Từ miền Trung đi thẳng vào Sài Gòn, ngay sau khi thành phố vừa giải phóng, một trong những mong ước đầu tiên của tôi là gặp gỡ một số trí thức và văn nghệ sĩ từng nghe tiếng.
Hầu hết, những vị tôi muốn gặp đều tiếp người ngoài Bắc vào với thái độ nhiệt tình, ít nhất cũng lịch sự dù không giấu vẻ lạnh lùng. Duy có hai người khước từ: Thượng toạ Thích Trí Quang và học giả Nguyễn Hiến Lê.
"Văn kỳ thanh"
Tôi gặp nhà sư Thích Trí Quang chủ yếu vì tò mò. Còn Nguyễn Hiến Lê là người mình thực lòng hâm mộ. Vì vậy, chờ một thời gian lâu cho tình hình thành phố thật ổn định, tôi lại đến gõ cửa ngôi nhà có gốc hoàng lan ở đường Kỳ Đồng.
Dường như đối với học giả nổi tiếng này, tôi có chút duyên. Tôi nghe tên ông đã lâu, tuy chưa được tiếp cận trọn vẹn một tác phẩm nào. Ở Hà Nội thỉnh thoảng vẫn gặp ông trên tạp chí Bách khoa được tiếng đứng đắn xuất bản tại Sài Gòn. Bài nào ông viết cũng toát lên sự tự tin về kiến giải, lời văn mạch lạc, giản dị và trong sáng lạ thường.
Tại Đà Nẵng, tôi hay la cà các hiệu sách. Một lần, chị hàng sách thấy khách xem nhiều mua ít, nghĩ chắc anh bộ đội không đủ tiền, liền bê một chồng sách từ trên giá xuống, bảo tôi mang theo mà đọc. Tôi chọn lấy hai cuốn, biết mình còn tiếp tục đi xa về hướng Nam, và cũng không muốn lợi dụng lòng tốt của đồng bào. Hai cuốn sách ấy đều của Nguyễn Hiến Lê. Cuốn Lịch sử văn minh Ấn Độ của nhà sử học Mỹ Will Durant do ông dịch, và bộ Sử ký của Tư Mã Thiên ông cùng làm với Giản Chi.
Tờ tạp chí mới duy nhất in trước ngày 30/4 bày bán tại hiệu sách tôi mua được ở Sài Gòn cũng lại là tờ Bách khoa số cuối cùng (426) ra ngày 20/4/1975. Đây gần như là một đặc san mừng cuốn sách thứ 100 của Nguyễn Hiến Lê, xuất bản khớp với ngày phát hành tạp chí. Cuộc triển lãm toàn bộ tác phẩm của nhà văn nghe nói định làm ở nhà sách Khai Trí đã không diễn ra vì thời cuộc.
Đến khi say sưa tìm hiểu đồng bằng sông Cửu Long, sưu tầm tài liệu về vùng đất ấy, tôi lại gặp Nguyễn Hiến Lê. Cuốn Du khảo Bảy ngày ở Đống Tháp Mười phần nào mảnh mai về độ dày mà ngồn ngộn thông tin, chứa đựng nhiều tư liệu vững chãi. Một cuốn biên khảo hấp dẫn gần như tiểu thuyết. Tôi nhiều lần trích dẫn nó trong các bài viết cuối những năm 1970 về đồng bằng Nam Bộ.
Cuộc gặp đầu tiên
 |
|
Nguyễn Hiến Lê (1912–1984) - nhà văn, học giả, dịch giả, nhà giáo dục và hoạt động văn hóa độc lập
Nguyễn Hiến Lê có những đóng góp đáng trân trọng và sáng giá về học thuật ở các lĩnh vực: ngữ học Việt Nam, lịch sử và triết học, văn học Trung Hoa. Tính ra, số bộ sách của ông được xuất bản gần gấp 1,5 lần số tuổi của ông và tính từ năm ông bắt đầu có sách in (đầu thập niên 1950), trung bình mỗi năm ông hoàn thành ba bộ sách với 800 trang bản thảo có giá trị gửi tới người đọc.
Những năm trước 1975, tại Sài Gòn ông là một trong vài người cầm bút được giới trí thức quý mến về tài học, nhân cách đối với xã hội cũng như trong học thuật.
Không có vấn đề nào cấp thiết liên quan đến công cuộc cải tiến dân sinh, xã hội mà không có những bài viết thiết thực kịp thời của ông để bày tỏ quan điểm của mình một cách minh bạch hay góp ý kiến xây dựng hết sức khách quan và thẳng thắn với chính quyền, với các giới, tổ chức... Khi cần nói thẳng thì ông không ngần ngại nói ngay lên sự thật, nói lên cảm nghĩ chống đối của mình, song vẫn chân thành, có tinh thần xây dựng, không đả kích cá nhân. Trên công việc làm, ông tiêu biểu cho hạng người cần mẫn, siêng năng, nói ra là tin cậy được.
Đời tôi có thể tóm tắt trong hai chữ HỌC và VIẾT. Hai việc đó liên quan mật thiết với nhau gần suốt đời, tôi VIẾT ĐỂ HỌC và HỌC ĐỂ VIẾT - “Lời mở đầu” của tác phẩm “Đời viết văn của tôi”.
- Khi nghèo thì phải tận lực chiến đấu với cảnh nghèo vì phải đủ ăn mới giữ được sự độc lập và tư cách của mình. Nhưng khi đã đủ ăn rồi thì đừng nên làm giàu, phải để thì giờ làm những việc hữu ích mà không vì danh và lợi. Giá trị của ta ở chỗ làm được nhiều việc như vậy hay không.
>> Trang tác giả: Nguyễn Hiến Lê - nhà trí thức chân chính | Một con người dong dỏng, mái tóc hoa râm, vẻ mặt đăm chiêu, mặc chiếc sơ mi trắng dài tay rộng và chiếc quần Âu cũng rộng thùng thình, hơi khác thường so với thời trang bó sát người thời ấy. Đó là hình ảnh nhà văn Nguyễn Hiến Lê lưu lại trong tôi khi ông thong thả từ gác hai xuống tiếp khách. Trước khi vào phòng, tôi đã dừng lại một phút ở hành lang ngắm cái tủ sách đóng theo lối cổ xếp đầy sách, toàn tác phẩm của Nguyễn Hiến Lê.
Tôi trao tặng ông cuốn sách mới in, Đất nước một dải tập hợp những bút ký viết dọc theo chiều đất nước, từ khi giải phóng Quảng Trị ngày 19/3/1975, qua Huế, Đà Nẵng, Đèo Cả, Cam Ranh, Vũng Tàu, Sài Gòn đến "những cánh đồng thẳng cánh cò bay", do Nhà xuất bản Thanh Niên vừa ấn hành. Ông nói: "In cũng nhanh nhỉ" trong khi những ngón tay tiếp tục lật các trang và đôi mắt lướt qua các bài viết. Đến trang cuối sách, ông ngẩng đầu hơi lộ vẻ ngạc nhiên: "Mười nghìn bản?".
Đặt sách xuống bàn, ông nói tiếp: "Ở trong Nam này, sách in lần đầu, chẳng bao giờ lên tới con số ấy".
Dường như cuốn sách nhỏ giúp đánh tan bầu không khí phần nào lạnh nhạt ban đầu. Thay những lời đối đáp xã giao, ông mặn mà trả lời những câu tôi hỏi. Tôi kể ông nghe chuyện được biếu sách tại Đà Nẵng, và thật thà nhắc lại, ngay sau ngày mới giải phóng tôi có đến thăm ông, tiếc là gặp lúc ông không được khoẻ. Ông nói: "Tôi mắc bệnh đau bao tử từ lâu, thỉnh thoảng nó lại hành cho một trận". Tôi đáp: "Bệnh của người lao động trí óc. Chắc bác biết, tại bác làm việc quá miệt mài, ngồi tại chỗ, ít đi lại...". Ông cười: "Tôi biết tất cả. Biết mà không sao làm khác. Cái nghiệp của mình là đọc và viết mà...".
Tấm gương sáng về tự học
Đời văn của Nguyễn Hiến Lê là một hiện tượng hiếm thấy ở nước ta. Nghiên cứu, biên khảo, cảo luận, tiểu phẩm, dịch thuật, bình chú..., trong khoảng thời gian hai mươi năm (1955 - 1975), cho ra đời một trăm tác phẩm - trong đó nhiều cuốn ba, bốn tập và rất có giá trị.
Giáo sư Đào Duy Anh đánh giá bộ Đại cương văn học sử Trung Quốc của Nguyễn Hiến Lê là "tác phẩm trội nhất từ trước tới nay trong loại của nó". Bộ Đại cương Triết học Trung Quốc viết chung với Giản Chi là một tác phẩm đồ sộ (1.700 trang). Ba tập Lịch sử văn minh Ấn Độ, A Rập, Trung Quốc, dịch của Will Durant, có chú giải và bình luận dày hơn hai ngàn trang.
Bảy, tám năm cuối đời (1975-1984), trở về sống tại đồng bằng sông Cửu Long nơi ba mươi năm trước ông giã từ để "lên Sài Gòn sống bằng cây bút", nhà văn còn viết và dịch thêm hơn hai mươi cuốn nữa. Có những cuốn đòi hỏi sự nghiên cứu công phu, như khảo luận triết học Trung Hoa trước đời Tần. Chỉ tính riêng về số lượng, đã là một kỳ tích.
Nguyễn Hiến Lê là một tấm gương sáng về tự học. Ra đời làm một kỹ sư công chính, vốn Tây học của ông khá dày dặn. Tuy nhiên, cho dù xuất thân gia đình Nho học, thuở nhỏ có theo đòi đôi ba chữ Hán, và về sau, những kỳ nghỉ hè cũng có về quê học với ông bác, vốn Nho học của ông "trước sau có bốn tháng, mỗi ngày học hai giờ!. Thuộc bốn ngàn từ, quên mất một nửa".
Sau khi đỗ kỹ sư, thời gian chờ việc, ông học chữ Hán. Chiều chiều đến Thư viện Trung ương đường Trường Thi (nay là Thư viện Quốc gia) mượn bộ Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh. Rồi “bắt đầu từ chữ A, tìm những từ và ngữ nào đoán thường dùng mà chưa biết thì chép lại trong một tập vở, mỗi ngày độ ba, bốn chục từ". Tối hôm đó và sáng hôm sau học thuộc những gì sáng đã ghi chép, chiều lại đến thư viện.
Ông còn mượn cuốn Ngữ pháp tiếng Trung của một tác giả viết bằng tiếng Pháp để học và ghi những điều quan trọng. Với cái vốn ấy, bắt đầu đọc nguyên bản truyện Tàu (Tam quốc chí), lúc đầu chậm sau nhanh, càng quen càng thích...
Đừng cầu danh, danh sẽ tới
Thời học sinh, ông cũng có học tiếng Anh, vừa đủ để vượt qua cửa ải môn ngoại ngữ kỳ thi tú tài. Chính sách của nhà cầm quyền Pháp thời trước, dù không nói ra, không muốn học sinh Việt Nam biết thêm một thứ gì khác ngoài ngôn ngữ và văn chương Pháp. Để có thể làm việc nghiên cứu, biên dịch, trước tác, Nguyễn Hiến Lê tự học thêm Anh ngữ, khá tới mức được một trường tư thục mời dạy Anh văn. Ông quả quyết: "Muốn kiểm soát sự hiểu biết của mình (về ngoại ngữ), muốn hiểu cho rõ thì phải dịch ra tiếng Việt".
Trau dồi ngoại ngữ, ông không coi đó chỉ là phương tiện làm việc mà còn là một cửa ngõ đi tiếp vào biển học không bờ. Cuối đời, sau khi đã tạo lập nên một sự nghiệp đáng nể vì, Nguyễn Hiến Lê khẳng định: "Đời tôi có thể tóm tắt trong hai chữ Học và Viết... Chép về đời văn của tôi, phải nhắc trước hết đến việc tự học".
Ông có lời khuyên các bạn trẻ, thoạt nghe như nghịch lý mà rất nghiêm trang: "Khi muốn học về một vấn đề nào thì cứ viết sách về vấn đề ấy... Viết sách tức là tự ra bài cho mình làm. Học mà không làm bài thì chỉ mới đọc qua chứ không phải học". Một thái độ như vậy có phần nào chưa thật trang nghiêm đối với công việc trước tác chăng? Dường như thấy trước phản xạ của độc giả, ông trấn an ngay: "Khi viết nên nhớ mục đích của ta là để tìm hiểu chứ không phải để cầu danh. Đừng cầu danh thì danh sẽ tới. Cầu nó, nó sẽ trốn...".

Triển lãm sách của Nguyễn Hiến Lê tại Sài Gòn năm 1959.
Đọc - ghi và viết
Đọc và viết là nếp sống hằng ngày của Nguyễn Hiến Lê. Buổi sáng, sau điểm tâm, công việc mở đầu ngày làm việc là đọc chứ chưa phải viết. Đọc hết nửa buổi, mới ngồi vào bàn. Chiều cũng vậy. Còn cả buổi tối chỉ dành cho sự đọc. Sách nào mua về cũng đọc, dù chán cũng ráng mà đọc, để biết qua nội dung "trừ loại chưởng của Kim Dung".
Những nơi đọc sách luôn để sẵn cây bút chì và cục gôm (tẩy). Đọc thấy chỗ nào đáng chú ý, cần xem lại hoặc ghi chép thì đánh dấu vào trang. Đọc xong chương nào, giở lại xem những đoạn có đánh dấu, ghi ngay những điều cần nhớ hoặc suy nghĩ, bình luận của mình.
Về mặt này, ông có điểm giống văn hào Ernest Hemingway: "Điều lớn lao nhất là sống, là làm công việc của mình - Hemingway nói - là nhìn, học và hiểu. Rồi lúc ấy mới viết, sau khi đã biết được một điều gì đấy, sau chứ không phải trước".
Những người cầm bút đều biết, viết không phải lúc nào cũng là một thú vui. Đối với Nguyễn Hiến Lê, "dù không có hứng cũng đúng giờ ngồi vào bàn viết, viết bừa vài câu, nửa trang, rồi hứng tự nhiên tới". Có thấy cách làm việc của ông, mới hiểu tại sao ông trước tác được nhiều như vậy. Nhà thơ Quách Tấn uyên thâm cổ văn từng ngạc nhiên: Riêng việc Nguyễn Hiến Lê đọc sách cũng đã khó có người bì kịp, chứ đừng nói đọc rồi còn viết.
Một đặc điểm nổi bật trong phương pháp làm việc của Nguyễn Hiến Lê là ghi chép. Ông ghi cẩn thận, không mệt mỏi, thường là tại chỗ qua mỗi chuyến công vụ khi còn làm công chức (mà ông gọi là "đi kinh lý") hoặc những lần chuyển dịch vì việc riêng. Từ khi bắt đầu cầm bút, ông đã có thiên hướng viết du ký, đi đến đâu ông cũng chịu khó ghi chép cảnh đẹp, tục lạ, cổ tích... Trở về nhà, ghi ngay lại cảm tưởng cả chuyến đi. Văn phong của ông lưu loát.
Hãy đọc lại một đoạn ông viết bảy mươi năm trước về cái ga xép Lăng Cô, nay là điểm du lịch khởi sắc ở miền Trung, nhất là từ khi hoàn thành đường hầm Hải Vân: "... Từ trên cao nhìn xuống, nó y hệt một bức tranh thuỷ mặc của Trung Hoa. Một cù lao nhỏ ở gần bờ, bằng phẳng, trồng toàn dương, có chùa có nhà, có ghe đánh cá và lưới đánh cá phất phơ dưới gió. Một cây cầu dài nối với bờ. Những buổi chiều mây ngũ sắc in trên mặt nước, những chiếc ghe giương buồm ra khơi, hay những đêm trăng sóng bạc nhấp nhô vạch một đường sáng tới một đảo nào ở chân trời mù mịt, ngồi ở góc đường đầu cầu này mà ngắm trời nước...".
Sách đã in ra, ông vẫn kiếm tiếp tài liệu để bổ sung khi tái bản. Như cuốn Đông kinh nghĩa thục (xuất bản lần đầu 1956), lần tái bản bổ sung ba mươi trang (1968), in lần thứ ba thêm hai mươi trang nữa (1974). Số lượt đọc:
620
-
Cập nhật lần cuối:
29/06/2009 11:57:55 AM
Ý kiến của bạn về bài viết: |  | | Nguyễn Hiến Lê (1912–1984) |
Thông tin liên quan: Giáo dục "cứu rỗi" xã hội06/10/2009 04:01' PM Jean Piaget (1896 - 1980) vừa là một nhà giáo dục, một nhà nhận thức luận, và là một nhà tâm lý học. Ông là hình ảnh của một viện sĩ hàn lâm “khai sáng” cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp đấu tranh chống lại các thể chế kìm kẹp và các định kiến về những người trí thức ở thời đó. Thế hệ ngày mai05/08/2009 11:01' AM Nước đương ròng, nhưng nước tất sẽ lớn; gió đương ngược nhưng rồi gió cũng phải xuôi. Mở đỏi và dương buồm trước đi các bạn, để đưa em bé- tức thế hệ ngày mai- tới một bến rực rỡ hơn cái bến chúng ta đương đậu, hỡi các bạn yêu em bé! Nhân sinh quan của tôi25/07/2009 03:30' PM Rải rác trong các tác phẩm của tôi thường đưa ra những suy tư, ý kiến của tôi về nhiều vấn đề, dưới đây tôi lựa và gom lại một số thuộc về nhân sinh quan: Nguyễn Hiến Lê - một người Hà Nội30/12/2005 08:08' PM Bút danh Lộc Đình được nhà văn hoá của dân tộc Nguyễn Hiến Lê dùng ký dưới một bài văn ngắn từ hồi trẻ… Lộc là ngõ Phất Lộc, còn Đình là cái đình ấy… Nguyễn Hiến Lê, người trí thức chân chính14/12/2003 03:51' PM Nhà văn Nguyễn Hiến Lê trong con mắt của những người đồng thời và của lớp hậu sinh thường được nhìn nhận như là một học giả có sự nghiệp trứ tác đáng nể về đủ mọi phương diện khảo cứu, biên soạn, dịch thuật với 122 tác phẩm để đời mà hầu như tác phẩm nào cũng có một giá trị riêng biệt đáng được nhắc nhỏ, mà ít ai nhấn mạnh đầy đủ đến khía cạnh ông là một trí thức chân chính thể hiện ở thái độ yêu nước thương dân chân thành,lúc nào cũng bận bịu việc đời, trăn trở với những nỗi thăng trầm của dân tộc cũng như về những vấn nạn của thế giới mà số phận của dân tộc không thể tách rời... Đi lễ hội để cầu may và cầu lợi?18/03/2010 11:12' AM Lễ hội càng ngày càng bát nháo với đủ thứ biến tướng của mê tín, kinh
doanh trục lợi, nguyên nhân sâu xa của nó từ đâu? Niềm tin mong manh,
cuộc sống bất trắc, con người phải bám víu vào tâm lý cầu lợi để lấp đầy
hố sâu ham muốn quyền lợi… Báo chí và… quyền được sai17/03/2010 08:51' AM Hội thảo khoa học quốc tế về “chống xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín, đăng tin sai sự thật trên các phương tiện truyền thông” (ngày 10-3, tại Hà Nội) đã mở ra vấn đề cần phải cân phân giữa quyền của báo chí và quyền của công dân. Tiếp nội dung hội thảo, một khía cạnh khác được khơi lên: Báo chí được đưa thông tin tới ngưỡng nào? Khoanh tay kính cẩn cúi đầu16/03/2010 09:05' AM Cũng còn những chỗ thiêng liêng con người cần cúi đầu. Cũng cong những người mà ta phải vòng tay kính cẩn. Cũng còn những giá trị mà ta phải nâng niu tôn trọng. Cũng còn những chốn mà bước chân đến ta phải giữ được vẻ thanh sạch tôn nghiêm. Xin một chữ thôi13/03/2010 03:21' PM Ngày xuân người ta kháo nhau đi xin chữ. Mong đức thì xin đức, mong phúc thì xin phúc, bâng quơ nhặt một câu thơ viết bằng thứ chữ nguệch ngoạc làm sang. Trong cái âm hưởng sang xuân ấy, tôi cũng xin một chữ, chỉ xin một chữ thôi. Báo chí và quyền lên tiếng12/03/2010 10:08' AM "Nhiệm vụ quan trọng trong nghề báo là cởi bỏ mặt nạ của những kẻ làm sai, lừa đảo và xì căng đan..." - GS Stephen Whittle, ĐH Oxford (Anh) nói. Tâm linh... mấy hột06/03/2010 11:05' AM Chỉ tội nghiệp cho những đám đông chắc hẳn không có triển vọng gì về quan lộc, nhưng chỉ vì a dua, vì nghe nhiều tuyên truyền quảng cáo, dấn mình xé rào xông vào lễ hội, bị sảy chân, bị roi đánh ngã ngất, sày vảy mà không xin được ấn được lương, đầu năm đã rông như vậy, cả năm sẽ ra sao? Hãy nghĩ lại: chẳng có một hột tâm linh nào đâu, nơi những lễ hội cửa quyền ấy! Những lí do để bạn tới Hà Nội05/03/2010 08:46' AM ... Cùng Những lý do để bạn tới Hà Nội nhưng không ở lâu và Những lý do để bạn không tới Hà Nội. Ngẫm về Tín ngưỡng người Việt02/03/2010 01:43' PM Khu tôi ở có cả nhà giàu và nhà bình thường. Tôi là người có tín ngưỡng nhưng quan niệm Phật tại tâm, nên cũng ít đi chùa chiền miếu mạo... Bài khác: Văn hóa gia đình28/06/2009 01:59' PM Gia đình là một khái niệm động, gia đình không phải là những bữa ăn đầm ấm, gia đình không phải là những buổi picnic hấp dẫn đối với người xem. Nếu gia đình là một vở kịch để người khác xem cho đẹp mắt thì gia đình ấy chắc chắn không bền vững và không hữu ích. "Ngày gia đình Việt Nam" nhìn từ góc... chuyển động!28/06/2009 09:56' AM Không phải ai cũng có thể được sống với "nửa cuộc đời" của mình. Không phải ai cũng dễ dàng tạo dựng được một hình ảnh gia đình trọn vẹn theo nghĩa thông thường. Nhưng họ vẫn có thể làm nên những tế bào hoàn hảo cho xã hội theo cách lựa chọn riêng của mình. Không gian tinh thần22/06/2009 05:43' AM Cái Tôi là điểm bắt đầu của mọi quá trình xã hội. Cái Tôi là hạt nhân cơ bản trong cấu trúc đời sống tinh thần của con người, nó chính là cái phôi tinh thần để tạo ra một cá thể trọn vẹn. Một xã hội văn minh là một xã hội có các cá thể trọn vẹn, tức là một cộng đồng có tính cá thể. Một cộng đồng mà không có tính cá thể hay chất lượng cá thể không trọn vẹn thì khó có thể tồn tại và phát triển... Buôn dưa lê toàn cầu?21/06/2009 10:08' AM Cỗ máy khổng lồ có tên Internet đã tạo điều kiện để cả thế giới xích lại gần nhau hơn, nhưng thay vì để trao đổi giao lưu văn hóa với nhau, thì người ta lại sa vào buôn dưa lê toàn cầu, đến mức bị những ảo giác về thế giới thật... Chuyện làm báo ở Sài Gòn trước 197521/06/2009 09:31' AM "Nhiều nhà báo trẻ bây giờ sính dùng tiếng Anh, tiếng Mỹ trong bài quá, mặc dù nhiều từ có tiếng Việt tương ứng. Có khi lại dùng từ nước ngoài kèm theo tiếng Việt, kiểu như: fan hâm mộ, nắp ca-pô…” - ông Y. nói. "Tôi nhớ báo chí Sài Gòn thời trước 75 không ai viết tiếng Việt theo kiểu "ba rọi" như vậy, mà phóng viên có lỡ viết thì biên tập viên cũng sẽ sửa ngay". Những “kỳ biến” trong làng báo đầu thế kỷ XX20/06/2009 03:40' PM Về cơ bản, đến những năm 30 của thế kỷ XX, các thể loại báo chí Việt Nam đã định hình khá rõ nét, có phần được chiếu theo những tiêu chí của báo chí phương Tây. Bên cạnh những thể loại cũ, một số thể loại mới xuất hiện, tạo nên những "kỳ biến" trong làng báo đầu thế kỷ XX. Đọc lại Mác về báo chí tự do20/06/2009 08:00' AM Báo chí nói chung là sự thực hiện tự do của con người. Do đó ở đâu có báo chí ở đó có tự do báo chí. Bản chất của báo chí tự do – đó là bản chất dũng cảm, có lý tính, có đạo đức của tự do. (Các Mác) Chuyện về nhà báo Kim Quốc Hoa19/06/2009 07:52' AM Nhà báo Kim Quốc Hoa, Biên tập viên cao cấp, Tổng Biên tập Báo Người cao tuổi tâm sự: "Khát khao được cầm súng chiến đấu, nhưng không toại nguyện. Đơn vị giữ tôi lại ở miền Bắc để làm công tác tuyên truyền văn hoá, văn nghệ, làm báo tường. Thế rồi, tôi trở thành phóng viên chuyên nghiệp một cách tình cờ và may mắn...". Trải qua cương vị lãnh đạo của 6 cơ quan báo chí, nhà báo Kim Quốc Hoa luôn giữ được bản chất người lính tiên phong trên mặt trận sôi động này. Những kinh nghiệm làm nghề của ông rất đáng để thế hệ sau học tập. |