Độc quyền, độc đoán, sợ trách nhiệm và sợ sai

01:06 CH @ Thứ Sáu - 15 Tháng Năm, 2015

Hãy khởi đầu bằng mấy sự việc: Cách đây hơn 30 năm (1973), một nhà kinh tế học người Pháp, G. Anderla, đã tính toán là tri thức của nhân loại được nhân lên gấp đôi mỗi 6 năm.

Cách tính của Anderla như sau: cho rằng tổng số lượng kiến thức về khoa học của toàn nhân loại là một đơn vị vào năm thứ nhất trước công nguyên thì đơn vị ấy được nhân lên gấp đôi vào năm 1500. Phải đến hơn hai thế kỷ rưỡi sau –vào năm 1750- số lượng tri thức ấy mới lại được nhân gấp hai. Và cấp số nhân đôi ấy có những chặng thời gian sau: 1900, 1950, 1960, 1967 và 1973! Nói gọn: kể từ thập niên 60 của thế kỷ XX, kiến thức khoa học của nhân loại chỉ cần khoảng thời gian dưới 7 năm để tăng gấp đôi. Và thời gian ấy càng ngày càng được thu ngắn[1].

Trong chiều hướng ấy, sẽ chẳng có gì ngạc nhiên khi số liệu thống kê có từ các nuớc phát triển cho biết, kể từ 1995, trung bình tối thiểu mỗi ngày (đúng là mỗi ngày!) có ít nhất là 4.000 tựa sách khoa học không chỉ được phát hành mà còn được bổ sung vào thư mục ở các thư viện của các đại học và trung tâm nghiên cứu[2].

Thêm một sự kiện: hơn 10 năm trước (1993), kết quả được công bố của một công trình nghiên cứu kéo dài suốt 15 năm đã gây một chấn động trong giới giáo dục đào tạo ở Mỹ: trong lứa từ 3 đến 5 tuổi, 98% thiếu nhi có những sáng tạo độc đáo trong cách tiếp cận và giải đáp những vấn đề được đặt ra từ nhiều dạng câu hỏi. Nhưng đầu óc sáng tạo ấy lại giảm dần theo thời gian: từ 8 đến 10 tuổi, tỷ lệ chỉ còn là 32% và từ 13 dến 15 tuổi, chỉ còn 10%. Và điều đáng nói là đối với 200.000 người trên 25 tuổi có trình độ học vấn và bằng cấp cao, trước những câu hỏi cùng hình thức và nội dung, tỷ lệ sáng tạo độc đáo để giải quyết các vấn đề nêu ra chỉ còn là … 2%[3]!

Đặt các số liệu trên trong bối cảnh “trồng người” ở đất nước ta nhằm gợi lên một số “vấn nạn”:

Trước vận tốc tiến bộ đến độ chóng mặt của kiến thức nhân loại, học cơ bản là để “Biết” hay để “Hiểu”?! Câu hỏi đã hàm chứa câu trả lời: tiếng Việt ta, trong từ “Hiểu Biết”, “Hiểu” được đặt trước “Biết”! Quan niệm ấy, vô hình chung, rất thích ứng với tiến độ phát triển của khoa học: sẽ chẳng bao giờ có thể “biết” hết được tri thức mỗi ngày mỗi mới! Do đó, “hiểu” mới mang đến cho ta khả năng (may ra!) vận dụng những kiến thức tiếp thu được một cách nhuần nhuyễn và sinh động. Từ đó, dễ dàng thấy ngay sự vô cùng nguy hại của việc học theo kiểu “nhồi nhét” và “thầy đọc trò chép”!

Nhưng tại sao cơ bản lại xảy ra điều “nhồi” và “nhét”, “đọc” và chép” nói trên?

Ngẫm cho kỹ, tiến trình ấy đến từ “tư duy kinh kệ” (kinh kệ là chữ dùng chính xác hơn so với kinh điễn!): “sợ sai” so với các “bài bản, giáo trình, đề cương, huấn thị”! Thêm nữa, “sợ sai” còn ảnh hưởng rất nhiều đến tinh thần trách nhiệm của người giảng dạy trong việc tìm tòi, nghiên cứu: tư duy khoa học đòi hỏi một đầu óc khai phá, nghĩa là một tư thế sẵn sàng chấp nhận là mình sai! Vì thế, “sợ sai” là vật cản tâm lý chứ không phải là một động lực thúc đẩy tiến trình tìm hiểu và khám phá trong khoa học!

Đầu óc sợ sai và sự thiếu hụt về tinh thần trách nhiệm nói trên, không cần dài dòng, ai cũng hiểu ngay là được sản sinh từ một cơ chế nhà nước cứng nhắc trong việc tổ chức giáo dục đào tạo. Tuy nhiên, cũng đừng quá ảo tưởng: xóa bỏ độc quyền của nhà nước trong lĩnh vực giáo dục đào tạo và càng ngày càng mở rộng cơ chế dân lập tự quản không có nghĩa là tri thức nước nhà đương nhiên được cải tiến nếu trong tư duy giảng dạy và phương pháp học tập vẫn còn phổ biến đầu óc độc đoán!

Độc đoán cơ bản đến từ một quan niệm xưa cũ về vai trò của người thầy: dựa vào khuôn mẫu “nửa chữ cũng là thầy”, người dạy –trong bối cảnh của kiến thức khoa học của thế giới mỗi ngày một tăng và đổi mới- mang trong tiềm thức của mình một oái ăm ghê gớm! Đó là một “mặc cảm tự ti” trá hình thành một loại “tự tôn” để che dấu những khiếm khuyết của mình! Nói cách khác, nhằm che đậy mặc cảm ấy, người dạy chọn phương cách “tối ưu nhất” là cứ “theo bài bản mà truyền” và “theo giáo trình mà đọc”! Gọn: không thể sai vào đâu được khi mọi thứ thầy dạy đều đã có trong sách! Mà đã không sai thì không có gì để có thể đào sâu tranh luận! “Kinh” chỉ biến thành “kinh” khi có nhiều người cứ thế “kệ”! Mà càng có nhiều “kinh kệ” thì hệ quả tất yếu là sự phát triển ngày càng nhiều của đầu óc độc đoán! Quên mất rằng ở thời buổi bùng nổ tri thức, hàng vạn chữ cũng chưa “thấm thía” gì huống hồ chỉ là “nửa chữ”. Nhất là trong tiếng Việt ta “chữ” vẫn thường phải đi liền với “nghĩa”: “chữ nghĩa”! Chữ chỉ là một âm sắc vô hồn nếu nó vô nghĩa! Vì thế, không ít thầy che cái “vô nghĩa” của “con chữ” mình giảng truyền bằng cung cách độc đoán!

Thầy đã thế thì trò khó mà khác được! Nói gọn: thầy đã sợ sai, sợ trách nhiệm, và độc đoán thì trò nào dám nói ngược lại thầy! Do đó, dù có bỏ cơ chế độc quyền trong giáo dục đào tạo thì đầu óc và tâm lý độc quyền vẫn cứ trường tồn và phát triển nếu người giảng dạy không dám lấy trách nhiệm phát huy ở người học tinh thần dám đương đầu với cái sai để luôn luôn hướng về việc tìm kiếm cái đúng!

Trong một nền giáo dục ở một xã hội mà tính chủ thể của cá nhân con người được tôn vinh đến như ở Mỹ mà kết quả là chỉ 2% những người có học vấn và bằng cấp cao là có được đầu óc sáng tạo thì vấn đề ấy còn gay gắt đến mức độ nào trong một cơ chế tâm lý xã hội mà đầu óc độc quyền, độc đoán, sợ trách nhiệm và sợ sai vẫn còn phổ cập?!

Tuy nhiên, vấn đề trên có thể được hình dung theo một chiều hướng khác: với một đất nước có một dân số gồm nhiều lớp trẻ đầy năng động, nếu đường lối giáo dục đào tạo biết phát huy đầu óc sáng tạo và khai phá trong khoa học thì đất nước ấy sẽ có thêm được một khả năng để phát triển so với những đất nước dù đã có nhiều thành tựu về kinh tế nhưng tháp dân số lại càng ngày càng già cỗi và xã hội đã vơi đi khá nhiều uớc vọng chính đáng về ý nghĩa hạnh phúc của kiếp nhân sinh !


[1] Theo Richard Barrett ‘Liberating the Corporate Soul. Building a Visionary Organization’, Butterworth-Heinemann, New York 2002 (reprint). Theo một nghiên cứu khác, thì kể từ 1980, kiến thức khoa học của nhân loại chỉ cần khoảng thời gian trung bình là 18 tháng để nhân lên gấp đôi, xem Peter Russell “The White Hole in Time”, Harper Publishing, San Francisco 1992.

[2] Theo Jack Trout & Steve Rivkin “The New Positioning. The Latest on the World’s #1 Business Strategy”, Mc Graw-Hill, New York 1996.

[3] George Land và Beth Jarman ‘Breaking Point and Beyong’, Harper Business Books, San Francisco 1993.

Nguồn:
Cập nhật lúc:

Nội dung liên quan

  • Những nghịch lý giáo dục

    30/09/2015Hoàng TụyVì sao con em ta giỏi toán mà đời sống kinh tế, xã hội ở nước ta về nhiều mặt lại thể hiện một cung cách làm ăn không hề biết tính toán? Vì sao trẻ em ta có tinh thần kỷ luật cao, mà đời sống công cộng của người lớn trong xã hội lại biểu lộ một ý thức kỷ luật, trật tự thấp kém không thể chấp nhận được ở một nước cần hướng tới công nghiệp hóa và hiện đại hóa? Vì sao trẻ em được dạy bảo phải thật thà, trung thực, mà xã hội người lớn có quá nhiều gian dối, tham nhũng, buôn lậu? Bao nhiêu câu hỏi là bấy nhiêu nghịch lý nhức nhối.
  • Bàn về “Cái vô lý” và “Cái thiếu hiểu biết” trong xã hội

    01/07/2015Vũ Duy PhúLâu nay, những ai quan tâm đến cải cách giáo dục, đều thấy rõ tầm quan trọng của việc xác định “Triết lý Giáo dục". Có lẽ cũng không thừa, nếu nói một chút về khái niệm Triết lý nói chung...
  • Đừng biến học sinh thành khúc gỗ!

    02/12/2005Trần Phương Hoa (Giáo viên trường Genetics - Đại học Bách khoa Hà Nội)"Việc làm cho học sinh trở thành những khúc gỗ biết nghe trên lớp được coi là thành công và khả năng quản lý giỏi của cô. Mọi ý tưởng sáng tạo hay đi chệch khỏi ý tưởng của cô đều bị gạt bỏ..."
  • Học vẹt

    28/10/2005TS. Lê Ngọc TràTrong trường hợp không thích học mà lại phải làm bài, phải thi thì các em sẽ dễ chọn cách học vẹt, học thuộc mặt dù không biết nó là gì, hễ thầy giáo khen hay thì cũng khen hay, thầy chê cứ xem là dở. Tình trạng này nếu kéo dài, lâu dần sẽ làm mòn khả năng suy nghĩ độc lập của học sinh. Rồi từ nhà trường các em sẽ bước ra xã hội... Từ lối học biến thành lối nghĩ, lối làm. Nếu không kịp sửa chữa lối học vẹt trong nhà trường sẽ có nguy cơ biến thành căn bệnh trong xã hội...
  • Bản “thành tích”... đạt chuẩn quốc gia

    12/10/2005Hoàng Trí Dũng - N. Bình - Phạm KiềuTheo báo cáo của Sở GD-ĐT Cà Mau hiện tỉnh đã có 76/89 xã, phường, thị trấn và 4/9 huyện, thành phố đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục trung học cơ sở... Oái oăm thay, các con số báo cáo này được xây dựng dựa trên sự gian lận của những cán bộ quản lý ngành giáo dục và giáo viên nhiều trường...
  • Giáo dục đại học: Khơi dậy và nuôi dưỡng tính ham học

    12/07/2005Nguyễn Văn Tuấn, Viện Nghiên cứu Y khoa Garvan, Sydney, AustraliaGần đây, nhân dịp được tham dự vài buổi giảng tại một trường đại học trong nước (theo lời mời của vài đồng nghiệp), tôi chợt nhớ đến kinh nghiệm của chính mình trong thời còn theo học đại học hơn 30 năm trước đây. Thời đó, mối quan hệ giữa người giáo sư và sinh viên chủ yếu là “thầy giảng trò chép”. Ở các trường đại học Tây phương từ hơn 50 năm trước giới nghiên cứu giáo dục đã chứng minh rằng một phương pháp giảng dạy như thế không đem lại hiệu quả cao cho người học, vì nó mang tính thụ động quá. Ngày nay, qua trao đổi với một số đồng nghiệp trong nước và trực tiếp tham dự nghe giảng, tôi cảm thấy mối quan hệ thụ động như thế vẫn còn tồn tại. Có lẽ đã đến lúc chúng ta nên thay đổi cách giảng dạy để đem lại hiệu quả tốt cho sinh viên và cả người dạy.
  • Học như vẹt!

    02/07/2005Lê Vương Kiều TrangVới cái nhìn của một người trong cuộc đang trực tiếp giảng dạy môn lịch sử ở nhà trường phổ thông, tôi cho rằng học sinh bây giờ không nhớ, không hiểu sử và không thích học môn lịch sử là kết quả tất yếu của cách dạy - học - thi cử hiện nay.
  • Nhà giáo không được tụt hậu

    24/11/2003TS Đỗ Huy ThịnhTại Hội thảo quốc tế về giảng dạy tiếng Anh tổ chức ở Trung tâm Ngôn ngữ khu vực (Singapore) mới đây, trong số hơn 500 người tham dự chỉ có một đại biểu Việt Nam. Nếu không có kinh phí của trường, có lẽ đại biểu này cũng không thể tham dự...
  • Tẩy chay tích luỹ kiến thức?

    14/02/2003TS. Vũ Thị Phương AnhBước sang thiên niên kỷ thứ 3, nhìn lại những thành tựu của nhân loại, người ta phải thừa nhận rằng những nước đạt được nhiều thành tựu khoa học vĩ đại nhất vẫn là những nước ưu tiên đầu tư cho lĩnh vực giáo dục. Vậy thì, chúng ta hãy điểm qua các dự báo về tương lai của nền giáo dục thế giới trong thế kỷ 21.
  • xem toàn bộ