Thử bàn về biểu hiện của tôn giáo

Đặng Nghiêm VạnXã hội học
12:41' CH - Thứ sáu, 24/10/2014

5/ Vậy là, chí ít, từ xa xưa đến nay cũng có hai phương pháp hình thành nên tâm thức tôn giáo: độc thần và phiếm thần. Tâm thức độc thần dược xây dựng trên cơ sở niềm tin vào một Đấng Sáng thế đầy quyền uy, toàn năng... ràng buộc. Con người được Người sinh ra, luôn hiệp thông với người qua những nghi thức, qua các vị thánh thần và các vi đại diện của người trên trần gian. Tâm thức phiếm thần được xây dựng trên cơ sở sự thiếu hiểu biết buổi ban đầu cần được giải đáp dần bằng sự thâu lượm và lại thâu lượm những tri thức về cái siêu tự nhiên, cái vô hình nhằm lý giải cho những điều con người cần cầu xin, cũng bi ràng buộc bởi niềm tin được giải đáp bởi bất kỳ một yếu tố siêu nhiên nào: thần, thánh, bụt, phật, những người đã khuất... thể hiện qua những nghi thức, qua những kiêng cữ...

Như vậy, định nghĩa tôn giáo không chỉ muốn dừng lại là sự ràng buộc, sự liên hệ giữa con người (Être) và Đấng Tối Cao (Être Suprême), một định nghĩa phổ biến ở những cư dân độc thần (monothéisme) như Do Thái giáo, Kitô giáo, Hồi giáo... mà muốn mở rộng hay đúng hơn là trở lại định nghĩa đã xuất hiện từ thời cổ Hy Lạp, tôn giáo là thâu lượm, lại thâu lượm cái siêu nhiên, cái vô hình hay nói cách khác đối tượng của tôn giáo là cái thế giới siêu nhiên vô hình. Định nghĩa này bao hàm trong bản thân nó đinh nghĩa của các tôn giáo độc thần và đồng thời lại phù hợp với các tôn giáo toàn thế giới. Đạo Phật, đạo Khổng, đạo thờ cúng tổ tiên hay những người đã khuất và nhiều tôn giáo khác, đặc biệt xuất xứ ở miền Viễn Đông đâu thấy có bóng dáng một Đấng Sáng thế, đâu có sự ràng buộc và lại ràng buộc vào một Đấng Sáng Thế duy nhất.

Người ta cũng loại trừ quan niệm tôn giáo độc thần sẽ thắng thế các tôn giáo đa thần (polythéisme) hay phiếm thần (panthéisme), vì cho đốn hiện nay những tôn giáo đa thần hay phiếm thần vẫn tồn tại với hơn nửa số dân trên trái đất. Lại thêm với sự hiểu biết của con người được rộng mở ra toàn cầu, đang dẫn đến sự thờ cúng các vi thần, thánh khác tôn giáo trong một số tín đồ tôn giáo độc thần. Các tôn giáo độc thần muốn cắm rễ vào lòng dân phải làm ngơ hay chấp nhận các tín đồ của mình theo các tôn giáo truyền thống. Ngược lại, ở Châu Âu, Bắc Mỹ, nay lại có hiện tượng một số tín đồ rời bỏ tôn giáo của mình theo các tôn giáo khác. Việc đạo thờ cúng tổ tiên đương trở lại ở Tây Âu, cũng như việc tạo ra những hiện tượng tôn giáo mới dần trở nên phổ biến là một thí dụ. Trong 2500 hiện tượng "tôn giáo bồng bềnh”, lúc mọc, lúc lặn của thế kỷ XIX - XX, có khoảng một chục tôn giáo được ra đời và đứng được với hàng triệu tín đồ (Việt Nam có hai: đạo Cao Đài và Hoà Hảo). Con người đương tự nhào nặn ra thánh, thần của họ và còn nhào nặn. Như vậy làm sao sẽ có được một tôn giáo độc tôn mang tính toàn cầu. Điều đó là không tưởng, tuy là kỳ vọng không chỉ của các tôn giáo lớn như Kitô giáo, Hồi giáo, mà còn các tôn giáo như Cao Đài...

Lại thêm mối quan hệ giữa con người với thế giới siêu nhiên vô hình là một đặc điểm cơ bản của tôn giáo, nhưng nếu chỉ có vậy thì chưa đủ. S.A.Tokarev đúng khi nhấn mạnh tính xã hội, tính thực tiễn của tôn giáo đối với những cộng đồng tôn giáo tức là những thành viên cùng chung một đức tin. Ông nói sức mạnh của tôn giáo cần hiểu như C.Mác, con người sáng tạo ra tôn giáo rồi lại bị tôn giáo chi phối, ý muốn nêu lên tác động trở lại của thế giới siêu nhiên vô hình đối với cộng đồng, với con người. Tôn giáo mơ hồ, khó hiểu với con người chính lại làm cơ sở cho con người tin vào nó, nhờ được nó cứu rỗi, an ủi, giải thoát và muốn được hướng về cái thiện, về một thế giới hiện hữu tuy còn khổ đau, nhưng tràn trề hy vọng cho dù là ảo tưởng, và có được một cuộc sống ở thế giới bên kia trên Thiên đàng, Nát bàn tay cùng với người thân đã khuất. Như vậy ta có thể coi đối tượng chung nhất của tôn giáo, tây cũng như đông, là thếê giới siêu nhiên vô hình được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách hư ảo giữa con người và thế giới đó nhằm giải lý những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia trong nhũng hoàn cảnh lịch sử, địa lý khác nhau, của tùng cộng đồng tôn giáo hay xã hội khác nhau.

6. Con người muốn tìm thấy ở tôn giáo cái gì mà khoa học công nghệ không thể cho họ được, thậm chí lại còn "có thể tạo nên địa ngục cũng như thiên đàng".

Đúng là khoa học cộng nghệ giúp con người hiểu biết thế giới tự nhiên hữu hình cũng như tấn công vào thế giới vô hình, tạo cho con người những điều kiện vặt chất để dời sống được nâng cao, nhưng khoa học công nghệ cũng bất lực không giúp con người cách ứng xử và cách sống trong xã hội, thậm chí nếu bị lợi dụng, còn là chỗ dựa cho những thế lực chính tri dùng hạt nhân, vũ khí hoá học răn đe huỷ diệt cái mà con người sáng tạo ra. Khoa học công nghệ cũng lại còn bất lực trước những điều thiết thân với cuộc sống như, nguyên nhân sự sinh, tử, sự tồn tại và số phận của bản thân con người nói chung, một cộng đồng người hay từng người riêng rẽ, và muôn vật. Bằng phương pháp trực giác, chức năng tạo cho con người những ảo tưởng gửi gắm mình vào thế giới huyền bí thông qua bản thân cuộc sống, phải chăng là tôn giáo đang cố gắng lấp vào cái chỗ trống mà khoa học chưa hay không làm được. Vấn đề đặt ra là ở chỗ cố gắng đó thành công hay thết bại. Song điều dễ thấy là khoa học ngày một phát triển, như trước đây ta tưởng, thì cái "thế giới siêu nhiên vô hình" mà ta chưa biết sẽ thu hẹp lại. Khoa học ngày nay phát triển như vũ bão, vén được tấm màn che phủ khá nhiều điều xưa được gán cho thế giới siêu nhiên vô hình, thì ngày nay người ta lại thấy khoa học tự nó lại chỉ cho con người nhiều điều chưa hiểu biết mới, trong một khía cạnh nào đó dường như góp Phần tạo nên một cảm giác bất lực của con người. C. Mác, Ph. Ăngghen, những người sáng lập ra chủ nghĩa Mác, A. Einstein, một nhà khoa học, J. Nehru, một nhà văn hoá đều cảm nhận như các cụ ta xưa thường nôm na "Càng học thì càng thấy ngu”, "Biển học vô bờ". Có thể nhắc lại ý kiến của H.Spencer khi ông cho rằng các tôn giáo đối lập nhau về giáo lý, nhưng đều thống nhất ở chỗ thế giới bao quanh với nhiều bí ẩn mà con người chưa thể giải thích ngoài mềm tin vào tôn giáo. Đối tượng của tôn giáo vẫn còn đó và có thể còn mãi mãi. Vì vậy con người vẫn còn cần một nhu cầu tôn giáo. Đó là một sự thật và là một sự thật khó chối cãi. Đúng như R.Garaudy đã chỉ ra, con người hơn con vạt ở chỗ biết chọn người dừng loại. Con người có quyền và có khả năng mong muốn nhận thức được cái vượt ra ngoài cuộc sống bản năng, ngắn ngủi ở trần gian.

C.Mác, Ph. Engghen và cả Lênin đã phê phán L.Feuerbach chủ trương về một con người trừu tượng và một tôn giáo trừu tượng, đã phê phán thứ vô thần cực đoan của các nhà triết học thế kỷ ánh sáng cũng là một thứ hữu thần. Nên nhà thần học nổi tiếng dương thời, nhà lí luận gia thần học sáng giá T.de Chardin đã viết "Điều cốt yếu hàng đầu của chủ nghĩa Mác chưa phải là chủ nghĩa vô thần, mà là chủ nghĩa nhân đạo, là niềm tin vào con người". Nhà thần học Đức J.B.Metz cũng đã.nhận xét là chủ nghĩa Mác là "chủ nghĩa nhân đạo hậu vô thần" sinh ra không phải đấu tranh với ý niệm Đức Chúa Trời, mà để chống lại "Nhà nước đó" và để cố gắng thay đổi "xã hội đó”.

Vậy ta thấy có những tôn giáo cụ thể sản sinh ra ở một cộng đồng xã hội cụ thể. Ở phương Tây, tuy có nhiều tác giả không nói ra, nhưng rõ ràng họ cũng lại gầm viết ra ý kiến đặc sắc của C. Mác và Ph.Engghen khi hai ông đã chỉ ra xã hội ấy, Nhà nước ấy, Con người ấy đã sản sinh ra tôn giáo ấy. Tôn giáo vừa là phản ánh, lại vừa là phản kháng thế giới dương thời. Tôn giáo mang tính xã hội. Đó là vì hai ông nhìn nhận tôn giáo với tính lịch sử nhất đinh và biện chứng. Hai ông cũng lại phân biệt khá rõ có sự khác nhau giữa CNDV và chủ nghĩa vô thần, vì có tôn giáo không bàn gì về thần thánh như đạo Phật, đạo Nho, nhưng vẫn không phải là duy vật. Và trong một thế giới phiếm thần, thật khó nói có một người vô thần nếu được hiểu đúng theo nghĩa phương Tây.

Vả lại hiểu chủ nghĩa vô thần tư sản, cực đoan và máy móc, mà lại gán cho chủ nghĩa Mác, là vô tình rơi vào luận điểm của những người đương muốn chống lại chủ nghĩa Mác, thường rêu rao tôn giáo không thể đi với CNXH, cho rằng Đảng và Nhà nước XHCN chỉ coi việc chấp nhận tôn giáo như một thủ đoạn, do đó mà khống chế quần chúng tín đồ. Họ quên lãng không ai khác chính là F.Enggen đã chế nhạo các học giả của giai cấp tư sản Pháp và Đức sau khi đã “cố gắng hết mình để vĩnh viễn tiêu diệt tôn giáo", rồi lại phải kêu gọi người ta phải bảo tồn tôn giáo cho nhân dân và chỉ có tôn giáo mới có vãn được xã hội ra khỏi nạn phá sản hoàn toàn và giai cáp Anh mới trả thù họ và gào lên: "Đồ ngu! Tôi đã bảo các anh cách đây hai thế kỷ rồi". Như vậy, rõ ràng là chủ nghĩa Mác không chấp nhận một thứ vô thần cực đoan phi biện chứng và lịch cử.

Thực ra, như S.Amin viết, chủ nghĩa vô thần theo kiểu đó phải được hiểu như một thứ duy vật máy móc, thậm chí là thô bạo nhiều khi tưởng chừng như đối lập với duy tâm, nhưng thực ra lại là đưa bé sinh đôi với nó và ông coi hai thứ duy vật và duy tâm đó như hai mặt của một chiếc mề đay. Thứ vô thần này thực ra lại luôn mang tính tôn giáo và ông nhận xét hai ý thức đó lại dễ cặp đôi với nhau như tình hình Hoa Ký hiện nay ở đó CNDV thô bạo chi phối chuẩn mực xã hội (và sự giải thích "khoa học" của nó), trong khi đó, thì CNDT tôn giáo lại tồn tại một cách nguyên vẹn trong những linh hồn. Khoa học xã hội tư sản không vượt xa được cái CNDV máy móc đó, vì lẽ điều kiện của sự sản sinh ra tha hoá đã cho phép nuôi dưỡng sự khai thác đặc thù lao động bởi tư bản.

7/ Vậy tôn giáo bao hàm những hình thức tôn giáo nào?

Hiện nay, ở nước ta và một số nước dường như chỉ coi các hình thức tôn giáo sản sinh ra từ xã hội có giai cấp hay đúng nữa là phải có tổ chức, giáo lý, giáo luật... mới được coi là tôn giáo. Còn đến ngay như một hình thức tôn giáo như dạo thờ cúng tổ tiên, mà những tác giả quyền uy như E.Durkheim, L.Cadière, S.A.Tocarev... cũng như những nhà học giả về tôn giáo hiện nay nổi tiếng như J.Delumeau, M.Granet, L.Vandermeersch, Anne Chang... phải chấp nhận như một tôn giáo, mà đức tin của đạo đó bao trùm lên hầu hết nếu không nói là tất cả con Rồng, cháu Lạc, tác động có tính chi phối sự tồn tại của các tôn giáo ngoại sinh hay nội sinh, thì chỉ được xem như một tín ngưỡng, thậm chí tín ngưỡng dân gian. Một sự thật là ngoài đạo Cao Đài, đạo hoà bảo, hai hình thức tôn giáo mới ra đời gần đây, thì các đạo được coi là tôn giáo đều là ngoại nhập: đạo Công giáo (hay gọi nhầm là Thiên Chúa giáo), đạo Tin Lành, đạo Phật... (xin lưu ý đạo Bahaie, một tôn giáo mới được thừa nhận với hàng chục triệu tín đồ, đạo Khrisna... cũng đã có mặt ở nước ta trước ngày giải phóng trong vùng chưa giải phóng).

Nếu ta thống nhất đinh nghĩa mà chúng tôi đã nhắc lại ở trên (tất nhiên không được các nhà học giả theo trường phái lỗi thời nếu không nói là phản động chỉ coi tôn giáo độc thần là tôn giáo hay chỉ coi tôn giáo mình theo là một tôn giáo), thì phải thấy tôn giáo bao hàm tất cả các hình thức tôn giáo bắt nguồn từ xã hội chưa có giai cấp, cũng như ra đời sau này trong xã hội có giai cắp. Tuy phân loại ra bằng nhiều cách, rõ ràng C.Mác và Ph.Engghen cũng chỉ dùng một thuật ngữ tôn giáo. Ta có thể trích một trong nhiều lần phát biểu của hai vi để làm thí dụ: "Tôn giáo sinh ra trong thời đại hết sức nguyên thuỷ... Do đó những khái niệm tôn giáo ban đầu ấy, thường là chung cho một tập đoàn cư dân cùng dòng máu, thì sau lại phân chia ra, phát triển lên một cách riêng biệt ở mỗi dân tộc ... Những vị thần được tạo ra ở từng cu dân là những vị thần dân tộc, lĩnh vực chi phối của các vị đó không vượt ra khỏi ranh giới dân tộc mà các vị đó bảo vệ... "

Tuy nhiên nếu chấp nhận một thực tế là không ít các hình thức tôn giáo bắt nguồn từ hàng chục ngàn năm vẫn tồn tại cho đến hiện nay như thờ cúng thần bộ lạc, tổ tiên huyết thống, saman giáo, thậm chí tô-tem giáo, với một nội dung đã thay đổi vì tính xã hội, tính văn hoá của nó, thì ta chỉ có thể phân loại các hình thức tôn giáo còn tồn tại đến ngày nay: loại bắt nguồn từ xã hội nguyên thuỷ, loại bắt nguồn từ xã hội có giai cấp, cả hai đều phải thay đổi để thích nghi nếu không thì đã lỗi thời, đã mất đi. Ph.Engghen trước đấy cũng đã nêu rất rõ những tôn giáo được tạo nên bởi những người cùng cảm nhận một nhu cầu tôn giáo và điều đó có ý nghĩa là nhu cầu quần chúng. Trong cuốn Tư sát, E.Durkheim cho rằng con người cảm thấy trơ trọi và "Xét cho cùng, tôn giáo là hệ thống những biểu tượng nhờ đó xã hội có ý thức được về bản thân mình, đó là cách suy nghĩ riêng của các hữu thể tập. Tất nhiên cũng không hẳn chỉ có tôn giáo mới đáp ứng được yêu cầu đó, và ông không dùng khi cho tính xã hội, tính cộng đồng là do yếu tố tinh thần quyết định. Theo Ph.Engghen, khi mà Nhà nước và tôn giáo còn đồng nhất, thì tính cộng đồng quan trọng nhất của tôn giáo là dân tộc. Ông viết " Các thần được tạo ra như thế ở từng dân tộc riêng biệt là thần dân tộc và quyền hành của những thần đó không vượt ra ngoài ranh giới của khu vực dân tộc mà thần che chở và ngoài ranh giới đó là các thần khác thống lĩnh. Tất cả những thần đó chỉ sống trong biểu tượng con người khi dân tộc tạo ra nó tồn tại và nó cũng sẽ mất đi cùng với sự diệt vong của dân tộc ấy". Nhiều nhà khoa học cũng đồng ý và trong một chừng mực nhất định, khi coi các tôn giáo có tính thế giới hay khu vực cũng chỉ là một ước lệ, vì một số trường hợp không nhỏ biểu hiện của tôn giáo này ở từng quốc gia dân tộc, từng tộc người mang một sắc thái riêng, thậm chí nó tạo thành những giáo phái, giáo hội khác nhau. Ông cho rằng có những giáo phái như giáo phái Monnophidit của giáo hội Armeni có thể coi như tôn giáo dân tộc, cũng như giáo phái Echdachi ở người Bungari, giáo phái lslam Vachabit của người Arập Xêuđich. Còn ở những nước theo đạo Hồi, đạo Phật đạo Khổng, Đạo giáo... cũng có thể có những trường hợp tương tự, ở đấy, những nét riêng biệt thể hiện trong cư dân các nước khác nhau có cùng một tôn giáo được coi như một đặc trưng nhằm khẳng đinh tính cách dân tộc. Vậy nên S.A.Tokarev nhận định khá đúng là không một tôn giáo thế giới nào mà sự truyền bá của nó lại không lệ thuộc vào ranh giới một dân tộc".

Vậy nên, ta thấy rằng tôn giáo biểu hiện rất khác nhau, trước đây cũng như hiện nay, theo hướng độc thần hay phiếm thần. Nhận thức tôn giáo cũng thay đổi. Trong một cư dân theo một bay nhiều tôn giáo, tính dân tộc cần được coi trọng, bởi lẽ con người sống trên mảnh đất mình đã sinh ra, cho dù theo tôn giáo nào cũng phải hướng về dân tộc. Nên khẩu hiệu "Đẹp đời, tốt đạo", "Sống Phúc âm trong lòng dân tộc" hay "Đạo pháp, dân tộc, xã hội chủ nghĩa" là thích hợp.

Hướng người dân vào cái Thiện (vì tôn giáo nào chẳng hướng thiện), tránh cái Tà, chính là hường họ vào những điều đạo đức tôn giáo phù hợp với đạo đức của chế độ ta đang xây dựng.

Thử bàn về biểu hiện của tôn giáo
ChúngTa.com @ Facebook
Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: .
Tổng số người truy cập: .
Số người đang trực tuyến: .
.
Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,