Khoa học, Lý trí và Nhân tình thế thái

04:45 CH @ Chủ Nhật - 14 Tháng Mười, 2018

Tự nhiên được chi phối bởi các qui luật phổ biến mà trí tuệ loài ngưới có thể lĩnh hội được. Niềm tin vào tính hợp lý của Thế giới, đã vượt cả ra ngoài lĩnh vực Vật lý và xâm nhập vào mọi địa hạt hoạt động của con người trong suốt nhiều Thế kỷ, bởi tin rằng, đó chính là hiện thực, là vĩnh cửu.

Isaac Newton, thần tượng của niềm tin ấy, là người đã chứng tỏ Vũ trụ vận hành trơn tru, bằng một thứ “động cơ vĩnh cửu” : vạn vật hấp dẫn, do chính mình tìm ra, cũng chính là người đầu tiên cảm nhận sự cáo chung của cái hiện thực vĩnh cửu ấy đang đến, khi ông không thể nào giải thích được tính đỏng đảnh của Mặt trăng, trong quá trình quay quanh Trái đất.

Trước đó, Kepler cũng đã lao vào tính toán chuyển động của Mặt trăng, với giả thuyết là nó vạch ra một quĩ đạo ellipse quanh Trái đất. Nhưng, những kết quả tính toán vị trí Mặt trăng vẫn sai khác so với quan sát trên bầu trời.

Không chút nghi ngờ định luật vạn vật hấp dẫn của mình, Newton đã đưa thêm vào bài toán chuyển động của Mặt trăng một yếu tố mới : Nhiễu loạn do sức hút của Mặt trời, với hy vọng rằng, những bất thường phức tạp, diễn ra theo chu kỳ của Mặt trăng là có thể giải thích được bởi nghiệm chính xác của “Bài toán ba vật”.

1. Câu chuyện Tư duy hệ thống

Con đại bàng và con ếch

Những tưởng, từ bài toán hai vật, đã được giải một cách trọn vẹn trong tác phẩm bậc thầy của mình : “Những nguyên lý toán học của Triết học Tự nhiên”, xuất bản vào năm 1687, sang ba vật tương tác nhau bằng hấp dẫn, thì chẳng khó khăn gì lớn. Hóa ra ông đã nhầm. Newton buồn bã kể lại rằng, “Chưa bao giờ ông phải đau đầu nhiều như khi nghiên cứu bài toán Mặt trăng”.

Mặc dù sau cả năm trời tính toán căng thẳng, các vị trí của Mặt trăng mà ông đã tính toán dựa vào lý thuyết của mình, vẫn tiếp tục sai khác với vị trí quan sát được trên bầu trời.
Newton đã coi công trình nghiên cứu của ông về Mặt trăng là một thất bại. Sau những nổ lực tinh thần căng thẳng mà không được đền bù, ông đã từ bỏ Khoa học. Có thể là ông cảm thấy mình không còn năng lực sáng tạo của thời trai trẻ, ở tuổi 23, đã từng làm thay đổi bộ mặt của Vũ trụ.

Ông đã rời bỏ chức Giáo sư Trường Đại học Cambridge năm 1696, và làm một nhân viên hành chính tại Kho bạc Hoàng gia, cho đến hết quãng đời còn lại.

Thất bại của Newton không làm nản lòng những người nối nghiệp ông. Thậm chí, họ còn dũng mãnh hơn. Trong số đó, có nhiều nhà Toán học danh tiêng như : Leonhard Euler (Thụy sĩ), Lagrange (Pháp), và Laplace (Pháp). Trong quá trình nghiên cứu bài toán Mặt trăng, họ khám phá ra nhiều điều mới mẻ về Toán học. Thế nhưng Mặt trăng thì vẫn ngang ngạnh, không chịu tuân theo những tính toán của họ. Euler đã dành cả cuộc đời cho bài toán Mặt trăng, nhưng rồi cũng thú nhận thất bại.

Đặc biệt, từ tính “đỏng đảnh” của quĩ đạo Mặt trăng, làm dấy lên một nỗi lo về tính ổn định của hệ Mặt trời: Nếu các hành tinh ngoan ngoãn đi theo quĩ đạo của chúng quanh Mặt trời mãi mãi, lặp đi lặp lại cùng một quĩ đạo của mình, thì hệ Mặt trời là ổn định, bền vững. Còn trường hợp thứ hai, vì có sự tích tụ các nhiễu loạn của lực hấp dẫn, do các hành tinh tác dụng lẫn nhau gây ra, thì quĩ đạo của các hành tinh, trong tương lai, sẽ thay đổi một cách căn bản, làm cho sự sắp xếp của hệ Mặt trời khác đi : Hệ Mặt trời sẽ là không ổn định và không bền vững.

Giải quyết bài toán ba vật, các nhà Toán học trứ danh đã không đi được đến đích, thì với hệ Mặt trời có đến mười vật, phải chăng là điều vĩnh viễn bất khả thi ?

Trên thực tế, tất cả những tính toán được thực hiện trong thế kỷ XIX, dựa vào các định luật Newton và một kho công cụ Toán học khổng lồ, cũng không đem lại lời giải chính xác hơn so với kết quả đã thu được từ 2000 năm trước. Vậy, để thoát khỏi bế tắc này, cần phải có một cách tiếp cận hoàn toàn mới. Nói cách khác, phải có một kiểu mẫu Tư duy khác một cách căn bản.

Người tìm ra “kiểu mẫu” mới này là nhà Toán học trẻ tuổi, người Pháp, Henri Poincaré. Ông đã đưa ra một phương pháp hết sức độc đáo để giải các bài toán của Cơ học thiên thể. Và trong khi làm việc với phương pháp đó, ông đã tình cờ đụng phải hiện tượng Hỗn độn. Poincaré chứng minh rằng, các phương trình Newton đã chứa đựng trong nó mầm mống của hỗn độn, mà chính Newton và các tiền bối không ngờ đến, chỉ vì do mải mê đi tìm cái trật tự, cái hài hòa của một Vũ trụ tất định mà thôi.

Các định luật Newton được viết dưới dạng các phương trình vi phân, mà nghiệm của chúng là tổng của một chuỗi vô hạn các biểu thức, nhìn đã đủ chết khiếp. vì chẳng có ai đủ tuổi thọ để tính và lấy tổng đủ các số hạn của chuỗi đó. Nhưng, đối với hệ Mặt trời, vấn đề là chuỗi đó có hội tụ không, tức là nó có một gia trị xác định hay không ? Nếu hội tụ thì hệ Mặt trời là bền vững, các hành tinh sẽ tiếp tục không mệt mỏi đi theo quĩ đạo của chúng quanh Mặt trời. Hay chuỗi đó là phân kỳ. Nếu vậy thì quĩ đạo các hành tinh sẽ thay đổi không gì có thể cứu vãn được.

Ngược lại với các vị tiền bối, Henri Poincaré muốn nắm bắt thực tại trong Tổng thể của nó. Nhưng phương pháp phương trình vi phân truyền thống thì lại cô lập riêng những mảnh của thực tại, rồi sau đó mới lắp ghép các mảnh đó để dựng lại tổng thể của nó. Ông viết : “Thay vì phải xem xét quá trình tiến hóa của một hiện tượng trong sự toàn vẹn của nó, người ta lại chỉ tìm cách ghép nối một thời điểm với một thời điểm khác ở lân cận trước đó, và cho rằng, trạng thái hiện tại của Thế giới chỉ phụ thuộc vào quá khứ vừa mới qua chứ không chịu ảnh hưởng gì bởi ký ức về quá khứ xa xăm “.

Việc để mất ký ức về quá khứ xa xăm này, tất yếu dẫn đến sự tri giác về thực tại như một continum, mà trong đó không có vô trật tự và hỗn độn.

Thay vì tầm nhìn một con ếch luôn bị che khuất bởi tầng nấc của đáy sâu, Poincaré muốn có tầm nhìn của đạị bàng đang sải cánh lượn cao trên những dãy núi và thung lũng.

Cùng tác giả Hà Yên

» Tạo hóa kiểm soát nhân gian bằng luật
» Khi tạo hóa ban cho chỉ có vậy» Trí tuệ vũ trụ và những hệ quả triết học

» Nhiệm vụ nặng nề của triết học Mác Lê nin trước thách thức của vật lý học hiện đại

»Tâm linh: Sự lẫn lộn và thảm họa
»Lý giải nào cho những huyền bí tâm linh
»Thử tiếp cận Khối Óc - Trái Tim bằng cái nhìn điều khiển học
»Khách quan khoa học trong phê phán phản biện

Với tầm nhìn toàn cảnh như vậy, thì bài toán ba vật, ông muốn thấy được đồng thời toàn bộ cảnh tượng của các quĩ đạo, với tất cả sự tổ hợp khả dĩ của các điều kiện ban đầu. Vì mục đích đó, ông đã phát minh ra một công cụ toán học, gọi là Không gian pha (gồm 3 chiều không gian và 3 chiều vận tốc), mà cho đến nay vẫn còn dùng làm nền tảng cho việc nghiên cứu Hỗn độn. Bằng trí tưởng tượng mạnh mẽ, ông đã gắn mình vào trong không gian trừu tượng nhiều chiều đó để bay vào không gian Vật lý, “lôi ra” lời giải xác định của bài toán ba vật nóng bỏng lúc bấygiờ. Quan trọng hơn nữa là ông đã phát hiện ra một “nhân vật” hoàn toàn bất ngờ, từ lâu giấu mặt trong bóng tối, nhân vật được đánh giá là làm nên thực tại của Thế giới : Đó là Hỗn độn.

Để có cái nhìn tổng thể đối với bài toán ba vật, cần thiết phải có một không gian 18 chiều : 6 chiều mô tả Mặt trăng, 6 chiều mô tả Trái đất, 6 chiều mô tả Mặt trời. Chính nhờ có nhiều chiều như vậy, mà Poincaré không phải con ếch nữa mà là đại bàng. Ông bay lồng lộng trên cao để nắm bắt cái sôi động của thực tại, chứ không phải tìm kiếm cái trật tự tĩnh lặng ở đáy sâu.

Như vậy, hệ ba vật thể trong không gian pha 18 chiều, được biểu diễn bởi một điểm duy nhất. Tương tự, hệ Mặt trời cũng vậy, chỉ cần một điểm duy nhất để biểu diễn nó trong không gian pha nhiều chiều này. Tóm lại, cho dù hệ thống được nghiên cứu, có phức tạp đến đâu, các phần tử có nhiều đến mấy đi nữa, thì chỉ cần một điểm trong không gian trừu tượng đó thôi, là đủ đẻ biểu diễn tổng thể của một hệ thống.

Với cách nhìn đó, Poincaré đã khám phá ra rằng, một hệ ba vật, bề ngoài đơn giản như hệ gồm Mặt trăng, Trái đất, Mặt trời, bị chi phối bởi cùng một định luật vạn vật hấp dẫn, nhưng cũng vẫn có thể sản sinh ra cái không thể tiên đoán và cái không thể xác định. Vậy thì, Hỗn độn cũng đang quẩn quanh đâu đó trong Hệ Mặt trời của chúng ta.

Poincaré, bằng một kiểu mẫu Tư duy hoàn toàn mới, thuật ngữ hiện đại gọi là Tư duy hệ thống, và bằng thiên tài Toán học của mình, đã khám phá ra bản chất hai mặt của các định luật Cơ học của Newton. Nếu như bộ mặt đã được khám phá của các định luật này là Trật tự thì bộ mặt ẩn giấu của chúng là Hỗn độn. Trật tự và hỗn độn hòa quyện mật thiết với nhau: Cái không thể tiên đoán không bao giờ ở cách quá xa cái có thể tiên đoán.

2. Ngẫm trong Thế thái nhân tình

Người Việt ta xấu xíquá. Danh mục các bệnh xấu xí được kê ra bằng một thứ nghệ thuật “hình tượng”, khá ấn tượng. Nhưng cũng không ít người tự hỏi, dân tộc này, khi hội đủ những cái xấu ấy, thì làm sao viết được những trang lịch sử bốn ngàn năm hào hùng, để chúng ta viết tiếp từ ngày hôm nay, mà không hề tàn lụi, như tác giả lập danh mục kia, đã dự báo?

Chùm khế ngọt, cái ao làng, lũy tre xanh, nó cổ xưa thật. Cái ao làng nó đâu hiện đại bằng cái bể bơi gạch men nước biếc, lũy tre xanh kẽo kẹt buổi trưa hè, đâu có hiện đại hơn dãy tường bao, có ụ đèn tròn và cánh cổng sắt, chùm khế ngọt giá trị sao bằng chùm đèn pha lê ngoại nhập, đu đưa trên trần đại sảnh? Thế mà những cái được kể là xấu xí lạc hậu ấy đã làm nên ký ức, lời ru, nuôi ta khôn lớn từng ngày, hun đức nên hồn thiêng dân tộc, sống chết cùng quê hương để làm nên lịch sử. Liệu có sự lẫn lộn nào, nhìn gà hóa cuốc, do Tư duy lệch lạc, giữa cái bản sắc và cái lạc hậu xấu xí ở đây không? Quan trọng hơn, là giữa cái nhìn hiện tượng bộ phân, với cái nhìn xu thế vận động của toàn hệ thống? Việc thống kê những cái xấu, dù nó có thực trong cuộc sống đi nữa, cũng không đáng phải xướng lên giữa thanh thiên cộng đồng trong và ngoài nước để đòi thay đổi, bởi vì nó không tương xứng với tri thức mà thời đại đang cần.

Cũng buồn lòng không kém, khi một vị Giáo sư cao niên, lại nêu lên một khám phá đầy ắp thông tin, rằng Người Việt Nam tư duy bằng bụng. Cái cảm giác uế tạp trong bụng, thì so sao được với độ tinh khiết của cái đầu. Vậy nên, tư duy bằng bụng thì chỉ dẫn dắt đến, một là sự u mê, và hai là sự háu ăn.

Lời nói mộc mạc dân gian cũng là một bản sắc ngôn ngữ. Chẳng hạn, để diễn đạt sự nghĩ ngợi còn dấu kin, chưa nói ra, người bình dân có thể nói : “.. . Tôi nghĩ bụng rằng”. Cách nói mang tính xét đoán dân dã ấy, là khá phổ thông, vì nó mang chất khiêm nhường, đáng quí. Nhưng đem học vấn mà soi rọi nó dưới ánh sáng hàn lâm, thì trí thức nào có thể tiếp nhận được đây?

Một hiện tượng ngôn ngữ chỉ là một yếu tố, gán nó như một hệ thống Tư duy đặc trưng, thì độ chính xác cho nhận thức phỏng còn bao nhiêu ?

Cũng tiên phong không kém trong việc khởi xướng khái niệm mới : “ Công dân toàn cầu” và “Văn hóa toàn cầu”. Việc lạm phát ngôn từ kiểu này, đã một lần bị tẩy chay, trong cái gọi là “Văn hóa Đảng”, mà người khởi xướng là một cựu quan chức cao cấp trong Ngành Văn hóa Tư tưởng.

“Công dân” theo nghĩa nào đây?, nếu theo nghĩa chính thống thì quyền hạn và nghĩa vụ công dân toàn cầu được những gì ? Nhưng cái quan trọng không phải là quyền lợi được mất, mà là Tư duy Chính trị. Một giấc mơ về Thế giới đại đồng không đúng lúc, Vậy thì ngày nay, nó chỉ có thể là lời ru ngủ Chinh trị chứa đựng nguy cơ mà thôi.

Ngay cả Châu Âu đã nhất thể hóa, lại săp tiến tới Hiến pháp chung, nhưng hồ sơ cá nhân của người dân thuộc các quốc gia trong liên minh đó, có ai đã ghi nhận mình là công dân EU và mang “EU tịch” đâu.

Lại chuyện “Văn hóa toàn cầu” cũng thế. Trong nhiều cuộc Hội thảo lớn về Giữ gìn Bản sắc Dân tộc trong thời kỳ hội nhập Kinh tế, tập hợp các nhà Khoa học ưu tú, những Trí thức của dân tộc, đã khẳng định rằng “Cuộc xâm lăng Văn hóa là cuộc xâm lăng cuối cùng của nhân loại. nó tiệm tiến nhưng đầy khốc liệt...”

Lời cảnh báo kịp thời ấy cho dân tộc, rằng Bản sắc Văn hóa của dân tộc Việt nam, tuyệt đối không phải là sản phẩm nhào nặn, lai căng, để hợp khẩu vị toàn cầu.

“ Gia nhập WTO không phải bằng mọi giá” ! Đó là lời đồng thuận vang lên từ Chính phủ Việt nam, khi cuộc thương thảo cuối cùng, căng đến nghẹt thở, vì những điều kiện Chính trị, le lói bên trong những điều kiện Kinh tế khá tinh vi.

Vậy thì những khái niệm mới khai sinh “Công dân Toàn cầu”, “Văn hóa toàn cầu” được đẻ ra từ cái gì? Trước hết và bao trùm hơn cả là sự nông nổi về Tư duy Chính trị. thứ nữa là khiếm khuyết về Tư duy Hệ thống : Đời sống Kinh tế là rất quan trọng, nhưng nó cũng chỉ là một yếu tố trong toàn bộ giá trị đời sống xã hội của Dân tộc mà thôi. Cái giá trị mà bao thế hệ của Dân tộc phải đổi bằng máu mới giành được.


Ngày 9 tháng 5 năm 2009

Cập nhật lúc:

Nội dung liên quan

  • Xây dựng một khoa học mới – Khoa học về cái phức tạp

    16/05/2018TS. Phan Đình DiệuViệc phát hiện ra các hiện tượng hỗn độn hay các fractal, đã tạo ra một “khoa học mới”, khoa học về các hệ thống phức tạp, và nhìn trước rằng đó sẽ là khoa học của thế kỷ 21. Thế giới tự nhiên và xã hội hiện ra trước mắt ta phức tạp hơn rất nhiều những gì mà “khoa học” đã hình dung trước đó...
  • Vài nét tóm tắt về Điều khiển học

    22/04/2016Bùi Quang MinhĐiều khiển học là ngành khoa học nghiên cứu truyền thông và điều khiển, tiêu biểu là Cơ chế điều chỉnh phản hồi, trong cơ thể sống, máy móc và sự kết hợp của cả máy móc lẫn sinh học, ví dụ như trường hợp hệ thống kinh tế - xã hội. Thuật ngữ này được Norbert Wiener sử dụng lần đầu tiên vào năm 1948, bắt nguồn từ tiếng Hy-Lạp “ Kybernetes ", hay “steerman” (người thuyền trưởng)...
  • Khoa học về cái phức tạp

    28/03/2016Phan Đình DiệuViệc phát hiện ra các hiện tượng hỗn độn hay các fractal, đã tạo ra một “khoa học mới”, khoa học về các hệ thống phức tạp, và nhìn trước rằng đó sẽ là khoa học của thế kỷ 21. Thế giới tự nhiên và xã hội hiện ra trước mắt ta phức tạp hơn rất nhiều những gì mà “khoa học” đã hình dung trước đó, đầy những hỗn tạp thiên nhiên và cát bụi trần thế...
  • Tư duy hệ thống và đổi mới tư duy

    26/03/2014GS. TSKH. Phan Đình DiệuThế kỷ 20 vừa đi qua và những thành tựu khoa học to lớn mà loài người đạt được trong thế kỷ đó đã làm đảo lộn nhiều hiểu biết vốn có của chúng ta về những vấn đề cơ bản như không gian và thời gian, vật chất và vũ trụ, sự sống và con người, rồi tiếp đến là kinh tế và xã hội... Từ những hiểu biết mới trong nhiều lĩnh vực khác nhau dần dần đã hình thành một quan điểm mới, một tư duy mới về thiên nhiên cũng như về xã hội của chúng ta...
  • Lịch sử điều khiển học và khoa học hệ thống

    17/01/2014Bùi Quang MinhTheo Norbert Wiener, đối tượng nghiên cứu của Điều khiển học là cơ chế điều khiển các cơ thể sống và máy móc, dựa trên ý tưởng điều chỉnh hoạt động bởi vòng phản hồi ngược. Trong khi đó, Claude Shannon và Warren Weaver phát triển lý thuyết thông tin được coi là lý thuyết chung của tổ chức và quan hệ điều khiển trong các hệ thống khác nhau....
  • Thử tiếp cận Khối Óc - Trái Tim bằng cái nhìn điều khiển học

    15/12/2010Hà YênÓc và Tim thì động vật có xương sống nào cũng có. Nó đơn thuần chỉ thuộc phạm trù vật chất. Chỉ có Khối óc và Trái tim con người chúng ta ngoài thuộc tinh vật chất trần trụi, nó còn thuộc về một Thế giới siêu hinh học, ẩn giấu biết bao điều kỳ diệu, làm nên phẩm chất con người, phẩm chất Đời người và phẩm chất Người đời...
  • Những sai lầm trên quy mô hệ thống

    13/04/2008Nguyễn Trần BạtKinh tế tư nhân là một bộ phận quan trọng cấu thành toàn bộ nền kinh tế. Nhiều quốc gia mặc nhiên thừa nhận sự tồn tại của hình thức kinh tế này và tích cực phát triển nó như một công cụ hiệu quả để phát triển kinh tế...
  • Văn hóa thời hội nhập: Sắp xếp trong hỗn độn

    25/03/2008Phạm NguyễnTrong lịch sử văn hóa Việt Nam, ít nhất chúng ta đã trải qua hai lần biến đổi lớn về văn hóa xã hội và phải nói rằng hệ quả của nó đã đưa tới những biến đổi tích cực, theo hướng đi lên của dân tộc. Lần một, sự biến đổi ấy đã kéo dài và phát triển trong ngót nghét hai thiên niên kỷ mà ảnh hưởng của nó là văn hóa phương Đông , rõ nét và mạnh mẽ hơn, nhanh chóng hơn trong một bối cảnh toàn cầu hóa...
  • Tiếp tục đổi mới tư duy về kinh tế xã hội

    28/09/2006GS. Phan Đình DiệuLiên tục đổi mới tư duy với những cách nhìn mới, cách hiểu mới trên cơ sở những phát hiện khoa học mới, đặc biệt trong các lĩnh vực khoa học hệ thống, khoa học kinh tế, khoa học tổ chức và quản lý... đồng thời không nuối tiếc những kiểu tư duy không còn phù hợp với điều kiện hiện đại là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với việc xây dựng kinh tế tri thức ở nước ta...
  • Tư duy hệ thống

    25/04/2006Ngô Trung ViệtNhân loại đã thành công qua thời gian trong việc chinh phục thế giới vật lý và trong việc phát triển tri thức khoa học bằng việc chấp thuận phương pháp phân tích để hiểu vấn đề. Phương pháp này gồm bẻ vấn đề thành các cấu phận, nghiên cứu từng phần cô lập và rồi rút ra kết luận về cái toàn thể. Loại tư duy tuyến tính và máy móc này đang ngày một trở nên không hiệu quả khi đề cập tới các vấn đề hiện đại...
  • Tư duy hệ thống: Quản lý hỗn độn và phức hợp

    27/09/2005Cái mới trong khoa học quản lý là quản lý tình thế hỗn độn và phức hợp, trên cơ sở quán triệt tư duy hệ thống. Nhà khoa học quản lý Jamshid Gharajedaghi cung cấp cho các nhà tổ chức và quản lý, cho giới kinh doanh và đông đảo độc giả những kiến thức cần thiết về tư duy hệ thống, bao gồm triết học hệ thống, các lý thuyết hệ thống và phương pháp luận hệ thống, đồng thời trình bày những ứng dụng cụ thể các lý thuyết nói trên vào việc nghiên cứu và thiết kế một số dự án ở các công ty và các cơ quan chính phủ nhiêu nước, mà bản thân tác giả đã tham gia và có vai trò tư vấn chủ chốt...
  • Đổi mới tư duy

    21/07/2005Tiến sĩ Vũ Minh Khương, Đại học HarvardXin giới thiệu với quý độc giả bài viết với cách nhìn mới mẻ và toàn diện về đổi mới tư duy của Tiến sĩ Vũ Minh Khương, Đại học Harvard.
  • Sáng tạo ở bên bờ hỗn độn...

    20/05/2005GS. Phan Đình DiệuKhả năng sáng tạo ở bên bờ hỗn độn, một khả năng phổ biến của mọi hệ thích nghi phức tạp mà ta gặp khắp nơi trong mọi lĩnh vực tự nhiên, sự sống cho đến kinh tế, chính trị, xã hội cung cấp cho con người những cách hiểu mới về cách thức tiến hoá của giới tự nhiên và qua đó sự tiến hoá của các loại hệ thống khác, kể từ khi học thuyết tiến hoá ra đời vào giữa thế kỷ 19...
  • Khái niệm độ phức tạp, thông tin và entropy

    04/05/2003Khái niệm và thuật ngữ thông tin được dùng trong giao tiếp giữa các hệ thống máy tự động, sinh vật, môi trường...
  • Tóm tắt ngắn về Lý thuyết hệ thống

    26/04/2003Sự xuất hiện của "Lý thuyết chung của các hệ thống", một lý thuyết thuộc dạng những quan điểm khoa học chung mang tính hình thức và phổ quát, đã thúc đẩy mong muốn của công đồng khoa học muốn tiến tới phổ quát hoá các công cụ nhận thức khoa học và tiến tới sự nhận được đặc trưng mang tính luận điểm của toàn bộ các phổ quát...
  • xem toàn bộ