Đang tải dữ liệu...
ChúngTa.com.NET CommunityHanoi Software JSCDoanh nhân 360
Home
 
Suy ngẫm
 
Giáo dục
 
Trải nghiệm Trưởng thành
 
Kinh doanh
 
CNTT
 
Góc Giải trí
 
Tác giả
   Bản chất thế giới    Nhận thức    Hệ giá trị    Thực tiễn-Hành động    Ngẫm nghĩ Việt Nam    Điểm sách hay
Tìm bài viết
Tìm kiếm nâng cao
Thống kê
Số lượt truy cập: 57.225.369
Số người trực tuyến: 578
Trong đó có 1 thành viên: Nhân Sinh Quan
Bạn đọc đến từ đâu?

Bạn đọc của ChúngTa.com đến từ đâu?

Hà Xuân Trường: Một nhà lý luận - thực tiễn

Trần Thị Thắng
Sài Gòn giải phóng
   
07:01' AM - Thứ năm, 29/06/2006
Ông Hà Xuân Trường (1924-2006)
Cùng với lớp đàn anh như Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Nguyễn Đình Thi... Hà Xuân Trường yêu văn nghệ, nhưng đi một hướng khác: Lý luận phê bình văn học.

Một con người thông thạo tiếng Pháp, sau là tiếng Nga, Hà Xuân Trường có điều kiện tiếp xúc với nhiều nền lý luận văn học trên thế giới. Trong nước, văn học thành văn bằng chữ quốc ngữ của chúng ta tuổi đời chưa phải là nhiều, thêm vào đó lý luận phê bình văn học càng non trẻ.

Sự xuất hiện nhà lý luận phê bình Hà Xuân Trường là một ngưỡng cho lý luận phê bình Việt Nam trong giai đoạn kháng chiến và tiến lên chủ nghĩa xã hội. Năm 1965, ông được điều động sang làm Thứ trưởng Bộ Văn hóa, phụ trách khối Nghệ thuật, thời gian ấy là 18 năm chăm lo cho điện ảnh, kịch bản văn học.

Ông Hà Xuân Trường, sinh ngày 13-9-1924, quê quán: xã Ðức Vĩnh (Ðức Thọ, Hà Tĩnh); Ủy viên dự khuyết T.Ư Ðảng khóa V và khóa VI; nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản; nguyên Trưởng ban Văn hóa- Văn nghệ T.Ư; nguyên Thứ trưởng Bộ Văn hóa; nguyên Ủy viên Ban Biên tập báo Nhân Dân; nguyên Chủ tịch Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, Hội Nhà văn Việt Nam; nguyên Chủ tịch Hội Ðiện ảnh Việt Nam; nguyên Trưởng ty Tuyên truyền tỉnh Hà Tĩnh; nguyên Bí thư Thanh niên cứu quốc Hà Tĩnh;

Huân chương Ðộc lập hạng nhất, Huân chương Kháng chiến hạng nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hạng nhất, Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật, Huy hiệu 50 năm tuổi đảng

Thời kỳ này có nhiều tác phẩm điện ảnh nổi tiếng: Con chim vành khuyên, Vĩ tuyến 17, Vợ chồng A Phủ... Sau này, Hà Xuân Trường đã ủng hộ những tác phẩm đổi mới như: Nhân danh công lý (kịch của Võ Khắc Nghiêm), Tôi và chúng ta (kịch của Lưu Quang Vũ), Cù lao Tràm (tiểu thuyết của Nguyễn Mạnh Tuấn), Mùa lá rụng trong vườn (tiểu thuyết của Ma Văn Kháng).

Ủng hộ những tác phẩm đổi mới, ông mở ra những cuộc tranh luận và chính ông cũng tham gia viết bài. Hà Xuân Trường đã có nhiều bài viết lý luận về sáng tác văn học: Vì một nền văn nghệ mới Việt Nam (1971), gồm những vấn đề như tính thời đại và con người mới, chức năng giáo dục xã hội chủ nghĩa của văn học, vai trò thế giới quan...

Năm 1986, ông cho ra tập sách Văn học - cuộc sống - thời đại. Sự nghiệp lý luận phê bình của nhà văn được thể hiện cô đọng trong Tuyển tập Hà Xuân Trường (1994). Hà Xuân Trường là một nhà lý luận phê bình, trong giai đoạn này, ông còn là một nhà tiên phong. Chính Hà Xuân Trường đã “đề cao tính dân tộc, bản sắc dân tộc”, nhưng cũng lưu ý “không có tính dân tộc bất biến, vĩnh cửu”.

Là nhà lãnh đạo văn nghệ, Hà Xuân Trường còn là bạn văn của nhiều nhà văn, nhà thơ đàn anh cũng như lớp cùng trang lứa và lớp nhà văn trẻ. Trong căn nhà số 10 Phạm Đình Hổ (Hà Nội) với phòng khách giản dị, luôn có khách văn ở các lứa tuổi đến thăm, đến chơi với nhà văn Hà Xuân Trường. Năm 1998, ông cho ra mắt cuốn: Không có một thời... như thế (NXB Văn học).

Hà Xuân Trường đã ra đi! Trên 50 năm quãng đời văn học của ông, kiên định đi theo đường lối văn nghệ của Đảng, trong đó ông luôn khẳng định bộ môn lý luận phê bình phải có một vị trí xứng đáng, vị trí khoa học nền móng của văn học. Chúng ta trân trọng một con người, một nhà văn trung thực với nhân dân, với chính mình.


Sự hình thành khuynh hướng văn học, nghệ thuật vô sản và các quá trình đấu tranh cho khuynh hướng đó, tiến tới xây dựng một nền văn nghệ xã hội chủ nghĩa

Hà Xuân Trường

1. Từ yếu tố và khuynh hướng văn nghệ vô sản những năm đầu thế kỷ XX đến văn thơ xô -viết những năm 1930-31 , một biểu thị mạnh mẽ của văn học cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Những năm đầu thế kỷ XX xuất hiện trên báo Nhân đạo một số truyện ngắn và ký mang tính chất chính luận của Nguyễn ái Quốc. Năm 1922, vở kịch Con rồng tre của Người được đăng trên báo Nhân đạo. Có người Pháp đã đánh giá vở kịch ấy như sau: “Vở kịch ấy tế nhị, dí dỏm với những cú đánh sắc cạnh, rộn ràng cái cốt cách của A-rít-xtô-phan”. Sau đó, nhiều truyện, ký, tranh châm biếm của Người xuất bản trên báo Người cùng khổ. Năm 1925, Người viết Bản án chế độ thực dân Pháp với những tài liệu cụ thể tố cáo chế độ tàn bạo của chủ nghĩa thực dân Pháp, và lời văn sắc bén, có khi chua cay, có khi châm biếm, có sức mãnh liệt không những khoét sâu vào da thịt của bè lũ thực dân, mà còn mang một sức thuyết phục lớn đối với những tri thức tiến bộ...

Khác với thơ văn yêu nước đầu thế kỷ XX của các cụ Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, lần đầu tiên trong thơ văn của Hồ Chủ tịch, quần chúng lao động, “những người cùng khổ”, có vị trí của mình, thấy rõ mình phải làm gì và đi đến đâu. Thơ văn của các cụ Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu là một bước tiến mới của thơ văn yêu nước cùng thời (các cụ đã vượt khỏi ràng buộc của tư tưởng “trung quân”, mà đi thẳng vào “đồng bào”, “tổ quốc”), với cách diễn đạt khá phổ thông, lôi cuốn; nhưng qua văn thơ của các cụ, quần chúng chỉ mới nhận thức được “Tổ quốc”, “giống nòi” như một khái niệm, chưa thấy mình, vai trò của mình, và nhất là chưa thấy rõ con đường mình phải đi. Chủ nghĩa yêu nước trong văn thơ của Nguyễn Ái Quốc và những bài thơ của một số đồng chí tham gia Thanh niên cách mạng đồng chí hội do Người sáng lập, như Trần Huy Liệu, Tôn Quang Phiệt, Hoàng Văn Hoan... mang một màu sắc mới, màu sắc của những người bị áp bức, của những người lao khổ phải vùng lên, tự mình giải quyết vận mệnh của mình. Đó là con đường mà Cách mạng tháng Mười đã mở ra, Hồ Chủ Tịch là người Việt Nam đầu tiên biết tiếp thu và hành động theo nó, và đưa tư tưởng ấy vào văn học nghệ thuật. Đó là yếu tố mới mẻ, mở đầu cho một khuynh hướng mới trong văn học nghệ thuật của dân tộc: khuynh hướng vô sản.

Khuynh hướng này được kế tục nhất quán ở văn thơ cách mạng thời kỳ xô-viết và văn thơ của các chiến sĩ cộng sản bị giam cầm trong các nhà tù. Với văn thơ xô-viết, hình thành rõ rệt và mạnh mẽ dòng văn thơ cách mạng vô sản mà người khai nguồn là Nguyễn ái Quốc. Nhận định về văn thơ xô-viết, đồng chí Tố Hữu viết: “Ngày nay đọc lại những bài ca, bài vè, bài hát cách mạng trước đây, chúng ta càng thấy quý cái hơi thơ cách mạng khỏe mạnh, đầy sức chiến đấu, đầy lòng tin, trong một giọng nói hồn nhiên, chất phác, chân tình (Học tập số 1, 1960).

Thơ văn xô-viết có tác giả và nhiều bài vô danh, chủ yếu là truyền miệng. Để dễ bề phổ biến và nhớ lâu, các tác giả đưa nội dung cách mạng vào các hình thức cổ điển quen thuộc như văn tế, thơ thất ngôn bát cú, ngũ ngôn, trường thiên, song thất lục bát... Sức mạnh của văn thơ xô-viết ở chỗ:

a) Người làm thơ văn là người hoạt động cách mạng.

b) Nội dung của thơ văn đáp ứng nguyện vọng của quần chúng: tố cáo tội ác của đế quốc, phong kiến, nam nữ bình quân, vấn đề nông dân và ruộng đất, chủ nghĩa cộng sản, vai trò của Đảng Cộng sản;

c) Văn thơ với những hình thức quần chúng nhất, văn thơ đi trước, chuẩn bị hoặc song song với hành động cách mạng.

Tất nhiên văn thơ xô-viết có những nhược điểm, nhất là về nghệ thuật , nó còn chịu ảnh hưởng của những lời lẽ chung chung, trừu tượng của văn thơ trước đó.

2. Thời kỳ sau Xô-viết Nghệ tĩnh đến 1939.

Phong trào Xô-viết Nghệ-Tĩnh bị đàn áp, văn thơ cách mạng phải lui vào bí mật. Năm 1933, trong điều kiện có thể, một số người mác-xít trong đó có Hải Triều viết báo công khai, đấu tranh truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin và từ triết học đi vào đấu tranh trên địa hạt văn nghệ.

Cuộc đấu tranh này chống chủ nghĩa duy tâm và đầu óc nô lệ mà Phan Khôi là tiêu biểu.

Trên báo Phụ nữ thời đàm (8-1933), Phan Khôi viết bài Văn minh vật chất và văn minh tinh thần, bộc lộ tư tưởng tự ti dân tộc và truyền bá tư tưởng yên phận làm nô lệ cho thực dân. Hắn viết: “Hễ tinh thần đã đến một trình độ kia, thì vật chất cũng đến một cái trình độ kia. Tinh thần còn ở đó một cái trình độ này thì vật chất cũng còn ở một trình độ này. Theo lẽ ấy thì vật chất Đông phương sở dĩ kém Tây phương là tại tinh thần kém Tây phương; và Tây phương đã hơn Đông phương về vật chất thì cũng hơn luôn về tinh thần nữa”. Hắn còn lớn tiếng: “Phải tỉnh ngộ lại, phải thành thật nhận mình là thua kém... còn tối tăm, còn vụng dại lắm, chẳng có tinh thần gì đâu mà làm phách!”. Hải Triều viết bài trên báo Đông phương (10-1933) để chống lại thuyết duy tâm và lập trường phản động của Phan Khôi, và lợi dụng thời cơ để giải thích những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật. Cuộc thảo luận chỉ đóng khung trong vài ba bài báo của hai người, sau lại chuyển sang tranh luận về chế độ phong kiến. Phan Khôi cho rằng “trên lịch sử nước ta không có chế độ phong kiến” với mục đích là chống lại quan điểm của Đảng ta, mà hắn gọi là “bọn xã hội học An Nam” đã bịa ra “rồi cứ theo đó mà kiếm câu kết luận trong mây mù khói ngát”. Hải Triều đã viết bài Trên lịch sử nước ta vẫn có chế độ phong kiến ở báo Công luận (1-1934) với những dẫn chứng cụ thể về các hình thức bóc lột của địa chủ đối với nông dân. Các cuộc tranh luận này lẻ tẻ, không lôi cuốn được nhiều người, được coi như là mở đường cho cuộc tranh luận về nghệ thuật từ năm 1935 sôi nổi và thu hút nhiều văn nghệ sĩ và tri thức.

Cuộc tranh luận giữa “nghệ thuật vị nghệ thuật” và “nghệ thuật vị dân sinh” mở đầu trên báo Tiểu thuyết thứ bảy (số 38, 1935) với bài Hai cái quan niệm về văn học của Thiếu Sơn phê phán quan điểm của Nguyễn Bá Ngọc và Phạm Quỳnh, coi thường văn học, nêu lên quan điểm của ông: “Văn học nước nào cũng đều lấy nghệ thuật làm gốc”, “nhà văn hóa quý ở sự trau dồi cái đẹp”, “lấy nghệ thuật làm cứu cánh cho nghệ thuật”. Hải Triều viết bài Nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị dân sinh trên báo Đời mới (3, 4-1935) phê phán quan điểm duy tâm của Thiếu Sơn, đề cao nghệ thuật phục vụ cuộc sống của nhân dân lao động, có tác dụng cải tạo thế giới. (Thực ra cách hiểu “nghệ thuật vị dân sinh” của Thiếu Sơn không giống như của Hải Triều, ông cho đó là nghệ thuật phục vụ chính trị, giáo dục đạo đức không phân biệt chính trị, đạo đức đó như thế nào. Theo ông, nghệ thuật là phải làm cho người ta quên mọi đau khổ của cuộc đời, do đó phải thoát ly cuộc sống, không dính dáng gì đến cuộc sống). Quan điểm của Thiếu Sơn là quan điểm của những văn nghệ sĩ tiểu tư sản, của trào lưu lãng mạn tiêu cực hồi bấy giờ. Cuộc tranh luận giữa Hải Triều và Thiếu Sơn chỉ là màn đầu của cuộc tranh luận. Sau khi tập truyện ngắn Kép Tư Bền của Nguyễn Công Hoan ra đời (8-1935), gây nên sự đánh giá khác nhau về tập truyện, cuộc tranh luận được tiếp tục, mở rộng sôi nổi và kéo dài cho đến hết thời kỳ Mặt trận dân chủ.

Hải Triều lấy Kép Tư Bền làm dẫn chứng cho sự đúng đắn của khuynh hướng nghệ thuật phục vụ nhân dân lao động, và vạch rõ tính chất tiêu cực (gây tư tưởng bi quan, hoài nghi, cá nhân hưởng lạc...) của những tiểu thuyết lãng mạn của Khái Hưng, Nhất Linh.

Trong những người khen Kép Tư Bền có Hoài Thanh. Nhưng Hoài Thanh chỉ khen về cái tài quan sát, cái tài kể chuyện, những câu văn ngộ nghĩnh của Nguyễn Công Hoan, nghĩa là về mặt hình thức. Bài Văn chương là văn chương đăng trên báo Tràng An (8-1935) nêu lên những luận điểm cơ bản của khuyh hướng “nghệ thuật vị nghệ thuật”, chống lại những luận điểm mà Hải Triều bảo vệ. Hoài Thanh không phủ định hoàn toàn quan điểm văn chương có thể có khuynh hướng tư tưởng, xã hội, nhưng theo anh, đó chỉ là phụ vì quan niệm sống mỗi người một khác, “không biết thế nào mà nói cho cùng”. Hoài Thanh cũng cho rằng “nhà văn có lúc phải biết bênh vực kẻ yếu, chống lại với sức mạnh của tiền tài, của súng đạn”, nhưng trong lúc đó “nhà văn không làm nhà văn nữa, mà chỉ làm cái phận sự của một người cầm bút thôi”. “văn chương khác, chính trị khác”. Hoài Thanh viết: “Trên con đường đi từ trước đến bây giờ, văn chương thực đã gặp nhiều sự không may. Ngày xưa thì phải khoác bộ áo đen, đóng vai quân tử, ngày nay người ta lại cho tấm áo rách bươm của con nhà lao động”.

Cuộc tranh luận đề cập đến nhiều vấn đề về lý luận, quan điểm (văn nghệ và chính trị, chức năng của văn nghệ, tính giai cấp, tính văn nghệ, quan hệ nội dung tư tưởng và nghệ thuật trong sáng tác, tự do trong sáng tác) và đồng thời cũng đưa ra bàn về nhiều tác giả Đông Tây, kim cổ. Về phía Hải Triều, đại diện cho quan điểm của Đảng, có Hải Thanh, Hồ Xanh, Lâm Mậu Quang, Hải Khách (Trần Huy Liệu), Hải Âu, Bùi Công Trừng (viết trên báo Trung Kỳ, Sông Hương, Đông Phương, Tản văn, Tiến Bộ, Hồn trẻ...) Về phía Hoài Thanh, có Lưu Trọng Lư, Lê Tràng Kiều, Phan Văn Dật, Lan Khai (viết trên Tràng An, Tiến Hóa, Hà Nội báo...) Mặc dầu còn bị hạn chế, và cũng có những vấn đề phân tích chưa thỏa đáng hoặc chưa đúng, Hải Triều và một số đồng chí khác đã khẳng định được vị trí của văn học nghệ thuật trong cuộc đâú tranh giai cấp, các nhà văn quan tâm đến tiến bộ của xã hội, phải dùng văn học làm vũ khí chống lại bọn bóc lột, thống trị. “Giữa cuộc phân tranh của xã hội, trước những vấn đề sống còn của thời đại, nhân loại đang mong mỏi về phương diện tinh thần, một hạng nghệ sĩ biết diễn dịch được cái nỗi lòng của họ; làm sao mà những đau thương, sự mong mỏi, sự buồn giận, sự vui sơnứg trong tâm khảm họ đều vẽ nên thành những bức tranh linh hoạt chan chứa tình cảm” (Hải Triều), “Nghệ thuật tự do chỉ này nở được ở dưới chế độ vô sản chuyên chính mà thôi” (Hải Thanh). “Tình thế kinh tế xã hội ngày nay đã nắm vào thời kỳ khủng hoàng nguy ngập; chế độ tư sản gần đổ nát, quần chúng ta bị thất nghiệp đói rét, lại sắp bị nạn đế quốc chiến tranh... Các nhà văn phải góp sức voà công việc cứu chữa sự nguy cơ ấy của xã hội, chớ không thể ngồi yên trên đám mây chót vót ở ngang trời mà ngâm nga và bảo quản chúng, ngâm nga theo mấy câu câu thơ mơ mộng như hồi thái bình, no ấm được đâu” (Lâm Mậu Quang, báo Tiến bộ. 3-1936).

Về cuộc tranh luận giữa phái “nghệ thuật vị nghệ thuật” và “nghệ thuật vị dân sinh”, và vai trò của đồng chí Hải Triều, đồng chí Trường Chinh đánh giá: “Công lao của đồng chí Hải Triều đáng cho chúng ta ghi nhớ. Cố nhiên với trình độ ngày nay, nếu ta xem lại những bài ấy có thể ta thấy còn sơ lược. Nhưng ở trình độ và hoàn cảnh xã hội Việt Nam lúc bấy giờ, trong những cuộc bút chiến có những bài như của đồng chí Hải triều là xuất sắc. Những bài đó trên một mức độ nhất định đã làm sáng tỏ quan điểm giai cấp của Đảng trong văn học nghệ thuật. Qua hai cuộc tranh luận ấy, quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin đã thắng các quan điểm phản động.

Từ năm 1936 đến 1939 là thời kỳ Mặt trận dân chủ, Đảng ta lợi dụng các hình thức hoạt động công khai. Cuộc tranh luận về nghệ thuật có dịp mở rộng hơn, đồng thời các hoạt động khác về văn hóa, nhất là báo chí của Đảng và xuất bản sách Mác-xít được phát triển chưa từng thấy. Cuốn Vấn đề dân cày của hai đồng chí Trường Trinh và Võ Nguyên Giáp ra vào thời kỳ này không những có tác dụng đối với cách mạng nói chung, mà có tác dụng đối với văn nghệ (những nhà văn hiện thực phê phán). Trên báo Mới đăng khá nhiều bài thơ của Tố Hữu và bài giới thiệu Tố Hữu, nàh thơ của tương lai, ngoài ra còn có bài ca ngợi tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố (Trần Minh Tước), đề cao tiểu thuyết phục vụ nhân dân lao động (Như Phong), chống lại các biểu hiện của chủ nghĩa lãng mạn tiêu cực của nhóm Tự Lực văn đoàn và của những nghệ sĩ khác... Những bài thơ Tháp đổ, Dửng dưng, Tiếng sáo ly quê của Tố Hữu mang ý đồ rõ rệt chống lại chủ nghĩa lãng mạn tiêu cực trong thơ, chống lại khuynh hướng tách nghệ thuật ra khỏi đời sống của nhân dân lao động.

Nhận định về thời kỳ này, đồng chí Trường Chinh viết: “Lần đầu tiên ở nước ta, văn chương mác-xít được phổ biến rộng rãi trong nhân dân qua những tờ báo của Đảng và của Mặt trận dân chủ, qua những tập sách có khi là của những người cộng sản hợp tác với những người có tư tưởng yêu nước, dân chủ khác xuất bản” (Phát biểu ở Đại hội Văn nghệ lần thứ IV).

Trong cuộc tranh luận về văn nghệ, nhiều vấn đề cơ bản của văn nghệ được nêu lên và giải quyết, tuy chưa được thật sâu sắc và đầy đủ. Riêng vấn đề tính dân tộc trong văn nghệ thì chưa được đề cập đến. Đây là một thiếu sót về mặt quan điểm và thực tiễn. Trên thực tế, cuộc vận động Mặt trận dân chủ thật sự là một cao trào cách mạng dân tộc, dân chủ, nhưng trong chính sách của Đảng (Chung quanh vấn đề chính sách mới của Đảng Cộng sản Đông dương, 10-1936) tuy có nêu vấn đề độc lập dân tộc, nhưng không được giải thích cụ thể và không nói rõ lập trường của Đảng về vấn đề đó. Trong Báo cáo chính trị đọc tại Đại hội lần thứ II của Đảng, Hồ Chủ Tịch nhận định: “Phong trào Mặt trận dân chủ lúc đó khá mạnh mẽ, rộng khắp, nhân dân đấu tranh công khai. Đó là ưu điểm. Nhưng khuyết điểm là: Đảng lãnh đạo không thật sát, cho nên nhiều cán bộ phạm phải bệnh hẹp hòi, bệnh công khai, say sưa vì thắng lợi bộ phận, xao lãng việc củng cố tổ chức bí mật của Đảng. Đảng không giải thích rõ lập trường của mình về vấn đề độc lập dân tộc” (Hồ Chí Minh: Tuyển tập, tr.354). Đó là nguyên nhân chính của thiếu sót không đề cập đến vấn đề tính dân tộc trong văn nghệ trong cuộc tranh luận kéo dài cho đến cuối 1938.

3. Thời kỳ 1940-1945

Dưới ách của đế quốc Pháp – Nhật thời kỳ này là thời kỳ đen tối nhất của dân tộc ta, nhưng cũng là thời kỳ phong trào cách mạng tiến triển mạnh mẽ, nhanh chóng và toàn diện nhất. Về văn hóa, văn nghệ, Hội nghị Thường Vụ Trung ương Đảng ngày 25-3-1943 quyết định: “Đảng cần phải cán bộ chuyên môn hoạt động về văn hóa, đặng gây ra một phong trào văn hóa tiến bộ, văn hóa cứu quốc chống lại văn hóa phát xít thụt lùi. ở những đô thị văn hóa như Hà Nội, Sài Gòn, Huế... phải gây ra những tổ chức văn hóa cứu quốc, và phải dùng những hình thức công khai hay bán công khai đặng đoàn kết các nhà văn hóa và trí thức...”. Trên cơ sở quyết nghị đó, Đề cương văn hóa Việt Nam của Đảng ra đời, và Hội Văn hóa cứu quốc thành lập tập hợp những người hoạt động văn hóa, văn nghệ yêu nước xung quanh Đảng.

Tình hình chính trị và tư tưởng trong thời kỳ này rất phức tạp. Do ảnh hưởng của phong trào Mặt trận dân chủ trong giới trí thức, những văn nghệ sĩ, học sinh muốn tiến bộ, muốn tìm hiểu những cái mới, nhưng lại bị che giấu, bị đàn áp (chế độ kiểm duyệt hết sức khắt khe), lực lượng này dễ đi theo cách mạng.

Những khuynh hướng văn hóa lúc đó khá nhiều, hỗn độn: Nhóm Thanh nghị có tư tưởng dân tộc, nhưng mang tính chất cải lương tư sản. Nhóm Tri tân đề cao dân tộc trong văn hóa, nhưng mang tính chất bảo thủ, chỉ chú ý tìm tòi, nghiên cứu những áng văn cổ, bia cổ v.v.... Nhóm Tân Việt xuất bản các sách nghiên cứu Đông Tây, kim cổ, từ Khổng giáo, Phật giáo, Lão giáo đến Nít-sơ, Anh-xtanh, Kăng, Đề-các v.v... Nhóm Hàn Thuyên gồm những tay tờ-rốt-kít nhận tiền của cả thực dân Pháp và phát xít Nhật đề ra “Tân Văn Hóa” xuất bản những sách nào là nghiên cứu về lịch sử loài người, lịch sử thế giới, nào là nghiên cứu về lịch sử Việt Nam, về văn học Việt Nam theo quan điểm “mác-xít” v.v... ôm đồm thành một mớ hỗn độn phần lớn dịch từ sách nước ngoài, từ các từ điển bách khoa; vậy mà họ tự nhận họ là “Bách Khoa”(!). Tạp chí Tân á và các loại sách Nip-pon văn hóa của phát xít Nhật tràn lan... Tình hình chiến tranh, họa phát xít, sự đàn áp của đế quốc, tình trạng đói khổ, gây nên một tâm trạng mệt mỏi, u uất, chán chường, bi quan... Các khuynh hướng nghệ thuật tiêu cực, lẩn trốn trước đây, trong thời kỳ này trở nên thần bí, điên loạn, trụy lạc, hoài cổ... Nhóm Tự lực văn đoàn (Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo) công khai ôm chân phát xít Nhật...

Trong tình hình ấy, Đề cương văn hóa Việt Nam ra đời. Hội văn hóa cứu quốc thành lập.

Trang:  1/2  1   2   »
Số lượt đọc:  1736  -  Cập nhật lần cuối:  06/09/2008 09:56:45 PM
  Ý kiến của bạn về bài viết:
Bài mới:  
Hàng triệu ngọn lửa
27/07/2010 06:08' PM
Bài khác:
Liên kết web
Olga Bergholtz

Kỷ niệm 100 năm sinh Olga Bergholtz (1910-1975) nữ nhà thơ, nhà văn Liên Xô. Bà nổi tiếng nhất với những tác phẩm sáng tác trong thời kỳ Leningrad bị bao vây. Bà đã vượt qua được những nỗi niềm tinh tế, vô tư lự của thế giới trong trẻo, vẫn mang nỗi đau riêng và cảm nhận riêng về thời cuộc, để viết về cuộc đời xung quanh, về tình yêu. Hơn thế, nhờ có nỗi đau cá nhân, bà có cảm nhận sâu sắc hơn về những nỗi đau và niềm hân hoan của nhiều người khác, của nhân dân, của dân tộc. Bà có câu thơ bất hủ "Không ai bị lãng quên và không điều gì bị quên lãng".

...

Tôi xin nói, các bạn ơi với cuộc sống riêng tôi,
Không thể có những tháng năm trên đời vô ích,
Không thể có những thông tin vô nghĩa, không mục đích,
Không thể có những con đường đi qua, nghĩa là, hóa không cần!
Không thể có những thế giới lạ xa, không thể không tiếp nhận,
Không thể có những tặng vật, bị hàm hồ cho đi một cách phân vân!
Cũng không thể có một tình yêu vô ích,
Kể cả những tình yêu bị dối lừa, đớn đau, bi kịch,
Thì chút ánh sáng trong veo, dẫu chỉ sáng chập chờn
Cũng suốt đời ở mãi cùng tôi!

Và có lẽ, chẳng bao giờ là quá muộn đâu,
Khi ta dám làm lại từ đầu trọn vẹn đời mình sống,
Dám bắt đầu lại từ đầu - một đường đi từ khởi thủy,
Và ứng xử làm sao, để nếu có quay nhìn quá khứ
Thì đừng phải ân hận xóa bỏ đi điều gì,
Dù là một tiếng kêu, hay chỉ một lời than!

(1962, Bằng Việt dịch)

Trang chủGiới thiệuLiên hệ