Thu hút và sử dụng vốn ODA tại Việt Nam

03:32' CH - Thứ sáu, 28/03/2014

Biên tập viên VITV (BTV): Xin kính chào quý vị và các bạn đang theo dõi chương trình "Đối thoại" được phát sóng trên kênh Thị trường - Kinh tế - Tài chính VITV. Thưa quý vị, cách đây 17 năm, vào năm 1993 hội nghị bàn tròn tài trợ dành cho Việt Nam đã được tổ chức tại Paris dưới sự chủ trì của Ngân hàng thế giới, khởi đầu cho quá trình thu hút và sử dụng vốn ODA tại Việt Nam.

Sau hơn 20 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu phát triển vượt bậc, được dư luận trong nước và quốc tế thừa nhận rộng rãi. Những thành tựu đó có được là nhờ một phần đóng góp rất quan trọng của viện trợ phát triển. Nhân sự kiện hội nghị CG (hội nghị nhóm các nhà tư vấn tài trợ cho Việt Nam) giữa kỳ tổ chức tại Kiên Giang, chương trình Đối thoại hôm nay bàn về chủ đề "Thu hút vốn ODA tại Việt Nam". Các vị khách quý được chúng tôi mời đến trường quay ngày hôm nay là những người sẽ chia sẻ cùng chúng tôi những quan điểm về thu hút và sử dụng vốn ODA tại Việt Nam trong thời gian qua. Xin trân trọng giới thiệu ông Trần Xuân Giá, nguyên Bộ trưởng Bộ kế hoạch và Đầu tư và ông Nguyễn Trần Bạt, Tổng giám đốc công ty Invest-Consult Group tham gia chương trình ngày hôm nay. Đề nghị các vị khách mời chia sẻ quan điểm của mình về ý nghĩa và tầm quan trọng của ODA đến Việt Nam.

Ông Trần Xuân Giá, nguyên Bộ trưởng Bộ kế hoạch và Đầu tư

Ông Trần Xuân Giá (TXG): Đây là chủ đề tốt chúng ta cần trao đổi, bởi lẽ câu chuyện này còn dài. Có lẽ tôi phải có một đính chính nho nhỏ là Việt Nam với tư cách là nước nhận ODA thì không phải bắt đầu từ năm 1993, mặc dù đó là một mốc hết sức quan trọng. Từ hồi còn Liên Xô, còn khối SEV, quy mô thì khác nhau nhưng chúng ta đã từng là nước nhận ODA. Thứ hai là ngay năm 1993 thì không phải lúc đó là chúng ta bắt đầu mà chúng ta được khôi phục tư cách thành viên sau một thời kỳ gián đoạn. Và lúc bấy giờ tôi còn nhớ mãi đấy là những nước như nước Úc và một loạt nước đi đầu, còn những nước khác thì còn chậm hơn nhiều. Sở dĩ tôi nhắc lại mốc lịch sử và nói đôi điều như vậy để nói mấy câu chuyện sau đây về ý nghĩa. Một là trong quan hệ kinh tế đối ngoại thì chúng ta có ít nhất là ba kênh, kênh ODA, kênh đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI và xuất nhập khẩu. Thường thì người ta cứ tách bạch nó ra để nói chuyện, người ta không gán cả ba kênh đó và sau này còn có kênh đầu tư gián tiếp vào, đó là một sai lầm. Trong 3 kênh chính đó thì ODA có quy mô không lớn, như con số đưa ra trong phóng sự vừa rồi, nếu bổ sung cả con số năm 2009 thì đâu đó khoảng 26-27 tỷ đã giải ngân từ năm 1993 cho đến bây giờ, nhưng nó là nguồn vốn đi đầu, khơi mào.

Tại sao như vậy? Bởi vì bất kể một quan hệ kinh tế nào đều gắn liền với quan hệ chính trị đối ngoại, ODA là một kênh, một quan hệ chính trị đậm nét nhất, điều đó tôi cũng không phải giải thích thêm. Chính vì vậy, khi ODA được khai thông thì nó mở đường cho đầu tư trực tiếp nước ngoài, thậm chí có những nước trước khi các doanh nghiệp của họ đầu tư vào Việt Nam thì ODA đi trước để chuẩn bị kết cấu hạ tầng, chuẩn bị các điều kiện thuận lợi để cho đầu tư trực tiếp nước ngoài vào đất nước chúng ta. Cho nên, về vốn là không lớn, tính chung nó chiếm đâu đó vào khoảng 12-13% tuỳ từng năm, có năm thấp hơn. So với đầu tư tương ứng cho sản xuất và so với đầu tư toàn xã hội con số ấy không lớn, nhưng không thể vì nó không lớn mà chúng ta hạ thấp ý nghĩa của nó như tôi vừa mới nêu ở trên.

ODA còn quan trọng ở chỗ là nó tập trung vào những công trình dự án không thu hồi vốn được hoặc thu hồi rất chậm mà chúng ta rất cần như đường giao thông, các kết cầu hạ tầng xã hội như trường học, bệnh viện… Những thứ đó tư nhân họ không kinh doanh vì thu hồi vốn rất chậm, nếu không có nguồn vốn này thì lấy đâu ra để tạo ra những kết cấu hạ tầng cực kỳ quan trọng như vậy. Thành thử đừng lấy con số được giải ngân mà nói rằng đến lúc chúng ta không cần đến nó nữa. Hơn nữa có những khoản hết sức lớn, có những dự án nếu như không có ODA thì không có bất kỳ nguồn nào có thể có được.

Điều thứ ba, nhân đây tôi cũng nói luôn, là người có theo dõi ngay từ ngày đầu, từ năm 1993 thì tôi thấy có lẽ có một câu chuyện lớn cần phải nhắc tới, đó là mối quan hệ giữa các nhà tài trợ và các nước nhận tài trợ đã có một sự thay đổi lớn. Năm 1997 trở về trước, nói chung tính chất áp đặt rất mạnh. Từ sau năm 1997, cả thế giới và đặc biệt trong quan hệ đối với Việt Nam có những thay đổi. Mối quan hệ này diễn biến theo hướng nâng vai trò của nước chủ nhà, của nước nhận viện trợ. Chỗ này có thể có một sự rút kinh nghiệm nào đó của các nhà tài trợ từ những sự áp đặt không thành công ở đâu đó trên thế giới. Một câu chuyện nữa là những nước nhận viện trợ, bản thân họ cũng tự lớn lên và họ tự làm chủ, nhưng họ lớn lên đến mức tự làm chủ hoàn toàn chưa, kể cả trường hợp của Việt Nam, thì có lẽ chúng ta cần bàn tiếp.

Ông Nguyễn Trần Bạt- Tổng giám đốc công ty Investconsult Group

Ông Nguyễn Trần Bạt (NTB): Tôi hoàn toàn đồng ý với ý kiến của Bộ trưởng Trần Xuân Giá, tôi có bổ sung thế này: Không chỉ có những nước đang phát triển hoặc đang khó khăn mới cần đến ODA, bởi vì có những nước đã phát triển rồi bỗng nhiên rơi vào tình trạng khủng hoảng thì họ vẫn tiếp tục cần ODA. Cho nên giữ một thái độ hoà hoãn, tốt đẹp với cộng đồng các nước có năng lực tài trợ là một trong những bản lĩnh cần thiết mà chính phủ nước nào có tầm nhìn cũng đều phải tính đến. Bởi vì chúng ta không dám chắc rằng 10 năm sau, 20 năm sau chúng ta không rơi vào khủng hoảng. Rất nhiều nước rơi vào khủng hoảng phải sử dụng những nguồn tài trợ. Cho nên, ODA không phải là một nguồn tài chính cung cấp cho những nước chậm phát triển, mà còn là nguồn tài chính cung cấp cho những nước bỗng nhiên rơi vào tình trạng khủng hoảng. Và bất kỳ một quốc gia, một cộng đồng lành mạnh nào cũng phải nhìn những tình huống ấy như là những tình huống có thể có đối với mình, và nên tỏ một thái độ chừng mực, phải chăng đối với cộng đồng các nước tài trợ.

BTV: Vậy thì đối với riêng những nước đang phát triển như Việt Nam, tầm quan trọng của ODA là như thế nào?

NTB: Tôi nghĩ rằng nó vô cùng quan trọng. Tôi là một trong những người hướng dẫn đầu tư nước ngoài trực tiếp vào Việt Nam, có lẽ là một trong những người có kinh nghiệm nhất tại Việt Nam. Tôi phải nói rằng, nếu không có những dàn xếp có tính chất ODA, không có cộng đồng các nước tài trợ như là một bằng chứng có tính nhà nước và các định chế tài chính để xác nhận Việt Nam là một nước có những chuẩn bị tích cực để tiếp nhận đầu tư, thì sẽ không có đầu tư trực tiếp nước ngoài. Chúng ta nên nhớ là cuối những năm 80, có rất nhiều các tài trợ, viện trợ nho nhỏ không đáng kể nếu xét về mặt tài chính, nhưng vô cùng đáng kể để khai sáng các khái niệm về phát triển đối với xã hội chúng ta. Tôi đã đi dự những lớp do văn phòng chính phủ tổ chức, mà ở đó có những quan chức của chúng ta còn nhầm lẫn giữa vốn lưu động và tính chất có thể dịch chuyển được của trâu bò. Vậy mà bây giờ chúng ta có những chuyên gia tài chính, chuyên gia kinh tế đối thoại một cách bình đẳng trên những diễn đàn quốc tế, đấy là một bước tiến khổng lồ. Và thuốc nở tạo ra sự bùng nổ trí tuệ như vậy, phần nhiều là nhờ ODA.

Khi chính phủ công đảng ở Úc được thay thế bằng chính phủ bảo thủ, họ cử một quan chức cấp chính phủ đến hỏi tôi là: chính phủ công đảng đã đưa ra một loạt những cam kết mà người Úc bây giờ không đủ điều kiện tài chính để cung cấp hết, theo ông chúng tôi nên giữ cái gì mà vẫn bảo vệ được mối quan hệ tốt đẹp giữa người Úc và người Việt? Tôi đã nói rằng làm cầu Mỹ Thuận và tài trợ cho giáo dục và đào tạo. Qua câu chuyện đó các anh chị thấy rằng có một cái gì đó không vụ lợi, có thể có một nền tảng đạo đức rất tốt đẹp trong mối quan hệ giữa chúng ta với cộng đồng các nước tài trợ. Và cái đấy tất cả các phương tiện truyền thông của chúng ta có nghĩa vụ phải làm sáng tỏ để tránh cho xã hội những ngộ nhận không cần thiết về ODA.

BTV: Là một người hơn 20 năm đóng vai trò đứng đầu một công ty tư vấn hàng đầu của Việt Nam, theo ông thì mức độ quan tâm của các nhà cho vay đối với Việt Nam trong quá khứ và hiện nay có khác gì nhau không?

NTB: Vô cùng khác. Trước đây họ cho vay với một sự phân vân rất lớn, một sự phòng thủ rất lớn về mặt rủi ro, nhưng bây giờ chúng ta đã có những sự cho vay dễ dàng, có những sự cho vay có tính chất tín nhiệm một cách rất rõ rệt. Cho nên các quan hệ tài trợ, cả quan hệ có tính chất nhà nước và quan hệ có tính chất tư nhân, đều được cải thiện một cách rất rõ rệt. Và bộ trưởng Trần Xuân Giá có lẽ là một trong số rất ít người Việt Nam có tư cách để nói một cách chân thật về chuyện này.

TXG: Tôi rời cái ghế này cũng đã lâu rồi, cho nên tình hình thay đổi nhanh đến mức nói có khi không phù hợp với cuộc sống hiện tại chăng. Nhưng tôi thấy đúng là có nhiều cái khác. Trước hết, tôi thấy hết sức tự hào về người Việt Nam. Chúng ta thích nghi tương đối nhanh với hoàn cảnh. Từ nhận viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa, sang nhận viện trợ của các nước tư bản, chúng ta thích ứng tương đối nhanh. Và phải thừa nhận thế này, sự khác nhau nó tiến triển dần theo sự thừa nhận đường lối ngoại giao của chúng ta. Phải nói thẳng rằng không có đường lối ngoại giao đúng đắng thì khó có được sự thu hút ODA như thời gian vừa qua. Hay nói cách khác, ODA là minh chứng cho đường lối ngoại giao đúng đắn của chúng ta, một sự thừa nhận quốc tế đối với chúng ta. Còn một sự khác nữa là ngày xưa các hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ thế giới nói chung đều tổ chức ở nước thứ ba, nhưng bây giờ thì khác. Tôi ít nhất cũng thấy tự hào một chút về chuyện tôi đề xuất làm thử ở Việt Nam một lần, nếu thất bại thì quay lại thông lệ của quốc tế. Sau một lần đó rồi thì người ta thấy tổ chức hội nghị tại nước nhận viện trợ nó bổ ích ghê gớm, không phải chỉ vì việc tiết kiệm mấy đồng bạc đi lại. Người ta ủng hộ, rồi thấy rằng đây là một cuộc đối thoại rất là bổ ích, cho nên không chỉ đối thoại một năm một lần, và cũng chính tôi đề xuất làm thử CG giữa kỳ. Lúc bấy giờ tôi nói quê tôi ở Thừa Thiên Huế, mời các ông đến thăm quê tôi và bàn về tình hình ODA của cả nước. Thế là họ mang vào Huế làm và đó là lần đầu tiên tổ chức CG giữa kỳ mà sau này trở thành thông lệ và nó có cái gì đấy như là bài học cho một số quốc gia hiện nay họ cũng làm như vậy. Nói như vậy không phải để nói là mình có gì ghê gớm, mà tôi muốn nói cái khác ghê gớm mà anh Bạt vừa nêu là lòng tin, sự tín nhiệm dần dần nâng lên theo thời gian. Thực tế là có sự hiểu nhau nhiều hơn và trong các bàn bạc cụ thể cũng khác với ngày xưa. Cái khái quát nhất chính là chỗ đó. Tôi cũng phải nói thêm rằng, lòng tin đến bây giờ đã đủ chưa, thì chắc là chưa, tín nhiệm đã đủ chưa thì chắc là chưa, còn phải phấn đấu nữa, còn phải làm tiếp nữa. Và lúc mở đầu tôi đã nói là câu chuyện này còn dài, ai đó nói cắt trong ngày mai là vô trách nhiệm với đất nước.

BTV: Vâng, có thể nói từ quá khứ đến hiện tại thì lòng tin của các nhà cho vay với Việt Nam đã thay đổi rất nhiều. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải nhìn vào thực tế một chút, đó là theo số liệu mà chúng tôi có được từ Bộ KHĐT thì thời kỳ 1993 đến 2008, tổng vốn ODA giải ngân đạt hơn 20 tỷ đô la Mỹ, chiếm 52% tổng ODA cam kết và hơn 62% tổng ký kết. Vậy thì số lượng giải ngân tại sao không tăng lên được mà luôn nằm mấp mé ở khoảng 50% lượng cam kết và lượng ký kết?

TXG: Khi tôi đang còn ngồi tại vị thì câu hỏi này đã từng được đặt ra. Tôi cũng có những con số đầy rẫy từ năm 1993 cho đến sau này và có câu chuyện là ai cũng hỏi: sao lại như vậy? Thông thường có ba công đoạn quan trọng nhất: đi vận động, thu hút rồi kết quả của nó là cam kết. Cam kết thực ra mới là lời hứa, lời hứa chính trị đối với đất nước ta và nó chưa thêm được gì cả, nó có thêm chính trị chứ vật chất thì chưa có gì. Thứ hai là pháp lý hóa bằng các văn kiện được ký kết. Và tôi xin nói lại, ODA là mối quan hệ chủ yếu giữa chính phủ với chính phủ, hoặc là giữa chính phủ với các định chế tài chính liên chính phủ. Tôi lấy ví dụ, Ngân hàng Thế giới là một tổ chức tài chính của các chính phủ, trong đó cổ đông lớn, cổ đông bé (Việt Nam cũng là một cổ đông) là chính. Còn một ít các mối quan hệ giữa chính phủ với tổ chức phi chính phủ, hoặc là phi chính phủ trong nước với phi chính phủ bên ngoài, nhưng phần đó rất bé. Còn ODA nói gọn lại là mối quan hệ chính trị giữa chính phủ với chính phủ.

Ở chỗ này nguyên nhân có thể có rất nhiều, nguyên nhân mà chúng ta hay nói tới bắt đầu từ những quy định, quy trình từ ký kết cho đến giải ngân, đến thực hiện của chúng ta liên tục sửa đổi, liên tục hoàn thiện nhưng đây vẫn còn là vấn đề hết sức lớn. Mặc dù chúng ta có những nghị định chuyên về ODA từ A-Z, nhưng khi nghị định đó ra đời thì một loạt các luật, các nghị định khác lại ra đời, lại chống lại cái chính phủ vừa mới ra. Cho nên, vấn đề đồng bộ về mặt pháp lý là một câu chuyện quá lớn. Câu chuyện thứ hai, liên quan đến một thứ rất chậm trễ, đó câu chuyện giải phóng mặt bằng, câu chuyện muôn thuở, câu chuyện đến bây giờ vẫn chưa thoát nổi, nó chậm ghê gớm. Câu chuyện thứ ba là bộ máy quản lý của mình thiếu chuyên nghiệp, thiếu hiểu biết, chưa ổn, kể cả con người gắn với bộ máy đó cũng chưa ổn. Và đồng thời cái bao trùm là quan niệm về ODA của đất nước này cho đến bây giờ vẫn chưa thống nhất, chưa đủ rõ, mặc dù đã trải qua 20 năm.

Có một nguyên nhân nữa, nguyên nhân hết sức quan trọng, bất kể nước nào, nước đi viện trợ cũng như nước nhận viện trợ đều có tính đến lợi ích của dân tộc mình và điều đó cũng gây nên chậm trễ ghê gớm. Tôi lấy ví dụ, cách đây một thời gian rất ngắn, chúng ta vừa mới khánh thành cầu Cần Thơ, tôi là người tham gia một cách trực tiếp đi tìm nguồn tài trợ. Khi nước Nhật đưa ra việc này trước hết họ nghĩ tới lợi ích của người lao động Nhật chứ không phải là lợi ích của Việt Nam (tất nhiên việc Việt Nam có cái cầu cũng rất quan trọng). Tôi lấy một thí dụ, trong rất nhiều điều kiện thì có một điều kiện gần như tiên quyết là phải trên 50% các thiết bị sắt thép làm cầu đó phải mua tại nước Nhật, trong khi theo giá thị trường thế giới lúc bấy giờ thép của Nhật đắt hơn từ 25-30% so với một loạt nước khác như nước Nga. Việt Nam phải cân nhắc nên thế nào, mặc dù nhận được thì lãi suất rất ưu đãi, thời gian ân hạn rất dài, trả nợ trong một thời gian đến 30, 40 năm. Nhưng tổng lợi đó tính về kinh tế với tổng thiệt hại do một loạt các điều kiện thì thế nào, thành thử cứ cân nhắc, đàm phán lui, đàm phán tới tất cả mọi thứ rất lâu. Còn một loạt các ví dụ khác, nhất là viện trợ không hoàn lại. Khi tôi đi Bắc Âu, mình đàm phám với một đối tác tương ứng là Bộ trưởng, nhưng một loạt các công ty của nước đó họ ngồi đằng sau, ngồi bên cạnh ông bộ trưởng. Vậy thì viện trợ không hoàn lại đấy bao nhiêu đô la, bao nhiêu đồng Bảng Anh, bao nhiêu đồng Franc Pháp đi vào được Việt Nam, hay là Việt Nam ký xong thì tiền đấy hoặc là ít nhất là 70-80% nó ra ngoài.v.v. Thực ra đây là một quá trình khá phức tạp, không đơn giản một chút nào. Và do đó gần đây người ta cứ nói hài hoà lợi ích, hài hoà về các qui định pháp lý của các nước v.v, thành ra rất mất thì giờ.

Thu hút và sử dụng vốn ODA tại Việt Nam
ChúngTa.com @ Facebook
Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: .
Tổng số người truy cập: .
Số người đang trực tuyến: .
.
Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,