Randall Collins: xã hội học về đấng tối cao

Bùi Thế CườngTạp chí Khoa học xã hội
08:24' CH - Thứ bảy, 14/07/2007

Tôn giáo là một hiện tượng xã hội đầy bí ẩn, đồng hành với các xã hội người suốt từ buổi ban đầu đến thời hiện đại hôm nay. Đã có vô số cách lý giải về tôn giáo, nhưng người ta vẫn không thôi đặt ra câu hỏi tôn giáo là gì. Trong cuốn sách Sociological Insight. An Introduction to Non- Obvious Sociology xuất bản năm 1992, Randall Collins tóm tắt rất súc tích một cách hiểu xã hội học về tôn giáo. Đước đây là lược thuật và biên dịch một đoạn ngấn trong cuốn sách nói trên. Bài biên dịch lược thuật này là sản phẩm của đề tài KX.02.l0 '"Các vấn đề xã hội và môi trường của quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa" (2001-2005). Nó cũng đã được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho môn học "Triết học và phương pháp luận nghiên cứu xã hội" (PMSR) thuộc chương trình cao học Viện Xã hội học năm 2003 - 2005, và môn học "Lịch sử xã hội học" (HoS) thuộc Chương trình cao học Khoa Xã hội học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh năm 2006. Tên các tiểu mục là do người biên dịch đặt để bạn đọc dễ theo dõi. Dĩ nhiên phải ghi nhận rằng đây chỉ là một trong nhiều cách cắt nghĩa về tôn giáo, dùng để tham khảo và đối chiếu với nhau.

Con đường tìm hiểu tôn giáo của xã hội học

Vốn có hai quan điểm về tôn giáo, bất kể ta có tin vào tôn giáo hay không. Một, tôn giáo là hiện thực tối cao vượt lên mọi khách thể nghiên cứu của xã hội học. Hai, tôn giáo là một sự mê tín phi lý về những sự việc không tồn tại. Phần lớn các nhà tư tưởng xã hội có quan điểm thứ hai. Các nhà vị lợi và cải cách hợp lý có xu hường xem tôn giáo là một động lực phi lý, lạc hậu. Nó là nguồn gốc của mê tín, niềm tin vào một thế giới vô hình của các hồn ma. Các nhà làm luật nói đến tôn giáo như là một thiết chế của Tòa án tôn giáo và những kẻ săn tìm người dị giáo, thiếu người trên dàn lửa do niềm tin tôn giáo của họ hoặc do bị coi là phù thủy. Những người cấp tiến thì xem tôn giáo là kẻ duy trì hiện trạng, một loại môi giới của giai cấp thống trị có chức năng làm cho người dân chấp nhận tình trạng bất công về kinh tế và chính trị để đổi lấy một cuộc sống hứa hẹn trên thiên đường sau khi chết. Các nhà trí thức duy lý cho rằng chẳng có căn cứ gì, tôn giáo chỉ là một tàn tích của thời Trung cổ, rồi sẽ mất hẳn khi xã hội hiện đại hóa. Có một thời điều tin tưởng này có vẻ đúng, nhưng rồi người ta lại chứng kiến sự hồi sinh mạnh mẽ của tôn giáo, ngay cả ở những xã hội công nghiệp phát triển cao.

Nhà xã hội học không chấp nhận cả hai quan điểm trên về tôn giáo, mà đưa ra cách quan niệm và lý giải khác hẳn. Emile Durkheim xây dựng một lý thuyết về tôn giáo, theo đó điểm then chết của tôn giáo không phải là niềm tin của nó mà là những nghi lễ xã hội mà các tín đồ thực hiện. Tôn giáo là chìa khóa của sự đoàn kết xã hội, các niềm tin tôn giáo là quan trọng nhưng không phải ở chính bản thân chúng mà ở chỗ chúng là biểu trưng của các nhóm xã hội.

Về mặt xã hội học, tôn giáo có ý nghĩa ở chỗ nó là ví dụ tuyệt vời về việc một hiện tượng phi hợp lý nhưng lại đóng một vai trò căn bản trong đời sống xã hội. Lý thuyết xã hội học về tôn giáo cho phép ta hiểu nghi lễ xã hội và cái cách thức mà nghi lễ xã hội tạo ra tình cảm đạo đức cũng như các ý tưởng mang tính biểu trưng, vượt ra khỏi phạm vi hiểu về tôn giáo, lý thuyết xã hội học về tôn giáo còn giúp ta hiểu về chính trị và hệ tư tướng, về tiến trình đoàn kết mà lại tạo ra xung đột giữa các nhóm. Thậm chí nó còn giúp ta hiểu về những cơ sở của sự thế tục riêng tư trong đời sống hiện đại. Nghi lễ xã hội là cái gì đó phổ quát, thấm trong mọi ngóc ngách của đời sống hiện đại, hệt như nó đã từng là như vậy trong mọi thời, chỉ có các hình thái và sự sấp xếp của các nghi lễ là thay đổi mà thôi.

Cơ sở chung của các tôn giáo

Giả thuyết cơ bản của Durkheim là tôn giáo biểu hiện cho một cái gì đó có thực. Không có lý gì để tin rằng có tồn tại một Đấng tối cao siêu tự nhiên, siêu việt. Thế nhưng làm sao mà con người trong suốt chiều dài lịch sử lại rơi vào một sai lầm như vậy? Một cái gì đó mà con người đã tin một cách mạnh mẽ như thế thì không thể nào lại dựa trên một lập luận sai lầm. Phải có một cái gì đó tương ứng với những niềm tin tôn giáo, một cái gì đó có thực mà con người tìm thấy một cách biểu trưng dưới cái vỏ của Đấng tối cao. Con người bao giờ cũng xem Đấng tối cao là đầy sức mạnh hơn mọi người bình thường. Vậy, cái mà tôn giáo phản ánh phải là một cái gì đó mạnh hơn các cá nhân.

Để có thể hiểu được tôn giáo phản ánh cái gì, trước hết người ta có thể sử dụng phương pháp so sánh: cái gì là chung ở mọi tôn giáo? Các tôn giáo đều rất khác nhau về vấn đề Đấng tối cao: (những) người ấy là ai, tên là gì, như thế nào. Thế nhưng mọi tôn giáo có hai điểm chung. Một, những niềm tin chủ yếu mà mọi tín đồ cùng chia sẻ. Hai, những nghi lễ cơ bản mà các tín đồ cùng tiến hành một cách tập thể.

Niềm lin tôn giáo cơ bản là ở chỗ cho rằng thế giới này chia thành hai mảng (phạm trù): cái thiêng và cái thông (trần) tục. Những sự vật thiêng thì có thể là bất kỳ cái gì, tùy thuộc vào mỗi tôn giáo cụ thể: linh hồn, đấng lối cao vô hình, những con thú hoặc cây cối, cây thập tự, cuốn sách thiêng,... Đặc trưng của những vật thể hiện cái thiêng là ở chỗ chúng là cực kỳ quan trọng, đáng sợ: người ta phải tiếp cận với chúng một cách đầy nghiêm cẩn, kính sợ, có sự chuẩn bị. Ngược lại, những vật trần tục tạo nên toàn bộ phần còn lại của thế giới. Như vậy, niềm tin tôn giáo cơ bản là ở tính nhị nguyên của cái thiêng và cái trần tục.

Song song với niềm tin tôn giáo cơ bản là hành động tôn giáo cơ bản, đó là nghi lễ. Một nghi lễ là cái gì đó rất khác với hành vi thông thường. Một hành động thực tế thông thường có thể làm theo nhiều cách. Nhưng nghi lễ thì lại là hành vi được quy định rất chặt chẽ. Nghi lễ không phải là phương tiện để đạt được một mục tiêu trong tương lai, hình thức của nghi lễ là chính mục tiêu của nó. Nó sẽ là đầy ý nghĩa nếu được làm một cách đúng đắn. sẽ chẳng có nghĩa gì nếu bị làm sai.

Như vậy, tôn giáo được tạo thành từ niềm tin và nghi lễ, cả hai liên quan với nhau. Các nghi lễ là những thủ tục mà con người phải tự thực hiện với sự có mặt của những vật mà họ tin là thiêng. Ngược lại, hành vi thông thường. không có tính nghi lễ được làm với sự có mặt của những cái được xem là trần tục. Xã hội học của Durkheim đặt ưu tiên chú ý vào nghi lễ chứ không phải vào niềm tin. Việc tiến hành đúng đến nghi lễ là điều sẽ tạo ra niềm tin vào cái thiêng.

Cái thiêng là xã hội

Một câu hỏi lý thú là làm thế nào mà con người lại phát hiện (hay phát minh) ra được sự khác biệt giữa cái thiêng và cái trần tục? Và vì sao mà lại có một xu hướng gần như là phổ quát ở mọi tộc người trong việc chia thế giới ra thành hai phần như thế?

Không có một cơ sở nào trong thế giới tự nhiên tạo điều kiện cho việc đó, mọi vật trong thế giới vật lý đều cùng ở một cấp độ. Nhưng có một hiện thực mà nó có mọi đặc trưng mà con người gắn vào với cái thiêng liêng: đó không phải là tự nhiên, cũng chẳng phải là cái siêu hình, đó chính là bản thân xã hội. Xã hội là một động lực lớn hơn mọi cá thể. Nó ban cho ta sự sống, nhưng cũng chính nó có thể khiến ta chết. Nó có quyền lực vô biên trên chúng ta. Mọi người đều phụ thuộc vào nó theo vô số cách thức. Toàn bộ thế giới vật chất và biểu trưng là do xã hội đem lại cho ta. Mọi thiết chế mà ta sống trong đó là của xã hội. Đây chính là cái chân lý căn bản mà tôn giáo thể hiện. Đấng tối cao là biểu tượng về xã hội.

Xã hội bên ngoài ta mà cũng ở bên trong ta

Như vậy, cảm nhận rằng có một cái gì đó tồn tại bên ngoài ta, đầy quyền năng. nhưng lại không phải là một phần của cái thế giới vật thể thông thường mà ta có thể thấy bằng mắt thường, cảm nhận ấy không phải là một ảo tưởng. Thêm nữa, cái gì đó như thế cảm nhận về sự phụ thuộc của ta vào xã hội, tồn tại đồng thời cả bên ngoài và bên trong ta. Trong mọi tôn giáo bao giờ cũng có một sự kết nối giữa thế giới thiêng bên ngoài ta với cái gì đó thiêng bên trong ta. Đấng tối cao vừa ở bên ngoài đồng thời vừa ở bên trong. Những tôn giáo phát triển có khái niệm linh hồn của con người thuộc về Đấng tối cao. Trong mọi tôn giáo ở các bộ lạc nguyên thủy cũng có một sự kết nối tương tự: mọi thành viên bộ lạc đều được đồng nhất với totem. Nếu con vật thiêng của một thị tộc Úc là kangar, thì mọi thành viên của thị tộc đó, bằng cách này hay cách khác, đều cảm thấy họ cũng là những con kangaroo. Niềm tin ấy cũng tương thích với cái gì đã có thực: mọi chúng ta đều là một phần của xã hội, xã hội chỉ có thể tồn tại trong khối tập hợp bởi chúng ta.

Hơn thế, cái bên trong của ta được kiến tạo nên từ những phần đến với ta từ bên ngoài. Tên của ta, bản sắc riêng của ta có được từ những cách mà ta liên hệ với những người khác, và từ những cách mà họ liên hệ với ta. Những khía cạnh sâu xa hơn trong hình ảnh mà ta tự hình dung về mình có được một cách đầy sức mạnh từ kinh nghiệm của ta với người khác. Những cảm nhận về bản thân phần lớn được hình thành trong cái cách mà nht~rng người khác đánh giá ta. Ta có xu hướng nhìn bản thân qua con mất của những người khác.

Điều sâu xa nhất: ý thức riêng của ta là mang lính xã hội. Ta suy nghĩ bằng những từ ngữ mà ta không tự phát minh ra. Ta không thể suy nghĩ nếu không có ý tưởng, và ta hướng dẫn hành vi của mình bằng những lý tưởng. Nhưng cả ý tưởng lẫn lý tưởng đều không thể do ta tự tạo ra một mình. Các ý tưởng là lý tưởng phải có cái gì đó mang tính chung trong mình. Chúng là những khái niệm vượt lên cái cụ thể. Nhưng tự nhiên bao giờ cũng thể hiện nó với chúng ta như là những cái cụ thể, không bao giờ là những cái khái quát hóa. Mỗi cái cây là một vật độc nhất, chỉ bởi vì ta có ý tưởng chung về cây mà ta có thể nhìn thấy sự tương đồng giữa mọi cái cây và do đó xử lý chúng như là những cá thể của một tập hợp các vật cùng loại.

Cách thức duy nhất mà ta có thể vượt trên được cái ở đây và bây giờ của cái vật cụ thể này ở cái chỗ cụ thể này là đặt bản thân ta lên cái điểm ưu thế khác, nó cho phép cắt xuyên thời gian và không gian. Đó chính là cái mà xã hội đã làm. Hễ khi ta suy nghĩ, ta đều suy nghĩ bằng cách sử dụng những khái niệm nảy sinh trong giao tiếp xã hội. Giao tiếp bao giờ cũng phải vượt trên điểm nhìn cụ thể của mỗi người, bắc cầu đến những cái chung liên kết thực tế của người này với thực tế của người khác. Giao tiếp xã hội là cái tạo ra kho ý tưởng cơ bản của ta trong chừng mực, ý tưởng là những khái niệm trừu tượng. Vì ta sử dụng các ý tưởng để suy nghĩ, nên tâm trí ta tràn ngập cái xã hội. Ta không thể chạy khỏi xã hội ngay cả khi ta chỉ có một mình. Chừng nào ta còn có ý thức, chứng đó xã hội còn ẩn chứa trong đó.

Như vậy, xã hội vừa ở bên ngoài ta vừa ở bên trong cái cốt lõi của ý thức của ta. Đây chính là cái làm cho tính hiểu trưng của tôn giáo trở nên có sức mạnh đến như vậy: nó thể hiện những sự kiện bản chất của sự tồn tại con người của chúng ta. Nó lý giải vì sao hiểu trưng tôn giáo đã gộp nhập cả ý tưởng về bản sắc con người lẫn ý tưởng về bổn phận xã hội, vì sao có cả ý tưởng về linh hồn lẫn ý tưởng về Đấng tối cao cai quản cái toàn thể. Và bới vì tôn giáo hiểu trưng hóa các sự kiện căn bản của xã hội, nên nó bao giờ cũng phải dành không gian cho xung đột xã hội trong hệ thống các biểu trưng của nó. Bởi vì các xã hội chẳng bao giờ hoàn toàn thống hợp, nên tôn giáo bao giờ cũng nói đèn sự tồn tại của những thánh thần kình chống nhau, những người dị giáo, tệ nạn, ma quỷ. Tính biểu trưng của tôn giáo là tấm gương phản ánh thế giới xã hội.

Randall Collins: xã hội học về đấng tối cao
 
ChúngTa.com @ Facebook
 
Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: .
Tổng số người truy cập: .
Số người đang trực tuyến: .
.
Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,