Hôm nay với Nho giáo

Nguyễn Đình ChúViet-studies
08:50' SA - Thứ hai, 27/10/2014

Tôi đã nói ở trên là chưa đọc hết tất cả văn bản nghiên cứu về Nho giáo ở Việt Nam ta nhưng ít ra cũng đã đọc được một số tài liệu nghiên cứu Nho giáo thời Pháp thuộc, ở miền Nam trước 1975, ở Miền Bắc sau hòa Bình lập lại (1954) và một ít là của Liên Xô và Trung Hoa trước đây nên xin được mạo muội có lời nhận xét bước đầu (để rồi còn điều chỉnh về sau) là: có 2 loại: loại đến với Nho giáo không bằng lý thuyết giai cấp và lý thuyết hình thái xã hội và loại ngược lại, tức là vận dụng lý thuyết giai cấp và hình thái xã hội làm hệ quy chiếu đối với Nho giáo. Tiêu biểu cho loại trên là các công trình Nho giáo của Trần Trọng Kim, Khổng học đăng của Phan Bội Châu…, những công trình này, chưa nói đúng sai thế nào, nhưng trước hết đó là những công trình chứng tỏ các tác giả của chúng thuộc sách thuộc vở của Nho giáo phong phú bề thế mà chưa có một công trình nghiên cứu Nho giáo nào thuộc loại sau có được. Tất nhiên đọc các công trình này, tôi cũng có ý nghĩ: nếu các tác giả đó vận dụng thêm lý thuyết giai cấp và lý thuyết hình thái xã hội thì kết quả là sao? Hay hơn chăng? Có khả năng là như thế. Nhưng nói vậy, chứ chắc gì? nếu không vận dụng lý thuyết đó một cách nhuần nhuyễn. Lý thuyết giai cấp và hình thái xã hội được vận dụng theo kiểu giản đơn, thô thiển quả đã đưa đến những kết luận về Nho giáo với hôm nay là khó chấp nhận trọn vẹn. Có thể nêu lại một vài nhận định loại đó như sau: “Xu hướng chính trong đạo Khổng là biện hộ cho sự thống trị của các giai cấp có đặc quyền và ca ngợi ý trời …Trong suốt nhiều thế kỷ đạo Khổng là hệ tư tưởng thống trị của Trung Quốc phong kiến (Từ điển triết học. Nxb Tiến bộ, Maxcơva 1975) “Triết học Khổng Tử tập đại thành của giai cấp phong kiến thống trị Trung Quốc phong kiến” (Lã Chấn Vũ: Lịch sử tư tưởng chính trị Trung Quốc. Bản dịch của Nxb Sự thật, Hà Nội – 1964) “Học thuyết chính trị của Khổng Tử có mặt tiến bộ, cùng có mặt bảo thủ và mặt bảo thủ là chủ yếu. Nhìn về những hoạt động chính trị thực tế của ông từ thời trung niên trở về sau thì thấy càng bảo thủ, phản động hơn nữa. Thích ứng với học thuyết chính trị có tính chất hai mặt của ông, chủ nghĩa triết học của ông, tuy trong đó có nhân tố hoặc khuynh hướng duy vật chủ nghĩa, nhưng xét về mặt cơ bản, thế giới quan của ông là sự hỗn hợp chiết trung của chủ nghĩa duy tâm chủ quan và chủ nghĩa duy tâm khách quan” (Quang Phong – Lâm Duật Thời. Bàn về Khổng Tử. Bản dịch Nxb Sự thật – Hà Nội 1963). “Khổng Tử luôn nói đến “nhân nghĩa” nhưng thực tế là ông ta tuyên truyền cho xã hội có đẳng cấp, bảo vệ quyền lợi của tầng lớp trên, buộc con người lao động phải phục tùng giai cấp thống trị”. (Văn nghệ số 52 (685) ra ngày 18-12-1976)... Quan điểm giai cấp máy móc thô thiển thường đã biến mọi vấn đề thành vấn đề chính trị đơn thuần cũng như quan điểm về hình thái xã hội theo kiểu thô thiển cũng đã dẫn đến cái bệnh tự mãn vô sản coi cái gì thuộc hình thái xã hội chủ nghĩa cũng hơn hết mà Lênin từng phê phán. Các thứ thô thiển, không đúng đó không chỉ chi phối một số người trong việc nhận xét chung về Nho giáo như trên đã dẫn ra một đôi ví dụ, nó còn chi phối cả trong cách hiểu và phán xét các yếu tố của Nho giáo. Chung quanh hai chữ quân tử và tiểu nhân chẳng hạn. Đúng là Nho giáo đã có một cách phân loại con người trong xã hội thành hai hạng như thế. Nhưng phải chăng là hai khái niệm này hoàn toàn tương ứng với hai khái niệm: Thống trị và bị trị, giai cấp phong kiến quý tộc và nhân dân lao động mà sau này học thuyết về giai cấp và hình thái xã hội Mác xít nêu lên? Rõ là không ít người Trung Hoa và Việt Nam theo quan điểm Mác xít thô thiển đã đi đến sự tương ứng đó để quy Nho giáo là công cụ tinh thần của giai cấp phong kiến thống trị. Lã Chấn Vũ từng viết trong “Lịch sử tư tưởng chính trị Trung Quốc”: Theo Khổng Tử thì người quân tử phải thoát ly khỏi lao động của sản xuất và “cai trị người”. kẻ tiểu nhân phải “làm việc chân tay” và phải bị người cai trị. Giữa quân tử và tiểu nhân có một bức tường về phẩm chất, không thể nào vượt được. Sách luận ngữ nói:

Người quân tử có sức mạnh mà không có đạo nghĩa thì làm loạn.

Kẻ tiểu nhân có sức mạnh mà không có đạo nghĩa thì trộm cắp” (Dương Hóa).

“Người quân tử biết chịu đựng cái nghèo. Kẻ tiểu nhân nghèo thì lập tức sẽ làm bậy (Vệ Linh Công).

“Người quân tử ưa nghe đạo nghĩa”.Kẻ tiểu nhân ưa nghe điều lợi (Lý Nhân).

“Ngoài mặt thì nghiêm chỉnh mà trong lòng thì yếu ớt, điều đó thường ở kẻ tiểu nhân và có khác chỉ bọn trộm cắp trèo tường đục vách vậy ru” (Dương Hóa).

“Người quân tử mong muốn đạo đức. Kẻ tiểu nhân mong muốn ruộng đất. Người quân tử lo lắng giữ pháp luật: Kẻ tiểu nhân lo lắng cầu lợi” (Lý Nhân).

“Người quân tử lúc nào cũng ung dung thanh thản. Kẻ tiểu nhân luôn luôn băn khoăn” (Thuật Nhi).

“Đức của người quân tử như gió, đức của người tiểu nhân như cỏ. Gió thổi trên cỏ tất cỏ lướt theo (Nhan Uyên).

“Người quân tử mà bất nhân cũng có thể chăng. Kẻ tiểu nhân mà có đạo nhân thì chưa bao giờ có vậy” (Hiến Vấn).

“Chỉ có đàn bà con gái và kẻ tiểu nhân là khó dạy, gần gũi họ thì họ nhờn, xa họ thì họ oán trách” (Dương Hóa).

“Chỉ có bậc thương trí và kẻ hạ ngu là không bao giờ thay đổi” (như trên).

Như vậy, giữa quân tử và tiểu nhân có sự cách biệt về phẩm chất đã định sẵn từ trước. Trong đám những người quân tử, lẽ tự nhiên cũng có thể có người hư hỏng nhưng trong đám tiểu nhân thì tuyệt đối tìm không ra “người có đạo nhân” … Đọc những dòng trên đây của học giả Lã Chấn Vũ, thú thật là tôi chưa dám nói lời cuối cùng nhưng bước đầu thì thấy có sự hoài nghi khoa học và tự hỏi? Có hẳn là Khổng Tử đã nghĩ như họ Lã nghĩ thế không? Trong những câu định nghĩa về quân tử và tiểu nhân mà vị học giả này đã nêu ra (chưa đầy đủ so với những gì các Nho giáo đã nói về quân tử, tiểu nhân đó) liệu đã đủ để kết luận rằng quân tử là kẻ thống trị, còn tiểu nhân là nhân dân bị trị dù rằng có câu: “Quân tử học đạo tắc ái nhân, tiểu nhân học đạo tắc dĩ sử giả” (Luận ngữ - Dương Hóa – XVII). Có thể hiểu như thế này được chăng: quân tử và tiểu nhân trước hết là sự phân loại con người trong xã hội không phải trên bình diện kinh tế, chính trị mà là bình diện đạo đức vốn là điều cốt lõi nhất trong tư tưởng Khổng Tử cũng như Nho giáo nói chung. Nếu đúng là vậy,thì sự khác biệt ở đây là sự khác biệt về phẩm chất đạo đức,về nhân cách làm người trong cuộc sống cổ kim đông tây,chứ đâu chỉ trong một thời đại nào mặc dù sự khu biệt của Khổng Tử là từ thực tiễn đời sống xã hội của ông. Thử đọc lại chính những câu nói về quân tử và tiểu nhân mà Lã Chấn Vũ đã kể ra trên đây bằng cách tiếp cận này, chúng ta sẽ có cách hiểu khác. Ví thử Khổng Tử và môn đệ trung thành của ông như Mạnh Tử, đã phân loại quân tử và tiểu nhân theo kiểu giai cấp như vậy, đặc biệt là khinh tiểu nhân tức là khinh người dân như vậy thì làm sao lại có thể nói ra câu như Mạnh Tử đã nói: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”. Một câu nói mà thiết tưởng tới mãi ngày nay, chưa có cách nói nào vượt hơn được. ít ra là trên phương diện ngôn từ. Nói dân vì bang bản đã là hay nhưng vẫn không bằng cách nói này, vì ở đây còn có ý niệm về sự tương quan so sánh giữa chữ “dân” và chữ “quân” (Dân vi quý, quân vi khinh) mặc dù đã phải hiểu chữ khinh là coi nhẹ, chứ không có nghĩa là khinh bỉ. Nhân đây cũng muốn được đề nghị giới nghiên cứu Nho giáo ở nước ta hôm nay, trong khí thế đổi mới của đất nước, hãy xét lại thực chất tư tưởng nhân dân của Nho giáo, đặc biệt là của Mạnh Tử là gì? Có phải cũng có mặt tích cực nhưng tiêu cực là chính không? Có phải chỉ là tư tưởng điều hòa mâu thuẫn giai cấp không? Nếu là điều hòa mâu thuẫn giai cấp thì nghĩ về sự điều hòa như thế nào cho đúng với sự sống vốn là thiên hình vạn trạng, không phải chỉ với quá khứ mà còn là trước mặt và lâu dài? Sự điều hòa mâu thuẫn này có phải chỉ nhằm duy trì địa vị thống trị của giai cấp phong kiến quý tộc không? Ở đây, quả có hai cái logic nội tại (logique interne) cần được xem xét, khu biệt để nhận diện, nhận chân Nho giáo. Nho giáo là học thuyết chính trị có ý nghĩa đạo đức hay là học thuyết đạo đức có ý nghĩa chính trị? Và sẽ có thể có ba khả năng quan hệ giữa hai yếu tố: chính trị và đạo đức: 1) Chính trị là chính, đạo đức là phụ, 2) Đạo đức là chính, chính trị là phụ. 3) Đạo đức và chính trị là đồng đẳng. Khái niệm: chính phụ ở đây tương đương với khái niệm: chính luận và hệ luận. Sự nhận diện Nho giáo trong đó có khái niệm quân tử - tiểu nhân, với yêu cầu nghiêm ngặt, chuẩn xác nhất đòi hỏi việc nhận diện chuẩn xác trong ba quan hệ vừa nói. Ví dụ: nếu thừa nhận quan hệ 2 thì khái niệm quân tử là người tốt, tiểu nhân là người xấu – (tốt xấu là sự phân định theo quan điểm đạo đức). Người tốt là nhờ có học. người xấu là vì không học (nhân bất học, bất tri lý). Trong thực tế, người có học, sẽ dễ có địa vị xã hội cao, trong đó có địa vị chính trị. Và từ địa vị chính trị sẽ dẫn đến địa vị kinh tế, mà ở cái xã hội có giai cấp sẽ là thành viên của giai cấp thống trị mà ở đây cũng có hai mặt: thống trị có nguồn gốc đạo đức và đạo đức được bao lưu;thống trị bị tha hoá ,phi đạo đức. Logic về phía quân tử là thế? Còn logic về phía tiểu nhân là gì? Không tốt là vì không học do đó không có địa vị xã hội nói chung, địa vị chính trị nói riêng, không có địa vị chính trị sẽ không có địa vị kinh tế. Số phận bị trị sẽ là tất yếu với anh ta. Và ở đây cũng sẽ có hai mặt. Bị trị nhờ gắn với nhân dân, với lao động mà có đạo đức. Nhưng cũng có không ít khả năng vô đạo đức do không được học hành, không có văn hóa. Theo tôi học thuyết Nho giáo, đặc biệt là với Khổng Mạnh là đi theo cái logic 2 như vừa miêu tả và logic 2 này không chỉ là sản phẩm của thời đại phong kiến mà còn là “quy luật muôn đời” của sự sống con người, bất cứ ở thời nào, nơi nào trên trái đất. Cũng cần nói thêm rằng: trong quan niệm của người Trung Hoa cổ đại ,hai khái niệm quân tử, tiểu nhân không chỉ là sự phân loại thế giới con người theo bình diện đạo đức, nhân cách,mà còn là theo thuyết âm dương tức là thuộc vũ trụ quan. Theo thuyết này (Kinh Dịch) thì:

  • DƯƠNG là: Nam, Cường ,thiện, đại, chính, thành, thực, quân tử, phú, quý.
  • ÂM là: Nữ, nhu, ác, tiểu, tà, ngụy, hư, tiểu nhân, bần, tiện.

Nói những điều có thể chưa đúng hay có thể gây băn khoăn như trên, tôi muốn đi đến đề nghị hãy bổ sung vào lý thuyết giai cấp và lý thuyết hình thái xã hội là lý thuyết văn minh luận. văn hóa luận, nhân tính luận trong khi tiếp cận Nho giáo. Các quan điểm được bổ sung có ý nghĩa phương pháp luận khoa học này sẽ cho phép người nghiên cứu vượt được hạn chế máy móc thô thiển trong khi đến với Nho giáo. Nói cụ thể hơn, là với giai cấp luận và hình thái xã hội luận, người nghiên cứu đã thấy Nho giáo, là sản phẩm của giai cấp nào, thuộc hình thái xã hội nào. Nhưng với các phương pháp tiếp cận được bổ sung đó, người nghiên cứu sẽ coi đối tượng nghiên cứu của mình (đây là Nho giáo) là sản phẩm của nhân loại trên tiến trình văn minh, trong đó có yếu tố nhất thời và yếu tố trường tồn. Xin lấy ví dụ về vấn đề tu nhân mà không học thuyết nào trong lịch sử tư tưởng nhân loại có công phu, có cảm hứng xây dựng như Nho giáo để bàn. Nếu chúng ta chỉ nghĩ nó là sản phẩm của giai cấp thống trị thời phong kiến thì dù có thừa nhận cho nó một ý nghĩa tích cực nào đó, nhưng cơ bản vẫn là lỗi thời rồi, là thua mọi thứ lý thuyết về việc xây dựng con người mới ngày nay rồi.Trong khi đó, chúng ta quên mất câu nói thực sự đã làm nên một Hồ Chí Minh như dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX đã có là: “Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giêxu có ưu điểm của nó là: lòng nhân ái cao cả.Chủ nghĩa Mác có ưu điểm của nó là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm của nó là chính sách của nó thích hợp với điều kiện nước ta. Và Khổng Tử, Giêxu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có những điểm chung đó sao? Họ đều muốn mưu hạnh phúc cho loài người, mưu lợi ích cho xã hội. Nếu hôm nay, họ còn sống trên đời này, nếu họ họp lại một chỗ, tôi tin rằng họ sẽ chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy" (Trần Dân Tiên Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch. Bản dịch Trung Văn của Trương Niệm Thức (Hồ Chí Minh truyện) NXB Tam Liên Thượng Hải, tháng 6 – 1949 tr. 91. Dẫn theo Phan Văn Các trong bài Hồ Chí Minh với Nho giáo. Sách Hồ Chí Minh anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa. NXB KHKT Hà Nội 1990). Rõ ràng là nếu chỉ theo lý thuyết giai cấp và gì gì đó một cách thô thiển, mà không bằng quan niệm văn minh, văn hóa, nhân loại thì làm sao có được những ý tưởng cao đẹp thế,làm sao nhìn ra cái chân lý rằng: những người như Khổng Tử, Giêxu, Mác, Tôn Dật Tiên “đều muốn hạnh phúc cho loài người, mưu lợi ích cho xã hội” (chứ không phải cho giai cấp thống trị), làm sao nhìn ra khả năng “ chung sống rất hoàn mỹ như nhũng người bạn thân thiết giữa các vị ấy”. Tôi rất mong rằng những ai trên đất nước ta hôm nay và mai sau khi đến với Nho giáo hãy suy nghĩ nhiều, suy nghĩ kỹ kỹ về câu nói trên đây của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, coi đó là phương hướng, là phương pháp luận cơ bản, là tâm thế mới cần có cho mình.

Vấn đề V: Nho giáo ích gì cho cuộc sống đất nước hôm nay và mai sau? Hãy nhìn sang nước Nhật xem sao! Từ cái phức tạp đến cái giản đơn tạm thời.

Có một sự thực là trong thời trung đại, ở Trung Hoa đã đành mà ở nước ta cũng vậy, Nho giáo đã có một vai trò rất lớn mà sự nhận thức của người đời sau về vai trò đó, so với cha ông thủa trước là khác nhau rõ rệt, thậm chí là đối cực. Ở nước ta, ngày trước từ kinh đô đến các địa phương, từ tỉnh đến xã, hầu hết đều có nhà tư văn, văn chỉ thờ Khổng Tử và thất thập nhị hiền. Chính đó là bằng chứng cho sự thừa nhận vai trò to lớn của Nho giáo, Khổng giáo. Sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, trong phạm vi khu vực do chính quyền cách mạng trực tiếp quản lý, chuyện thờ cúng Khổng Tử và bảy mươi hai ông hiền đó, coi như là chấm dứt. Ngay tại nhà Văn Miếu Hà Nội, tượng Khổng Tử bị cất đi (may là chưa đập vỡ). Ai đề cao vai trò Nho giáo trong lịch sử thì coi là lạc hậu. Nhà sư phạm nổi tiếng Nguyễn Lân chẳng đã bị phán cho ra trò vì đã viết bài “Tiên học lễ hậu học văn” trong đó tỏ ý cho rằng trẻ con học đường ngày nay sinh ra hư nết, kém đạo đức so với trứơc là vì nền giáo dục mới không đi đúng nguyên lý: Tiên học lễ hậu học văn, và cho rằng ngày xưa sở dĩ có được những người có phẩm chất cao đẹp, sáng chói tới muôn đời như Chu An, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Đình Phùng … là nhờ Nho giáo, nhờ biết đặt lễ trước văn.

Nhưng sự đời lại bắt đầu đổi khác. Cái dư luận xã hội, dĩ nhiên trước hết vẫn là các bậc thức giả, cho rằng không thể xem thường Nho giáo, thậm chí phải tìm lại những mặt tích cực của Nho giáo cho cuộc sống hôm nay xem ra có chiều phát triển, ít ra cũng không bị phê phán như cách đây mười năm. Tại Văn Miếu Hà Nội, tượng Khổng Tử được đưa từ kho ra đặt lại. Đúng là thời gian đang có chiều ủng hộ Nho giáo. Nhất là với ai đọc sách viết về nước Nhật siêu cường hiện nay, đều thấy một chân lý là: đạo đức không chỉ là sự phản ánh điều kiện kinh tế xã hội, mà một xã hội muốn phát trển kinh tế xã hội phải có một nền đạo đức kèm theo, làm nền. Tác giả cuốn sách “Vì sao Nhật Bản thành công” (Michio Mouichima) cho người đọc thấy khá rõ thế nào là bản lĩnh tinh thần, đạo lý của nước Nhật qua các thời kỳ lịch sử. Trong đó có sự tiếp thu Nho giào từ Trung Hoa tới và được Nhật hóa cùng với Thần giáo và Võ sĩ đạo vốn là đặc sản tinh thần của chính mình, tất cả được hỗn hợp làm nên một bản lĩnh tinh thần mang bản sắc Nhật Bản từ lâu đời và do đó tạo được một tư thế vững chãi trong việc tiếp nhận văn minh phương Tây. Tác giả cuốn sách đã hé cho người đọc thấy phần nào sự khác biệt giữa Nho giáo Trung Hoa và Nho giáo Nhật Bản. Ví dụ: ở Trung Hoa, chữ “thứ” được đặt trên cả chữ “trung”. Ở Nhật, chữ “thứ” bị quên lãng, mà nổi lên lại là chữ “trung”mà chữ trung ở đây cùng có phần khác ở Trung Hoa. Ở Trung Hoa, trung lúc đầu có nghĩa là đúng giữa lòng mình (tức là hướng nội) sau đó mới có nghĩa là trung với vua: trung quân (tức là hướng ngoại) có nghĩa là phục tùng. Người Nhật đã tìm sức mạnh cho sự phát triển đất nước bằng tinh thần phục tùng này, do đó ở Nhật, dĩ nhiên là trước đây, hầu như không đặt vấn đề cá thể. Điều này, đối với phương Tây, là bạn chế lớn. Nhưng với Nhật Bản thì lại là một nguồn động lực để phát triển đất nước. Tất nhiên ở đây, trong cái động lực này đã ngầm chứa một nguy hiểm. Chủ nghĩa phát xít Nhật từng gây đau khổ cho khu vực, ít nhiều có nguồn gốc từ cái lối tạo sức mạnh đó.Cách nhìn của chúng ta, người ngoài cuộc về Nhật Bản trên phương diện này là như thế. Có điều là đối với người Nhật thì hình như đến ngày nay, vẫn thừa nhận vai trò tích cực của Nho giáo. Nhiều người nước ngoài đến Nhật Bản hôm nay, ít nhiều cũng thừa nhận sự thật đó trong nếp sống người Nhật mặc dù vẫn thấy sự “đổi đời”, nhất là trong đám thanh niên.

Từ kinh nghiệm Nhật Bản tạm cho nói như trên đã chính xác thì liệu đối với nước ta là thế nào với Nho giáo. Ở đây quả là có chuyện trước mắt và lâu dài, chuyện khoa học công phu và chuyện ăn xổi nhưng ăn xổi mà vẫn ngon lành. Thực tiễn vẫn đòi hỏi cao nhưng vẫn cho phép ăn xổi như thế. Ăn xổi chính là sự tiếp thu bộ phận, chưa phải là tiếp thu hệ thống. Nhưng sự nghiên cứu hệ thống sẽ điều chỉnh việc tiếp thu bộ phận. Với cách đặt vấn đề như vậy, tôi cho rằng đối với Nho giáo hôm nay trên đất nước ta, có một điều cần làm sống dậy càng nhiều càng tốt và có hai điều cần khắc phục. Điều cần làm sống dậy không là gì khác, chính là điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói và quan trọng hơn là đã tự mình phấn đấu thực hiện suốt một đời để từ đó mà dân tộc được nhờ: đó là tinh thần tu thân theo lôgíc “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Xây dựng đất nước hôm nay, không chỉ một lôgíc này,nhưng thực hiện được logic này càng nhiều bao nhiêu thì chắc chắn nhân dân, đất nước được nhờ bấy nhiêu, chắc chắn nạn tham nhũng đang phát triển như bệnh hạch sẽ được chặn lại dù là không thể nào chặn hết. Còn điều cần khắc phục trước hết là khuynh hướng tuyệt đối hóa vai trò đạo đức đi đến coi nhẹ vai trò pháp luật (vốn là nhược điểm của Nho giáo).T rong lịch sử Trung Hoa, sự ra đời của Pháp gia để chống lại Nho gia là bởi lẽ đó. Hôm nay, ta đề cao tinh thần tu thân, nhưng lại phải rất coi trọng tinh thần pháp lý, nếu không thì chẳng đi đến đâu. Đạo lý cộng với pháp lý, với khoa học mới đẩy được xã hội tiến lên. Thứ đến là vấn đề giải phóng cá nhân. Một trong những hạn chế lớn nhất nữa của Nho giáo là không đặt ra được vấn đề cái tôi cá nhân để giải quyết hợp lý. Nho giáo chỉ đề cao cái Tôi đạo đức, cái Tôi nghĩa vụ mà không thấy được cái Tôi triết học, cái Tôi với tư cách động lực phát triển của xã hội. Chúng ta cần rút kinh nghiệm thế giới trong vấn đề xử lý với cái Tôi này sao cho thỏa đáng. Nhưng trước hết cần tìm cách khắc phục hạn chế của Nho giáo trong việc đối xử với cái Tôi này.

Để kết thúc bài viết này, một lần nữa, tôi xin được coi tất cả những lời lẽ trên đây chỉ là sự tản mạn, ban đầu, ghi lại để nghĩ tiếp về sau, và quan trọng hơn là để được các bậc đàn anh, các bạn đồng nghiệp chỉ bảo. Với tôi khoa học là “Chercher et rechercher”, tìm đi tìm lại, không thể khác.

Hà Nội, 1994

Viet-studies
Hôm nay với Nho giáo
ChúngTa.com @ Facebook
Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: .
Tổng số người truy cập: .
Số người đang trực tuyến: .
.
Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,