Ngày xưa chúng ta không đơn độc

08:27 SA @ Thứ Sáu - 02 Tháng Mười Hai, 2005

Ngày nay, Homo sapiens (Người tinh khôn) là họ - người (hominidé) duy nhất trên Trái đất. Tuy thế, trong vòng ít nhất là bốn triệu năm, nhiều loại họ - người đã chia nhau sống trên hành tinh chúng ta. Vì sao những bà con chúng ta đã biến mất?

Homo sapiens là họ - người duy nhất trên trái đất khoảng 25.000 năm nay. Chúng ta đã quen thuộc với điều này đến mức mà, những năm 1950 và 1960, một vài nhà nhân chủng học nghĩ rằng các loại họ - người đã kế tiếp nhau tồn tại chớ không bao giờ cùng sống đồng thời với nhau. Giả thiết về "loại duy nhất" này không thật thuyết phục, tuy thế, nó đã nêu lên một lịch sử khá hấp dẫn: một họ - người tổ tiên chúng ta, gù lưng và đắm mình trong tối tăm ngu dốt, đã dần dà biến thành Homo sapiens hiện đại, đàng hoàng và thông minh. Giống như trong truyện cổ tích, con cóc đã biến thành chàng hoàng tử tuấn tú.

Giả thiết trên chỉ được gạt đi vào cuối những năm 1970 vì các nhà cổ sinh vật học đã phát hiện được các hóa thạch chứng tỏ rằng nhiều loại họ - người đã cùng tồn tại trong khoảng 118 triệu năm, ở phía Bắc Kenya. Đặc biệt là những phát hiện mới đây và sự xem xét lại các hóa thạch đang cho thấy rằng lịch sử sinh học của các họ - người cũng giống lịch sử của đa số các họ động vật khác: nó cũng đa dạng chớ không đơn tuyến. Nhiều loại họ - người đã xuất hiện, cùng tồn tại với nhau rồi biến mất đi, chỉ có Homo sapiens còn lại đơn độc đến ngày nay. Vì sao?

Có rất nhiều loại tộc (espèces).

Chúng ta có những bằng chứng về tính đa dạng của họ - người từ đầu lịch sử tiến hóa của chúng- nghĩa là từ khi nhũng con vật hai chân (con vượn phương nam) mạo hiểm lần mò ra khỏi rừng. Loại cổ nhất được biết đến, có thể thuộc dòng họ các họ - người (hominidé) là người Ardipithecus ramidus: người ta nhận ra họ qua vài mảnh hóa thạch 4,4 triệu tuổi đã được phát hiện ở địa điểm Aramis, tại Etiôpi. Sự phân tích các hóa thạch dường như cho thấy họ đã đi thẳng người, nhưng về nhiều phương diện, họ còn rất giống con khỉ. Ở Bắc Kenya, người ta tìm thấy loại gần ta hơn, người Austraiopithe cus anamensis (Người vượn phương Nam Anam). Và mới đây, người ta phát hiện thêm một họ hàng mới, người Australopithecus afarensis (Người vượn phương Nam Apha) có bộ óc bé và mặt phát triển (nghĩa là có hệ nhai khỏe), sống cách đây 3,8 - 3 triệu năm. Bộ xương Lucy (1) nổi tiếng thuộc loại này. Nhưng người vượn phương Nam Apha không phải là họ - người duy nhất châu Phi: mới đây, người ta đã phát hiện ở Tchad, một hàm răng của người Australopithecus bahrelghazad có cùng niên đại với bộ xương Lucy. Hàng loạt các họ - người khác cũng được phát hiện ở Đông Phi và Nam Phi.

Sự xuất hiện của giống Homo cách đây 2,5 đến 1,8 triệu năm đã không ảnh hưởng gì đến cuộc chung sống giữa các họ - người, nhưng giống người này đã gây ra cuộc phân hóa vô cùng lớn, đó là cuộc di tản đầu tiên của họ - người ra khỏi châu Phi. Các nhà khảo cổ học tìm cách hiểu kỹ hơn cuộc di chuyến về dân số này và nhất là thời điểm của nó. Họ cho rằng cách đây 1,8 triệu năm, Homo erectus (Người đứng thẳng) đã xuất hiện ở Java và Trung Quốc. Ở đầu kia của lục địa Á - Âu, họ - người Âu cổ xưa nhất (sống cách đây khoảng 800.000 năm) được các nhà khảo cổ học người Tây Ban Nha phát hiện ra, và xếp vào một loại đặc biệt, với cái tên là Homo antecessor. Còn ở Châu Phi, Homo heidelbergensis (Người Heidelberg) xuất hiện cách đây 600.000 năm. Loại người này cũng đã có mặt cách đây 500.000- 200.000 năm ở Châu Âu và có lẽ cả ở Trung Quốc. Homo heidelbergensis thật ra là thuộc nhiều loại người mà đại diện được biết rõ nhất là Homo neandertalensis (Người Néandertal). Loại này cũng có mặt ở Cận Đông, đã sinh sôi cách đây 200.000 đến 30.000 năm. Cùng ở thời ấy, họ - người Phi đã tiến hóa một cách độc lập thành Homo sapiens.

Những điều kể trên rất xa với học thuyết đã được đề cao cách đây 40 năm - học thuyết cho rằng Australopithecus atncanus (Người vượn phương nam châu Phi) đã là tổ tiên của Homo erectus và Homo erectus lại là tổ tiên của Homo sapiens. Nhiều bạn đồng nghiệp của tôi thường đơn giản hóa bức tranh bằng cách gom tất cả các mẫu Homo (người) của triệu năm mới đây, thậm chí cả hai triệu năm mới đây vào cùng một loại Homo sapiens (Người tinh khôn). Còn theo tôi, ngược lại, ít nhất là 20 loại họ - người đã tồn tại với những đặc điểm hình thái khác nhau chưa kể những loại mà người ta chưa phát hiện. Dù cho có thế đi nữa thì lịch sử tiến lên loài người cũng chẳng phải là sự tiến lên đều đặn của một vị anh hùng dân tộc mà đúng ra là một loạt sự xuất hiện và tàn lụi của các loại, với những giai đoạn bành trướng và thu hẹp dân số, giống như bất cứ nhóm thực vật, động vật nào. Trong năm triệu năm sau cùng, nhiều loại họ - người mới đã xuất hiện đều đặn, đã cùng sống chung với nhau, đã tác động lên nhau, đã làm chủ các môi trường mới và đã sống dai dẳng hay đã biến mất đi. Nay chúng ta chỉ mới có một ý tưởng rất mơ hồ về cách thức lịch sử này diễn ra, nhưng ta tin chắc chắn rằng loại chúng ta, chẳng phải là tột đỉnh của sự tiến hóa trực tuyến của họ - người mà chỉ là một nhánh của cây tiến hóa ấy thôi.

Những Nguồn gốc của sự đơn độc của chúng ta.

Nếu Homo sapiens đã chia sẻ Trái đất ngày trước với những bà con họ - người của mình thì vì lẽ gì họ lại là kẻ duy nhất không biến mất đi? Có lẽ do những tác động của họ lên môi trường mà dấu vết của các tác động xưa cũ nhất đã có tuổi thọ 2,5 triệu năm. Đó là những công cụ đầu tiên: những mảnh tước sắc bén tách ra từ một hòn đá, có lẽ do người vượn phương nam chế tác, mở đầu một loạt tiến bộ về kỹ thuật. Tiến bộ tiếp theo là các rìu mài hai mặt (biface) được làm ra một triệu năm sau đó, có lẽ do Homo ergaster. Công cụ cân xứng này, ghè từ đá, là công cụ đầu tiên phù hợp với một "mẫu có ý thức" của người làm ra nó. Mẫu này không thay đổi trong một triệu năm, cho đến khi một kỹ thuật mới để chế tác những khối đá do Homo heidelbergensis hay một bà con gần gũi của họ nghĩ ra. Các khối đá này chỉ cần một nhát rìu là có thể tách chúng ra thành một công cụ hoàn chỉnh.

Những kẻ thành thạo kỹ thuật này nhất là người Néandertal, óc to, mặt đồ sộ và trán thấp. Họ đã sống ở Châu Âu, Cận Đông cho đến khi Homo sapiens đột ngột thay thế họ cách đây 30.000 năm.

Ở Châu Âu thì tình hình lại khác. Những cảnh quan cố xưa nhất do Homo sapiens để lại, có 40.000 năm tuổi. Bằng kỹ thuật đẽo đá đặc thù của sơ kỳ đồ đá cũ, Homo sapiens đã tạo ra những lưỡi dao mỏng và dài từ một khối đá hình trụ . Họ cũng đã chế tác được những dụng cụ bằng xương và sừng hươu do nắm rất vững đặc tính của các nguyên liệu này. Homo sapines cũng đã sáng tạo ra nghệ thuật dưới dạng các hình khắc chạm, các bức tranh trên vách đá khá hoành tráng. Họ lưu trữ thông tin trên các mảnh xương và đá. Họ chơi nhạc trên những nhạc cụ để thổi. Họ làm đồ trang súc khá trau chuốt. Họ chôn người chết đôi khi trong các mộ xây, với những đồ đạc chứng tỏ họ tin ở sự sống cả sau khi chết và chúng tỏ đã có một hệ ngôi thứ xã hội (tất cả các mộ không già u có như nhau). Nhà ở của họ được tổ chúc theo các khu vực dành cho các hoạt động khác nhau, kỹ thuật săn bắn, đánh cá của họ đã thuần thục. Thời kỳ cải tiến kỹ thuật chậm chạp và cách quang đã chấm dứt, thay bằng sự cải tiến liên tục. Rõ ràng, Homo sapiens này đã là chính chúng ta rồi.

Bằng tất cả những hoạt động thực tiễn của mình, con người hiện đại của sơ kỳ đồ đá cũ khác thật rõ với người Néanơertal. Ở Châu Âu người Néandertal, dường như đã tiếp thu được những thuật làm ăn mới sau khi đến đó nhưng ta không rõ hai loại này đã có những quan hệ với nhau như thế nào. Vì người Néandertal biến mất nhanh chóng người ta giả thiết rằng các tác động qua lại của họ ít khi có lợi cho người Néandertal. Hơn nữa, ở Châu Âu, người ta cũng chẳng có bằng chứng nào về sự lai tạo giữa hai loại người này.

Ở Cận Đông, cách đây 40.000 năm (60.000 năm sau khi họ đến đó) Homo sapiens đã thay thế Homo neandertalensis (người Néandertal) cũng như sau này họ đã làm như thế ở Châu Âu. Chính thời kỳ này tương ứng với sự xuất hiện những công cụ đầu tiên mà ta cho là của sơ kỳ đồ đá cũ. Người ta nghĩ rằng Homo sapiens lúc ấy đã có một nền văn hóa phong phú rồi.

Vì sao lịch sử tiến hóa của họ - người lại khác nhau ở Châu Âu (thay thế nhanh chóng) và ở Cận Đông (cùng tồn tại lâu dài)? Có lẽ do sự xuất hiện của nhận thức hiện đại - tức là của tư duy ký hiệu - đã kèm theo sự tiếp thu các cách xử sự hiện đại: Homo sapiens đã nhanh chóng thay thế người Néandertal.

Để hiểu sự thay đổi các quá trình nhận thức đã xảy ra như thế nào, hãy xét lại cơ chế chung về tiến hóa. Trước hết, chỉ những loại đã tồn tại mới có thể tiến hóa.

Mặt khác, những đặc điểm mới của một loại phải đã tồn tại trước rồi và đã được phổ biến rồi vì môi trường đã thay đổi. Chẳng hạn, họ - người chắc là đã có một bộ máy phát âm hiện đại hàng trăm nghìn năm trước khi họ sử dụng ngôn ngữ cấu âm có cấu trúc phức tạp. Sau cùng, sự xuất hiện chữ viết đôi khi lại ngẫu nhiên, và hoàn toàn không đoán trước được (các đặc tính của nước không thể suy ra từ đặc tính của hyđrô và của ôxy). Sự xuất hiện của tư duy ký hiệu như vậy chẳng có gì là đặc biệt, ngay cả khi hệ quả của điều ấy là rất quan trọng. Ngay hiện nay, chúng ta cũng không biết óc người làm chúng ta nhận biết những gì xảy ra quanh ta như thế nào từ những đợt giải phóng điện năng và hóa chất trong các nơron. Ngược lại, ta biết rằng trước khi đạt đến tư duy ký hiệu, giống người chúng ta đã trải qua một trạng thái không có ký hiệu.

Khi đạt giai đoạn Homo sapiens với giải phẫu hiện đại các đặc tính sẵn có chắc là đã kết hợp với nhau, qua trung gian một sự biển đồi gien nhỏ do ngẫu nhiên, để tạo nên một tiềm năng chưa hề có trước đó. Tại sao lúc ấy Homo sapiens lại không tiếp tục kéo dài một cách xử sự cổ lỗ? Có lẽ do họ đã tiếp thu cách xử sự hiện đại nhờ đã xuất hiện một sự đổi mới về sinh học nhưng sự đổi mới này lại không làm thay đổi bộ xương của họ (nghĩa là không được nhận biết trên các hóa thạch) Tuy thế, loại họ - người này lúc ấy có lẽ đã thay thế tất cả các dân cư của cựu thế giới trong một thời gian rất ngắn, điều này không được khảo cổ học xác minh.

Tôi giả định rằng các khả năng của con người hiện đại đã xuất hiện với loại Homo sapiens, hay sau đó ít lâu, và ở dạng tiềm ẩn. Sau đó, một sự kích thích có tính văn hóa chắc là đã thúc đẩy các khả năng ấy, điều này thể hiện ra bằng một sự đổi mới về xử sự. Nhờ những ưu thế quan trọng mà nó mang lại, sự đổi mới này đã được phổ biến nhanh chóng chỉ bằng sự tiếp xúc đơn giản giữa các cư dân sẵn có tiềm năng đế tiếp thu nó.

Đây là sự đổi mới nào? Chắc là ngôn ngữ: nhờ ngôn ngữ, các cá nhân đã truyền cho nhau được ý tưởng và kinh nghiệm. Hơn nữa, ngôn ngữ cũng cần thiết ngay cho quá trình tư duy. Nó buộc phải xếp đặt các đối tượng và cảm giác thành từng nhóm mà người ta đặt cho chúng cái tên và nó cho phép kết hợp các ký hiệu về tinh thần lại. Ngày nay ta không thể quan niệm tư duy mà không có ngôn ngữ (2). Khả năng hình thành các ký hiệu về tinh thần là ngọn nguồn của sự sáng tạo của chúng ta: chính bằng cách kết hợp các ký hiệu này lại mà ta đặt được những câu hỏi kiểu như "Sẽ xảy ra điều gì nếu...?"

Dù các nhà ngôn ngữ học đã lập luận thế này thế khác, người ta vẫn không biết ngôn ngữ xuất hiện như thế nào. Ở địa điểm nào? Trong lòng cư dân nào? Dù sao đi nữa thì một khi đã được trang bị những khả năng về ký hiệu rồi thì Homo sapiens liền trở thành một địch thủ đáng gờm, không nhất thiết là phải như Homo neandertalensis thông qua những kinh nghiệm xương máu của mình.

Nguồn:
Cập nhật lúc:

Nội dung liên quan

  • Chúng ta thoát thai từ đâu?

    07/01/2014"...khó mường tượng, cơ chế gì mà chỉ một mô người chết có thể tung ra một lượng thông tin to lớn về tạo dựng những mô người mới ở một cơ thể khác, tức kích thích sự tái sinh. Rồi chuyện mỗi tế bào người phức tạp đến thế nào cũng khó hình dung... Rõ ràng mọi chuyện đó xảy ra theo một chương trình hoạt động liên tục, chặt chẽ mà so với nó một cái máy tính hiện đại nhất cũng chỉ là cái đồ chơi treo trên cây thông Nôen. Các chương trình đó khu trú ở đâu? Tất nhiên không chỉ trong các gen. Theo dữ kiện vật lý mới thì các chương trình đó được ghi trong năng lượng tế vi, ở phương Đông năng lượng đó gọi là năng lượng của Chúa Trời, và cả ở trong nước cơ thể người . Vậy ai đã lập ra các chương trình tái tạo mô người diệu kỳ đó?..."
  • Tìm hiểu bản chất của ý thức

    12/10/2005GS. Đoàn Xuân MượuTừ khi loài người hình thành, tiến hóa, biết lao động kiếm sống, ý thức phát triển song song với khả năng giao tiếp, ngôn ngữ. Đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, nhiều triết thuyết của phương Đông và phương Tây bằng con đường minh triết và duy lý, về quá trình phát sinh của ý thức...
  • Một cuộc ra đời lần thứ hai

    27/09/2005Phạm ToànTrước hết, cần tìm một định nghĩa cho tâm linh. Xưa nay khái niệm ấy dùng một cách mù mờ, chân tình và cơ hội, trắng đen vàng thau để lẫn lộn. Thành thử có khi tôn vinh tâm linh mà thành hạ thấp nó. Còn trong nhiều trường hợp tâm linh trùng với đồng cốt phong thuỷ...
  • Nhân học triết học hiện đại với vấn đề tồn tại người

    12/09/2005Đỗ Minh HợpTriết học thế kỷ XX đã trôi qua dưới khẩu hiệu "sự phồn vinh của nhân học". Những biến đổi trong cách tiếp cận nghiên cứu con người đã gắn liền với sự hình thành nhân học triết học. Con người trở thành trung tâm của vũ trụ, là chiếc chìa khoá để mở ra mọi vấn đề...
  • Giữa con người và con vật khác nhau ở điểm nào?

    21/07/2005Từ thời Darwin, quan điểm ngược lại đã trở nên phổ biến, không chỉ giữa các nhà khoa học, mà cả trong các tầng lớp học thức nói chung. Học thuyết của Darwin về nguồn gốc con người cho rằng con người và loài vượn người đã thừa hưởng từ một dạng tổ tiên chung; và cùng với quan điểm về nguồn gốc tiến hóa của con người này là quan điểm cho rằng con người và những loài động vật có vú cao cấp chỉ khác nhau về mức độ. ...
  • Người hiện đại biết tư duy hình tượng từ khi nào?

    09/07/2005Khánh Hà (Theo National Geographic)Loài người biết tư duy hình tượng sớm hơn nhiều so với chúng ta tưởng. Điều thú vị là phát hiện này lại được thực hiện trên cơ sở... vỏ trứng đà điểu. Những chuỗi hạt làm bằng vỏ trứng đà điều có thể cho chúng ta biết nhiều điều về trí tuệ của cha ông chúng ta ngày xưa.
  • xem toàn bộ

Nội dung khác