Các cụm từ có liên quan tới chữ "quái", đều tạo cảm giác cho người nghe thấy gai rợn và ghê ghê...Ngay cả mấy ông nhà văn, nhà thơ có tâm hồn mộng mơ, đa sầu, đa cảm, dễ xúc động và hay lụy tình cũng không khoái dùng từ quái cho lắm. Theo như từ điển từ và ngữ Việt Nam, quái là "danh từ” chỉ con vật tưởng tượng có hình thù ghê gớm, lúc nào cũng chỉ chực hại người. Tùytheo từng hoàn cảnh cụ thể, người ta có thể dùng từ quái đi kèm với các từ(ác, dị, đản, gở, lạ, thai, vật...). Tóm lại, dù có đứng một mình hay song hành với từ khác thì cứ có từ quái là chẳng hay ho gì?
Chuyện ông quái mà tôi viết và kể ra đây không đến nỗi ghê rợn, kinh dị chết người gì. Mục đích chỉ ôn lại một thời chưa xa, trong hoàn cảnh, cuộc sống eo hẹp, đôi khi vì một chút lợi cỏn con, một toan tính cá nhân. Có khi chỉ là một tý phần hơn người, trong vô vàn người khác còn nghèo khó, mình tranh quyền và lợi hơn họ ắt có chuyện. Cái thời buổi thêm án, khát uống, có nhiều kẻ còn thổi phồng chuyện chân giò to hơn chân lý, khi bí thì ý chí cũng kém nắm xôi. Có một thời, ở làng xã kể cả huyện, tỉnh của quê hương tôi, ngô, khoai, sắn, củ mài, rau má lên ngôi vì thiếu đói. Một thời gian dài nhà nhà, người người không ăn độn mới là chuyện lạ. Mọi vinh quang chỉ nói một chiều là huyễn hoặc. Trong vinh bao giờ cũng có cái nhục. Ngược lại trong nhục cũng có cái vinh. Nhiều người có tâm có trí thường coi là lẽ thường. Khối kẻ ẩm ương nhiều lúc cứ tưởng mình cao thượng lêngiọng răn dạy, thích tô vẽ, kiểu lạc quan tếu, hay phê phán tả khuynh. Chống và xây, giống như cây cong hướng tây, chống vừa độ cây thẳng, chống mãi, chống hoài cây chẳng ngay, lại quay sang cong về phía đông. Rồi lại hô hào chổng mông đẩy từ đông sang tây. Cây thân mềm lắt lay mà sống, cây thân giòn dễ gẫy, đổ như chơi. Cái gì cứ suy xét kiểu phiến diện. Góc quan sát để nhận định, không nhìn tứ phía mà bình luận, dễ áp đặt và lầm lẫn là chuyện khó tránh. Giáo điều theo gốc Hán, chỉ việc áp dụng một điều việc gì đó theo sách vở. Nếu sách vở viết đúng, cách làm phù hợp theo thời thế thì giáo điều có tội gì đâu? Đã một thời, người ta hay để ý câu chữ, ngữ nghĩa từ tiểu thuyết, truyện ngắn, bài thơ, câu thơ nào đó để quy kết chụp mũ này nọ.Sự việc đang tròn thành méo mó, đang đỏ thành đen. Âu cũng là những gì thuộc về ấu trĩ, dại khờ của một thời để nhớ, để quên!
Ông quái là thủ trưởng một viện ở thời kỳ bao cấp. Thời đó, từ sếp chẳng mấy ai dùng như cơ chế thị trường bây giờ. Người đứng đầu một đơnvị dù nhà máy, xí nghiệp, công trường hay ở các vụ, viện nghiên cứu, nhân viên ai cũng dùng từ thủ trưởng để xưng hô kiểu quân sự hóa toàn dân. Sự khác biệt giữa cấp trên và dưới khá rõ ràng. Quyền và lợi chưa có thang bậc cụ thể và thường cùng đồng cam, cộng khổ kiểu ba cùng với nhau. Hiện tượng chạy chức cũng đã thấy. Người có chức phần lớn do tổ chức chọn lựa, dựa theo năng lực và độ dày kinh nghiệm, thường tỷ lệ thuận vôi số năm công tác. Đa phần sống lâu lênlão làng. Tôi có anh bạn thời quân ngũ, sau ba bốn lần nhỡ,cuối cùng cũng có được quân hàm thiếu tướng. Anh học xong Đại học Bách khoa, nhỡ đợt điều chuyển từ trường vào quân đội, đành phải nhập ngũ làm tân binh. Rồi anh lại nhỡ đi học Viện quân sự cao cấp vì gia đình có sự cố, bởi ông bố có vấn đề: Chặt phá cây xanh, khoanh vùng nuôi trồng thủy sản, vì cái sự kèn cựa địa vị. Mặc dù ông cụ là một người nhân hậu, đức độ có tài năng.Người tài thời ấy muốn tiến bộ phải giả vờ ngu dốt may ra mới khá được. Anh lại "nhỡ" không đi chiến trường miền Nam phải đi Ba Lan làm luận án tiến sĩ. Rồi anh lại "nhỡ" đề bạt lên vị trí cao vì không có thời kỳ tham gia trực tiếp đánh quân Mỹ, ngụy. Sau nhờ có đổi mới, tổ chức quân đội được sắp xếp lại, người ta mới ưu tiên đội ngũ có chuyên môn cao, phục vụ công cuộc hiện đại hóa Quốc phòng, bạn tôi nhờ có thời lại gặp may. Bộ đội thời bình phải có trình độ cao mới đảm đương được nhiệm vụ. Mới củng cố được Quốc phòng toàn dân. Đời người long đong lận đận có lẽ đều có số.
Khối người bố làm to, lúc trẻ không lo lập nghiệp. Hết thời dựa dẫm ô dù, mới hối tiếc thì đã quá muộn rồi.
ÔngViện trưởng ở cơ quan tôi thực sự là có tài. Thời là lưu học sinh ở Nga, ông rất chịu khó học tập và nghiên cứu. Đa phần lưu học sinh, nghiên cứu sinh ỷ lại việc "Hữu nghị hóa" đào tạo nên học một tý chạy chợ ba bốn tý, dù gì khi thi đều đỗ kiểu bằng cho, bằng tặng, vì bằng do phe XHCN cấp ấy mà, nhung dù sao vẫn còn hơn gấp vạn lần bằng dởm hiện nay. Đổi lại, khi về nước cũng đóng được vài thùng hàng, nhỏ là bàn là, dây may xo, to là xe đạp, tủ lạnh, đài đĩa để dùng và biếu một ít, còn đa phần cho "phục viên", "xuất ngũ” ở chợ trời. Số tiền "thu họach" được thấp thì mua được căn nhà, cưới được cô vợ, chạy thầy, lo thợ cũng có chỗ làm việc và ăn ở tươm tất. So với bạn bè làm ở trong nước, có nhịn ăn để dành dụm có khi cả đời cũng chả có được. Có ông trùm nuôi và tạo giống chó cảnh đã ví từ thực tế đi từ cơ hàn đến khi thành đội tay to đã ví: "Một đời ky cóp cho mình/ Không bằng chó cảnh làm tình một hôm" (thời có phong trào nuôi chó cảnh, mỗi bận cho chó lấy giống chó Nhật, Mỹ, Đức, Thổ Nhĩ Kỳ giá xin giống cũng tớ một hai triệu đồng đâu có ít). ÔngViện trưởng lúc ở Nga mải mê đèn sách. Ngoài cái bằng đỏ, ông chả có nổi tiền mua cái quạt tai voi. Đừng nói đến cái tủ lạnh Xaratốp. Nghe đâu có vài người bạn, nhờ ông làm hộ luận án, hay hiệu đính báo cáo tốt nghiệp giúp họ vì họ không có thời gian học. Bù lại bạn bè "lại quả" cho ông tút thuốc hay vài chục rúp tiêu vặt hoặc mua sách báo. Ở đời, được sự học thì mất sự tiền. Còn học ít thì ngược lại, nhận làm thuê trí tuệ ông thấy sướng. Mà nếu có cho đi buôn, loại người như ông thì lỗ cả vốn lẫn lãi là cái chắc. Vả lại, muốn làm soái ở thương trường Nga đâu có dễ. Thấp là dạng khôn lỏi, lừa lọc cả người ta và người tây. Bất kể loại nào, kể cả cao to, béo gầy, tây đen, tây trắng. Cao cấp thì làm đại ca, maphia trong đường dây buôn lậu xuyên quốc gia. Loại gà mờ như ông nếu có tung vào thương trường thì bật bãi là cái chắc...
Nhờ có trình độ chuyên môn, đặc biệt là ngoại ngữ, ông thật sự giỏi hơn số bạn bè cùng xuất ngoại mải nghiên cứu thương trường.
Khi về nước, ông có tới gần mười thùng sách. Xét về số thùng thì ông hơn, song số đồ thì lại kém. Hôm đón ông ở sân bay, có vợ đi cùng hai đứa con trai và cô con gái út. Nhìn ông mồ hôi nhễ nhại giữa trưa hè oi bức, ai cũng thương. Dáng người cao lòng khòng vừa đẩy vừa kéo những thùng đồ xem chừng quá nặng. Hải quan cứ gờm gờm, đầy soi mói, có thể họ nghi ngờ và nảy ra thắc mắc trong đầu: Đi có ba năm làm Luận án Tiến sĩ, mà hàng về nhiều hơn cả đội đi buôn! Ông này già mà quái đản, tham đến thế là cùng. Việc khám xét các thùng hàng của ông là đương nhiên. Đôi mắt đục vì đọc và thức khuya của ông, càng mờ hơn vì nhạt nhòa bởi lã chã mồ hôi phủ kín hai tròng mắt kính. Có lẽ chất thực ở ông có dịp được bộc lộ, qua lời giải thích. Toàn sách, chẳng hề có hàng hóa gì, ngoài bộ ấm pha trà samôpa! Mấy tay hải quan trẻ bán tín bán nghi, rồi mở đến bốn thùng, đúng như lời ông. Song cái tay răng vổ hải quan, sau cái cười hô hố và câu nói ồm ồm: Biết ma ăn cỗ lúc nào. Tháng trước có tay cha cố người Pháp, trong hành lý chả có gì ngoài quyển kinh thánh, thế mà mở ra có một hộc tiền đô toàn loại một vé cả. Làm nghề khám xét, kiểm tra mà cứ nhìn bề ngoài thì có ngày đi tù cả lũ.Thật tội nghiệp cho ông! 100% thùng hàng của ông bị khám tất. Nhìn đống sách, bìa mỏng, bìa cứng đổ đầy một góc phòng khám, ai cũng ái ngại và buồn cười. Trong số lưu học sinh về nước, có kẻ ác miệng còn nói: Buôn hàng là ngu, buôn sách không bị tù thì thành đại tướng.
Gần hai tiếng, sắp xếp lại đồ xong, ông mới ra được cửa hàng không. Vợ con mong đỏ mắt, tưởng ông bị bắt giữ lập biên bản vì hàng lậu ông mệt đếnnỗi không nói nổi một lời. Vợ ông mổ hẳn một con lợn, nhờ ông bà "chỉ đạo" làm gần ba chục mâm cỗ để chào đón ông Tiến sĩ về làng. Gia tộc ông hay cái dòng họ NguyễnBá của ông là loại họ bé ở xã chứ họ to như họ Phạm, họ Đỗ thì cỗ mừng mèng ra cũng phải ba lợn, một bò. Ông thực sự bị vợ con, mấy ông chú bác, cô, dì, anh em ca thán: Tưởng đi tây về được quà cáp to tát gì lắm, ngờ đâu chỉ nhất loạt mỗi một bánh xà phòng 72% đen xì với 1 đoạn dây mayxo dài cỡ 20 phân y như con giun đất. Mọi việc rồi cũng qua, ông cần mẫn làm ở viện. Nhiều công trình của ông thực sựcó ý nghĩa ứng dụng. Viện ông khác các viện khác ở chỗ không phải là viện nghiên cứu mặc kệ thực tế. Từ khi ông được bổ nhiệm làm Viện trưởng, tức khắc sinh ra có nhiều người kèncựa và ghen ghét. Một "lập trình" nói xấu ông được soạn thảo. Việc nhập dữ liệu, có cả một hệ thống chuyên gia chọc ngoáy và bình luận đưa tin vịt góp sức. Có người do không thỏa mãn nhu cầu về lương, ghế ngồi, đất,nhà,đề tài, đi tây đi ta, đi xa, đi gần, kể cả việc chức tước, học hàm, học vị nghĩa là ty tỷ việc đố kỵ đượm màu vật chất.
Họ rì rầm, bàn tán. Có tay nho nhe thơ văn làm hẳn cả một bài vè nói xấu ông Viện trưởng.
Danh từ ông quái (tiếng lóng gán cho ông) cứ lan truyền nhu kiểu vết dầu loang. Để minh chứng, họ tung ra vô số chứng cứ. Nào là chuyện các xã biếu ông thịt, cá, gạo tẻ, gạo nếp, đỗ xanh. Góp gió thành bão, mỗi HTX, mỗi nơi chỉ biếu ông dăm cân thôi, thì hơn chục cơ sở xã, huyện thuộc mấy tỉnh đồng bằng sông Hồng gom lại số quà thu được quy thành tiền sẽ lớn phải biết. Nếu tính kiểu đếm cua trong lỗ, hay tích phân toàn phần, thì cả năm gia đình ông không phải mua gạo, thịt. Vì đề tài giống mới cho cây trồng vật nuôi thực sự có hiệu quả với người quê nênhọ hay biếu gạo thịt ông là chuyện thường. Họ dựng chuyện ông hay dùng xe con về quê mượn cớ thăm kiểm tra các khu nuôi trồng thí điểm để vơ vét lương thực thực phẩm. Cái khó khăn về đồ ăn thức uống, kể cả trí thức lẫn người thường đều soi mói, để ý tí vật chất cỏn con. Muốn nói xấu người khác cứ tập trung vào ba cái việc lẻ tẻ ấy. Nhưng đặc biệt và phức tạp hơn là chuyện phân phối. Có đơnthư nặc danh tố cáo ông gian lận trong hai lần bốc thăm để trúng phiếu cung cấp xe đạp Phượng Hoàng và cái quạt bàn hiệu Hoa Sen của TrungQuốc. Của đáng tội, lần nào ông cũng chủ trì các cuộc họp để bình chọn. Nhiều cuộc còn gay gắt và sôi nổi gấp trăm lần Hội thảo khoa học. Bình thường ai cũng trông có vẻ hiền lành trầm tư. Đúng dáng vẻ của công chức trí thức, nặng lòng với khoa học, coi thường vật chất. Song có dự các cuộc bình xét phân phối căng tin thời bao cấp mới thấy hết bản chất thực của con người. Ông chủ trì họp, sau nhiều ý kiến về cách phân phối do "thịt ít ruồi nhiều”. Chẳng thấy ai nhường nhịn ai cả. Phương án cuối cùng là may ai người ấy hưởng bằng cách bốc thăm. Việc thực hiện làm phiếu để cán bộ viên chức toàn Viện cùng bốc do tay trưởng phòng hành chính của viện chủ trì. Phiếu chỉ là mẩu giấy không và có chữ có.
Là lãnh đạo thường bốc sau cùng, thường viện trưởng, gương mẫu ít tỏ thái độ tranh giành. Mọi người đều tranh nhau bốc thăm. Sau khi mở ra, mặt ai cũng tai tái, dại dại, đờ đẫn như kiểu mất sổ gạo. Chiếc thăm cuối cùng của ông do tay Trưởng phòng hành chính bốc hộ. Vừa bốc và bóc xem, hắn vừa hô to: Thủ trưởng lại trúng rồi. Hắn tự nhiên hô như kiểu người nghèo mua sổ xố trúng giải khuyến khích có hai số đuôi trùng với số độc đắc.
Lần đầu bốc thăm trúng cái quạt, ông cũng chẳng để ý tớit cái phiếu bốc thăm xem có chữ có hay không? Chỉ tin vào lời tay Trưởng phòng hành chính. ÔngViện trưởng đã có một thời là lính, ông tin ở tướng số. Số may thì làm gì, ở đâu cũng có quý nhân phù trợ, kể cả tí lộc trời cho dù là cái quạt. Vợ con ông kể cả bà mẹ già, gần 80 tuổi, vẫn đuổi muỗi và quạt mát bằng cái mo cau to bằng tờ báo gấp đôi.
Đợt bốc thăm lần hai, ông lại trúng cái xe đạp. Đây thực sự là một món vật chất quá to ở thời bao cấp. Cũng vẫn tay Trưởng phòng hành chính vừa đọc to vừa ấn vào tay ông cái kết quả "có", trong khi đó thì mọi người đều là phiếu có chữ "không". Ông mộ phiếu xem thì ông không tin vào mắt mình. Vì phiếu của ông cũng chỉ là Chữ “không".
Chả hiểu theo bản năng tham một tí hay ông giữ cho uy tín của Tay trưởng phòng hành chính, mà ông cứ ngồi lặng ra đến ba bốn phút. Còn tay Trưởng phòng cứ nhìn ông, như người xem bảng kết quả thi hay sổ xố kiến thiết thủ đô. Sau những phút giây căng thẳng, ông đã lặng im. Nói như một số chuyên gia về tổ chức. Thì mọi sự hỏi ýkiến về nâng lương, đề bạt nếu nhân sự im lặng là đồng ý. NgườiViệtNam hay khiêm tốn, biết im lặng. Ở nhiều Hội nghị, cứ ông nào có chức tước cao nhất mà phát biểu. Thì dù đúng hay sai đa số người nghe đều im lặng. Có nhiều người có đầu óc cơ hội còn gật gù, tán thưởng hoặc ghi chép lia lịa vào sổ tay. Nhìn ở xa, tưởng họ ghi lời vàng bạc của ông này, bà nọ.Song ngồi gần, nhìn kỹ, hóa ra họ ghi các khoản chi tiêu hay có tay còn làm thơ tình tặng người yêu hay cô bồ cũ. Vừa đỡ buồn ngủ lại đỡ bị sếp vô tình để ývề thái độ. Thời trước dễ bị quy kết từ hành vi cử chỉ thành quan điểm lập trường.
Sau khi trúng phiếu được mua cái xe đạp, ông Viện trưởng lúc nào cũng áy náy.Còn tay Trưởng phòng hành chính của Viện thì có vẻ thân tình với Viện trưởng hơn. Ăn nói ngông nghênh hơn, thái độ thì lộng quyền, coi mấy ông Viện phó, mấy tay Trưởng phòng có bằng đỏ chả là cái thứ gì? Cao hứng còn bốc đồng dọa có ngày lênthẳng làm Viện trưởng thì chúng mày biết tay ông.
Nhân ngày chủ nhật, tình cờ cả ông Viện trưởng và Trưởng phòng cùng phải trực ở Viện. Sau hồi nhâm nhi chén rượu, củ lạc, mọi tâm sự bộc bạch của ông về việc ở thời buổi khó khăn về vật chất, mà mình may mắn được nhiều lộc thế e không tiện. Cán bộ Đảng viên quần chúng ở viện dị nghị. Chẳng để ông giãi bày những suy nghĩ trăn trở về vụ việc bốc thăm phân phối quạt và xe. Nghe mọi người rì rầm điều ong, tiếng ve, càng nghe mình càng thấy bứt dứt. Sau một thoáng vẻ như đồng cảm, tay trưởng phòng bộc lộ: Mọi việc đều do em "thiết kế", cả viện có bốn chín người. Khi làm phiếu bốc thăm em đều làm tất cả đều là phiếu "zia rô". Em biết tính anh thật thà, khiêm nhường, thể nào cũng bốc cuối. Mọi người bốc, đọc đều là "không", thì đương nhiên theo logic phiếu "có" phải là của anh. Điều đơn giản về phương pháp loại trừ này em học được khi còn là Sinh viên khoa Toán ở Trường Đại học Tổng hợp. Ở đời, ai không biết tính toán là người ngu. Ở ta, cả một thời gian dài, ở đâu cũng áp dụng chủ nghĩa bình quân. Tưởng là hay, nhưng thực tế cho thấy phân phối kiểu ấy chỉ gây mất đoàn kết, gây ganh tị. Đồng thời, còn sai cả nguyên lý (làm theo năng lực, hưởng thụ theo yêu cầu). Bây giờ, người ta còn phát hiện ra cây thực vật, ăn thịt động vật như cây gọng vó, ở mỗi đầu xúc tu có những chất lỏng dính để bắt mồi. Ở các đầm lầy HoaKỳ, cây bắt ruồi có cái bẫy' ghê sợ ở cuối lá để cuốn mồi. Kiếm ăn cũng là một kế để sinh tồn.
Người cũng là một sinh vật tiến hóa nhờ bộ não và lao động. Có làm thì phải có ăn.Làm nhiều ăn nhiều, làm ít ăn ít, không làm thì không sài. Các cụ từng dạy: "Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ". Cứ thế tay trưởng phòng thao thao, bất tuyệt về cái mớ lý luận hỗn độn kiểu thực dụng sinh. Song cũng có một đôi ý xem chừng cũng lọt lỗ tai.
Thời ấy làm lãnh đạo có tham một tí, có khi cân thịt, con gà, cao xa, cách biệt là cái quạt, cái xe. Nghe ra cũng là lẽ thường. Cái thời biếu nhau cân đường hộp sữa khi nằm bệnh viện cũng là cách ứng xử đời thường. Bây giờ, nhiều sự nhiễu nhương, ba cái chuyện như ông quái có thấm vào đâu so với chuyện tham nhũng làm giàu. Biếu nhau kín hở, cửa trước cửa sau. Như chuyện xăng dầu, nhà lầu, xe hơi, báo chí khắp nơi đưa tin. Cái thời lạm phát phong bì/ Chất bôi trơn của thời kỳ nhiễu nhương/ Cò lo chạy đất ở phường/ Lo chạy bằng giả ở trường chính quy/ Dám chạy án thực ly kỳ/ Tội nặng tội nhẹ thôi thì án treo/ Không sợ khổ sẽ đói nghèo/ Khôn ngoan chẳng thể gieo neo nhọc nhằn. ÔngViện trưởng nhiều năm, qua các đợt bình chọn, giới thiệu các học hàm, học vị. Ông đều từ chối, có lẽ ông thấy mình chưa thật xứng đáng. Phải chăng vì "cái vụ quạt và xe" phân phối thời bao cấp cứ ám ảnh ông ở mọi lúc, mọi nơi.
Bình tâm nghĩ lại, bạn tôi, ông Viện trưởng ấy, đâu đến nỗi "Quái" như nhiều người nghĩ.