc tôn của Nho giáo. Nhưng, Nho giáo chính thống triều Nguyễn do đi vào chỗ khắc nghiệt, giáo điều nên đã ngăn chặn sự nảy nở của các mầm mống tư tưởng thức thời và yêu nước, đã từ chối khuynh hướng cải cách xã hội, khiến đất nước đánh mất cơ hội mới để tiến kịp với thời đại.

Tất nhiên, Nho giáo là một học thuyết, một tư tưởng và do đó, sự vận dụng nó phụ thuộc vào người sử dụng. Nhưng, khi người sử dụng quá tin vào hiệu lực của nó mà quên mất rằng hoàn cảnh đã thay đổi thì học thuyết cũng phải thay đổi theo, thì chính học thuyết đó tác động trở lại làm cho con người mê muội, làm theo những điều đã lỗi thời. Bởi vậy, có thể nói, cả triều Nguyễn và Nho giáo đều phải chịu trách nhiệm trước lịch sử dân tộc cuối thế kỷ XIX.

Thứ hai, chiều hướng và động lực phát triển của Nho giáo Việt Nam.

Nho giáo Việt Nam càng về sau càng có nội dung phong phú, càng có sự hoạt động nhiều mặt và càng đi vào nền nếp. Điều đó hoàn toàn không phải là ngẫu nhiên, cũng không phải là kết quả của một giai đoạn, mà là kết quả của cả một quá trình và do các động lực bên trong và bên ngoài thúc đẩy.

Yêu cầu của hoạt động thực tiễn chính trị - xã hội trong nước là một động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển của Nho giáo Việt Nam. Yêu cầu này xuất phát từ xu thế đi lên tập quyền và thống nhất của chế độ phong kiến Việt Nam. Trong ba học thuyết của phương Đông là Nho, Phật, Lão, chỉ có Nho giáo với nội dung và tính chất của nó là có thể đáp ứng được xu thế này. Các công việc của triều đình, như quản lý thần dân, sắp xếp hệ thống quan lại, tổ chức thi cử để chọn người tài, ấn định nội dung để giáo dục con người, xem xét việc tế lễ, cầu đảo thần thánh, v.v. đều phải dựa vào Nho giáo. Dù Nho giáo gốc đã có sẵn những điều trên, nhưng đi vào sự vận dụng vẫn có điều cần phải thêm bớt, vẫn có sự phải bổ sung, vẫn có chỗ phải thuyết minh, nghĩa là vẫn còn có đất cho sự phát huy. Các triều đình phong kiến Việt Nam và các nhà tư tưởng của nó đã làm được điều đó. Như việc giữ nước và cứu nước, cho dù các triều đình phong kiến Việt Nam có sự ý thức rõ ràng về tính độc lập, tự chủ của mình, nhưng vẫn phải có sự kết hợp với Nho giáo. Nho giáo cho họ một số yếu tố nào đó để làm nền, cho họ một số phương pháp nào đó để làm phương hướng của tư duy, tạo thuận lợi cho tư tưởng yêu nước xuất hiện. Bằng các hoạt động như thế, tư tưởng Nho giáo Việt Nam từng bước trưởng thành lên.

Hoạt động đối ngoại là cơ hội để người trong nước hiểu biết thêm về sự phát triển của Nho giáo Trung Quốc và từ đó, tạo nên cú hích bên ngoài, làm nên sự tăng trưởng của Nho giáo bên trong. Bang giao giữa Việt Nam và Trung Quốc là bang giao thần thuộc, Việt Nam là thuộc quốc, Trung Quốc là thiên triều. Cứ hàng năm hoặc vài năm, tuỳ theo tình hình mỗi lúc mà Việt Nam phải có đoàn tiến cống Trung Quốc. Và cũng với thời gian tương tự, Trung Quốc có sứ giả sang Việt Nam để thừa nhận và phong vương cho vua mới lên ngôi ở Việt Nam, hoặc yêu sách một số việc cần kíp khác. Sự đi lại trên cũng là dịp để hai bên trao đổi về văn hoá, tư tưởng, là dịp để Việt Nam hiểu thêm về Nho giáo Trung Quốc và vua Trung Quốc ban phát tài liệu kinh điển Nho giáo cho Việt Nam. Nho giáo Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh qua con đường chính thức đó mà có mặt ở Việt Nam, mà gây nên sự học tập không ngừng của Việt Nam đối với Nho giáo Trung Quốc. Kết quả là, Nho giáo Việt Nam đã có sự tăng trưởng nhất định về số lượng kiến thức, về những điều mới mẻ trong quá trình phát triển của Nho giáo Trung Quốc. Nhưng, đây mới chỉ là sự tăng trưởng về số lượng, chứ chưa gây được sự biến đổi về chất lượng của Nho giáo Việt Nam, do điều kiện và thời gian chưa đủ để thực hiện sự chuyển hoá.

Sự tiếp xúc của nhân dân hai nước ở vùng biên giới Việt - Trung là điều kiện để người trong nước biết được thông tin cập nhật về hoạt động Nho giáo ở Trung Quốc. Điều đó đã có ảnh hưởng ít nhiều đến chiều hướng vận động của Nho giáo Việt Nam. Song, ảnh hưởng đó là hạn chế, vì sự chậm chạp của sự truyền đạt thông tin thời phong kiến, vì sự cấm đoán lan truyền tin tức khác với cái hiện có của triều đình. Tuy vậy, những thông tin cập nhật từ bên ngoài đã gây nên sự thích thú tìm hiểu của một số Nho sĩ Việt Nam. Bên cạnh đó, nó cũng tạo ra được tiền đề để tiếp nhận những thành tựu trong các bước phát triển của Nho giáo Trung Quốc vào Việt Nam khi có điều kiện, giúp cho sự tiếp nhận đó được dễ dàng.

Dù vậy, tất cả các động lực và hoàn cảnh trên vẫn không đủ điều kiện để tạo nên những bước nhảy của Nho giáo Việt Nam. Việc vận dụng Nho giáo để giải quyết các công việc đối nội và đối ngoại của các triều đình Việt Nam chỉ là việc giải quyết các tình thế xã hội trên cơ sở của Nho giáo vốn có; việc chấp nhận các trào lưu Nho giáo mới của Trung Quốc đưa vào chỉ là sự truyền bá, chứ chưa phải là việc đổi mới của Nho giáo Việt Nam. Để đổi mới chất lượng Nho giáo Việt Nam thì phải cần đến sự vận động tự thân của Nho giáo Việt Nam, cần có sự phản tỉnh của Nho sĩ trong nước đối với Nho giáo của mình, xem cái gì còn thích hợp cần duy trì, cái gì đã lỗi thời cần vứt bỏ. Nhưng, việc ấy chỉ có Hồ Quý Ly là thực hiện được. Các Nho sĩ khác đều không dám!

Cải cách của Hồ Quý Ly ở cuối thế kỷ XIV và đầu thế kỷ XV, bao gồm các cải cách chính trị, kinh tế và văn hoá tư tưởng, là hiện tượng đột xuất của lịch sử Việt Nam. Xét về cải cách Nho phong, bản thân việc làm này mang tính chất cách mạng. Ở đó, ông chủ trương Việt ngữ hoá Nho giáo, dịch các sách kinh điển của nhà Nho ra chữ Nôm, như dịch thiên “Vô dật” của Kinh Thư, dịch Kinh Thi để cho nhiều người Việt có thể hiểu được; ông phê phán lối học kinh viện, xa rời thực tế của Đường Nho, Tống Nho. Chủ trương đó nếu được thực hiện đến cùng thì chắc sẽ tạo ra nhiều điểm mới cho Nho giáo Việt Nam. Song, quân Minh xâm lược Việt Nam đã cắt ngang việc làm đó của ông, chặn đứng sự cải cách của ông. Suốt năm trăm năm sau Hồ Quý Ly, không ai nói tới sự cải cách nữa. Nho giáo chính thống ở đất nước này đã không thể thoát ra khỏi dinh lũy của chủ nghĩa bảo thủ.

Trên một phương diện khác, Nho giáo Việt Nam thiếu sự xuất hiện các trường phái học thuật. Chính sự lệ thuộc vào phương Bắc của triều đình và sự an phận của các sĩ phu đã đưa đến tình trạng đó. Vì thiếu các học phái khác nhau, nên Nho giáo Việt Nam vận động trong sự đơn điệu và một chiều, chứ không được phong phú và đa dạng như Nho giáo Trung Quốc. Ở Trung Quốc, chỉ riêng giai đoạn Tống Nho đã có bốn học phái khác nhau: Liêm học của Châu Đôn Di, Quan học của Trương Tải, Lạc học của Trình Hạo, Trình Di và Mân học của Chu Hy. Cùng là Nho, song giữa họ có sự lý giải khác nhau, quan niệm khác nhau, khiến người trong cuộc có điều kiện rộng rãi để lựa chọn, để phát huy.

Để tồn tại, mỗi sự vật trong cùng một lúc diễn ra nhiều loại vận động và ở đó, vận động bên trong mới là cái có ý nghĩa quyết định, là điều kiện để không ngừng thải loại và đổi mới bản thân, để tiến lên không ngừng. Nho giáo Việt Nam thiếu sự vận động bên trong, thiếu sự phản tỉnh bản thân, nên trì trệ là điều khó tránh khỏi.

Một số đặc trưng cơ bản của Nho giáo Việt Nam
 
ChúngTa.com @ Facebook
 
Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: .
Tổng số người truy cập: .
Số người đang trực tuyến: .
.
Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,