Con người không chỉ cần sống

04:50 CH @ Thứ Ba - 09 Tháng Giêng, 2018

Faulkner (1897 - 1962) là một tác gia nổi tiếng của nước Mỹ, là nhân vật tiêu biểu cho "Văn học miền Nam" của nước Mỹ. Ông đã từng tham gia thế chiến lần thứ nhất, học đại học được một năm đồng thời làm nhiều công việc lặt vặt khác. Ông có khá nhiều tác phẩm tiêu biểu. Năm 1949, Faulkner đã đạt được giải thưởng Nobel Văn học nhờ những đóng góp lớn đối với sự lôi cuốn mạnh mẽ của loại hình tiểu thuyết tại Mỹ. Đây là bài diễn thuyết của ông vào ngày 10 tháng 12 năm 1949 khi ông nhận giải thưởng Nobel tại Thụy Điển.

Xem bản tiếng Anh tại đây


Nhà văn William Faulkner


Tôi nghĩ rằng giải thưởng này không phải trao cho cá nhân tôi mà là trao cho tác phẩm của tôi - một sự kết tinh tâm huyết để sáng tạo của tôi, không phải vì danh lợi. Chính vì thế tôi chỉ là người được đại diện đến đây để nhận giải thưởng, đồng thời tôi muốn dành món tiền thưởng này vào việc mà lúc đầu tiên chủ nhân của giải thưởng này muốn dùng. Thực ra làm việc đó không khó, đồng thời tôi cũng muốn làm như vậy. Tôi muốn tận dụng cơ hội này để nói với những quý ông quý bà cũng đã cống hiến cả đời cho sự nghiệp sáng tác – trong số họ sẽ có những người được đứng đây nhận giải thưởng như tôi. Bi kịch của đời tôi trước kia là: mọi người đều sợ sự đau khổ về thể xác nhưng thời gian lâu dần thì sự sợ hãi đó cũng trở nên quen hơn, mà mọi người lại tập trung vào sự đau khổ về tinh thần, họ luôn nói rằng: Liệu đến bao giờ mình sẽ bị nổ tung đây? Vì điều đó mà trong các tác phẩm hiện nay hầu hết mọi người đã quên một điều rằng chỉ có những tác phẩm miêu tả được sự xung đột nội tâm của nhân loại mới có thể trở thành những tác phẩm bất hủ, chỉ có chủ đề đó mới đáng để cho chúng ta tốn nhiều tâm huyết để viết.

Chính vì thế cho nên mỗi tác giả đều cần hiểu rằng, điều đáng sợ nhất trên thế giới này đó chính là sự sợ hãi; hãy quên đi cảm giác sợ hãi, hãy dành hết tình cảm của mình cho chân lý tình cảm của nhân loại chẳng hạn như tình yêu, danh dự, sự đồng tình, lòng tự trọng và tinh thần hy sinh. Nếu như trong các tác phẩm lại thiếu đi chân lý mang tính thế giới đó chắc chắn nó sẽ không thể lưu truyền được lâu, thậm chí sẽ còn bị người khác chửi mắng. Bởi vì cái mà tác giả viết không phải là tình yêu mà là sự ham muốn. Cái được gọi là thất bại không phải là chỉ một người nào đó mất đi một thứ gì đó có giá trị, thắng lợi lại không mang lại được chút hy vọng nào. Điều nguy hiểm hơn đó là không có tình thương, khóc cho những việc không đáng khóc, sự đau thương đó chỉ là một thứ tình cảm ngắn ngủi, giả vờ, chính vì thế cảm xúc đó không gợi nên được cho người đọc điều gì.

Nếu như họ hiểu được chân lý đó họ mới có thể sáng tác với một tinh thần nghiêm túc được. Tôi không cho rằng nhân loại sẽ diệt vong, bởi vì bạn chỉ cần nghĩ tới một chuyện rằng loài người từ đời này sang đời khác cứ liên tục sinh sôi nảy nở, chỉ điều đó thôi cũng đủ để cho chúng ta nói rằng nhân loại là bất hủ. Nhưng tôi cảm thấy như vậy vẫn chưa đủ. Con người đâu chỉ cần có sống mà điều cần hơn đó !à phải xuất chúng, sự bất hủ của nhân loại không chỉ là họ có tiếng nói trong vạn vật mà điều quan trọng hơn là họ có tâm linh, có sự đồng cảm, hy sinh và tinh thần nhẫn nại. Trong khi đó trách nhiệm một nhà thơ một nhà văn là miêu tả điều đó, họ có quyền được giúp nhân loại làm thăng hoa thế giới tinh thần của mình, nhắc nhở nhân loại về những niềm vinh quang trong quá khứ. Chẳng hạn như sự dũng cảm, lòng danh dự, niềm hy vọng, tác phẩm của thi nhân không phải là một bản ghi chép về nhân loại mà nó là một chỗ dựa để nhân loại sinh tồn và vượt qua tất cả.


Banquet Speech

(William Faulkner's speech at the Nobel Banquet at the City Hall in Stockholm, December 10, 1950)

I feel that this award was not made to me as a man, but to my work - a life's work in the agony and sweat of the human spirit, not for glory and least of all for profit, but to create out of the materials of the human spirit something which did not exist before. So this award is only mine in trust. It will not be difficult to find a dedication for the money part of it commensurate with the purpose and significance of its origin. But I would like to do the same with the acclaim too, by using this moment as a pinnacle from which I might be listened to by the young men and women already dedicated to the same anguish and travail, among whom is already that one who will some day stand here where I am standing.

Our tragedy today is a general and universal physical fear so long sustained by now that we can even bear it. There are no longer problems of the spirit. There is only the question: When will I be blown up? Because of this, the young man or woman writing today has forgotten the problems of the human heart in conflict with itself which alone can make good writing because only that is worth writing about, worth the agony and the sweat.

He must learn them again. He must teach himself that the basest of all things is to be afraid; and, teaching himself that, forget it forever, leaving no room in his workshop for anything but the old verities and truths of the heart, the old universal truths lacking which any story is ephemeral and doomed - love and honor and pity and pride and compassion and sacrifice. Until he does so, he labors under a curse. He writes not of love but of lust, of defeats in which nobody loses anything of value, of victories without hope and, worst of all, without pity or compassion. His griefs grieve on no universal bones, leaving no scars. He writes not of the heart but of the glands.

Until he relearns these things, he will write as though he stood among and watched the end of man. I decline to accept the end of man. It is easy enough to say that man is immortal simply because he will endure: that when the last dingdong of doom has clanged and faded from the last worthless rock hanging tideless in the last red and dying evening, that even then there will still be one more sound: that of his puny inexhaustible voice, still talking. I refuse to accept this. I believe that man will not merely endure: he will prevail. He is immortal, not because he alone among creatures has an inexhaustible voice, but because he has a soul, a spirit capable of compassion and sacrifice and endurance. The poet's, the writer's, duty is to write about these things. It is his privilege to help man endure by lifting his heart, by reminding him of the courage and honor and hope and pride and compassion and pity and sacrifice which have been the glory of his past. The poet's voice need not merely be the record of man, it can be one of the props, the pillars to help him endure and prevail.

Nguồn:
Cập nhật lúc:

Nội dung liên quan

  • Quyền con người – nhìn từ góc độ triết học

    10/12/2018Phó TS. Hoàng CôngChúng ta phải thừa nhận rằng khó có thể tìm thấy một định nghĩa triết học "kinh điển" nào về quyền con người. Ngay cả những nhà tư tưởng lớn như Lôccơ, Rútxô... và sau này Mác, Engen, Lênin cũng không đưa ra một định nghĩa nào về khái niệm này giống như cách làm thông thường đối với các khái niệm triết học khác...
  • Không gian tinh thần

    15/08/2017Nguyễn Trần BạtNgày nay chúng ta không thể chỉ bàn đến tự do như là quyền tự nhiên cổ xưa nữa, tự do hiện đại phải được khẳng định là các quyền chính trị, các quyền xã hội, các quyền văn hóa, các quyền kinh tế. Quyền con người bao giờ cũng được thể hiện trên cơ sở những khía cạnh như vậy. Không có kinh tế tự do, không được buôn bán làm ăn một cách tự do thì không có quyền tự do kinh tế. Không có các quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do cư trú thì con người không có các quyền tự do xã hội.
  • Tự do sinh ra con người

    21/03/2014Nguyễn Trần BạtCó nhiều cách lý giải về nguồn gốc hình thành con người, nói đúng hơn là quy luật hình thành các giá trị con người. Tôi cho rằng, con người được sinh ra bởi hai quy luật: quy luật tự nhiên và quy luật xã hội. Quy luật tự nhiên là quy luật sinh học, còn quy luật xã hội là quy luật của tự do. Không phải quy luật tự nhiên sinh ra con người thì đó đã là con người theo đúng nghĩa. Chính tự do sinh ra tất cả các quyền làm người, tự do hoàn thiện con người...
  • Tuyên ngôn Nhân quyền Liên hợp quốc (10-12-1948)

    10/12/2010Công bố bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền này như một tiêu chuẩn thực hiện chung cho tất cả các dân tộc và quốc gia, sao cho mỗi cá nhân và đoàn thể xã hội luôn nhớ tới bản tuyên ngôn này, nỗ lực phát huy sự tôn trọng các quyền tự do này bằng học vấn và giáo dục, và bằng những biện pháp lũy tiến trên bình diện quốc gia và quốc tế, bảo đảm sự thừa nhận và thực thi trên toàn cầu các quyền tự do này cho các dân tộc thuộc các quốc gia hội viên hay thuộc các lãnh thỗ bị giám hộ.
  • Cội nguồn cảm hứng

    17/06/2009Bùi Quang MinhĐến nay, còn rất nhiều người chưa đạt tới trình độ nhận thức rằng tự do là nền móng để họ trở thành Con Người, là trình độ làm người ở mức cao nhất. Do truyền thống, do mức muộn mằn tiếp cận khái niệm tự do, do tư duy ấu trĩ chưa được tự do soi rọi vào cuộc đời mình, mà số đông chúng ta không tự trau dồi về tự do, không phát hiện ra hiện tượng nào quanh ta tự do không được coi trọng, thiếu tự do. Cũng không thiếu người bị chà đạp lên tự do, mất quyền cơ bản của mình mà không mảy may nhận ra, phản ứng lại...
  • Ngẫm nhân ngày nhân quyền thế giới

    14/04/2008Nguyễn Tất ThịnhĐời sống và Dân trí ngày càng cao hơn nhưng Tam Dân (Dân tộc độc lập, Dân quyền tự do, Dân sinh hạnh phúc) luôn là thách đố, là mục tiêu, là thước đo về trình độ phát triển xã hội...
  • xem toàn bộ