Một đại sĩ phu

10:15 SA @ Thứ Tư - 12 Tháng Bảy, 2017
Nguyễn Hữu Cầu, hiệu là Giản Thạch, sinh năm 1879 tại làng Trung Tự, huyện Hoàn Long, đã nhẹ nhàng thanh thản ra đi ngày 13 tháng 7 vừa qua trong tình quyến luyến của đông đảo con cháu, trước sự kính trọng của bạn hữu và nỗi tiếc thương của các cựu học viên trường Đông Kinh Nghĩa Thục, nơi ông từng giảng dạy suốt gần ba năm trời [2].

Cụ cử Đông Tác Nguyễn Hữu Cầu, sáng lập viên Đông Kinh Nghĩa Thục
.
Một gương mặt sĩ phu cao cả và trong sáng đã ra đi, gương mặt của một nhà yêu nước vĩ đại, một trí tuệ kiên cường, uyên bác và sáng tạo đã chiến đấu suốt đời vì nền độc lập của Việt Nam.
Đậu cử nhân khoa Bính Ngọ (1906) tại trường thi Nam Định, ông từ chối các chức quan để dành toàn tâm cho nghiệp bút, nổi bật là việc biên dịch các Tân thư Trung văn. Làm thơ về cố quốc Việt Nam và những quang vinh của quê hương, ông không ngừng tìm kiếm trong quá khứ xa xăm một truyền thống và các bài học cho ngày mai. Làm thơ về những thuở huy hoàng xưa kia và các hy vọng tương lai, ông là thi sĩ của lý tưởng Việt Nam, của tất cả những ai tự gánh trách nhiệm giành lại độc lập cho đất nước.
Vào thời kỳ ấy, từ năm 1905 đến năm 1914, toàn bộ nền văn học ngầm được viết bằng chữ Hán hoặc Quốc Ngữ đều có tính chính trị, mọi nghiên cứu, mọi khảo luận đều như chuẩn bị cho cuộc chiến du kích. Văn phú là phúng dụ, thơ ca thì bóng gió, tiểu thuyết và kịch nói dạy luân lý; người ta không mấy để ý đến nghệ thuật nhưng những nhà phê bình đã khêu gợi và kêu gọi khởi nghĩa; những sử gia và văn sĩ là người chủ xướng. Đó là họ đã dường mong một cuộc cách mạng sẽ lôi cuốn trong cùng bầu nhiệt huyết toàn bộ nhân dân với 25 triệu tâm hồn đang sôi lên những khát vọng và tình cảm giống nhau, biến sự tuyên truyền lúc ấy còn là bề nổi sẽ trở thành hành động và sẽ cho mọi người biết rằng đã từng có một Tổ quốc.
Nguyễn Hữu Cầu nói: “Tôi luôn cảm thấy cố quốc rung động trong trái tim mình… ”. Qua những núi đồi và dòng sông trong thơ ca của ông, dù không xuất bản nhưng được nhiều bạn hữu và học trò thuộc lòng, Nguyễn Hữu Cầu đánh thức các vị thánh thần xưa kia của đất nước. Và trên phế tích của những thành đô hoang tàn như Cổ Loa, Đại La hay Hoa Lư, thơ ông làm sống lại nguồn gốc con Rồng cháu Tiên cũng như phẩm giá và dũng khí của tổ tông, khơi dậy những truyền thuyết bị chôn vùi từ bao thế kỷ trong các mộ táng của Việt Nam, dưới các miếu đền của Bắc Bộ, và ông đã tái hiện như thế lịch sử lâu đời của dân tộc mình.
Nguyễn Hữu Cầu từng nói: “Hôm qua trẻ trung nay đã già 4000 tuổi, dân tộc này hiện đang thiếu một lý tưởng, tức là đức tin vào truyền thống của Tổ quốc và ý thức khách quan về sứ mệnh của mình trong lịch sử và văn minh Đông Dương – chỉ riêng đức tin hoặc ý thức ấy sẽ làm nên một dân tộc của tương lai”. Ông không nói ta phải làm những việc lớn giống như các bậc tiền bối, ông chỉ nói rằng khi có các bậc tiền bối đã từng như thế thì ta cũng hãy phải làm những việc lớn.
Nhưng Nguyễn Hữu Cầu không chỉ mong Việt Nam mạnh về vật chất mà ông còn mong cho mạnh về trí tuệ: cao hơn những gì đã đạt trong sự nghiệp tinh thần phải là phẩm cách và phải như dấu ấn của riêng mình. Ông thường nói với môn sinh: “Tự do này, độc lập này mà đồng bào ta vừa giành lại, chúng ta phải gìn giữ trong lĩnh vực tinh thần. Chính bằng nghệ thuật và khoa học mà các dân tộc trở nên bất diệt. Chúng ta cần dõng dạc và hào hùng tự khẳng định mình như một dân tộc. Phải làm sao thông qua nghiên cứu ngôn ngữ mà nghiên cứu dân tộc và làm sao in sâu như khắc trong lòng mình tính cách Việt thuần khiết. Hiện nay chúng ta quá Tây, quá Tàu rồi, chúng ta là bọn giáo điều chiết trung, chúng ta là kẻ xã hội chủ nghĩa chuyên quyền: chúng ta cần phải là người Việt…
Khi một trong các môn sinh của mình xin được dịch sang văn xuôi tiếng Việt vài bài thơ chữ Hán của thầy, Nguyễn Hữu Cầu trả lời rằng bản dịch sang văn xuôi vẫn là trung gian duy nhất xác đáng giúp cho có thể tiếp cận việc nghiên cứu một nhà thơ viết bằng ngôn ngữ mà ta biết, nhưng nó luôn luôn lạnh lẽo và ít thoả mãn biết bao, dù vọng tưởng chính xác đến đâu ! Dĩ nhiên nó phản ánh các từ, các ý, các hình ảnh; nhưng có một việc thì không thể: đó là hình thái, nhịp điệu, sự hài hoà, và điều ấy phải chăng là nét độc đáo của chính thi ca ? Chỉ một công cụ là câu thơ mới có thể cho phép truyền cảm được những thứ đó. Nhưng để thử một ý định như vậy thì tự mình phải là thi sĩ, và đấy là khó khăn to lớn mà nhiều người không vượt nổi… ”.

Sách Nguyễn Hữu Cầu- Chí sĩ yêu nước Đông Kinh Nghĩa Thục, do GS Chương Thâu và Hồ Anh Hải biên soạn nhân 100 năm phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục (1907-2007)
.
Bị đày đi Côn Đảo năm 1918 chỉ vì đã chu cấp cho các học sinh Việt Nam sang Trung Quốc và Nhật Bản du học, Nguyễn Hữu Cầu không ngừng đấu tranh dũng cảm chống lại chủ nghĩa thực dân, đặc biệt là phản đối việc một số người Pháp chiếm đoạt đất đai gây thiệt hại cho nông dân Việt Nam. Người ta biết rằng tình trạng ruộng đất ở Bắc Bộ và Trung Bộ thời ấy không được rõ ràng do thiếu hoàn toàn các văn tự sở hữu theo ý nghĩa mà người Pháp gán cho từ này. Văn tự của người Việt không phải lúc nào cũng cho biết diện tích và chỉ viết rất đại khái về các ranh giới của thửa đất. Cho rằng “không hoàn chỉnh trong khâu soạn lập và dễ bị giả mạo nên văn tự kiểu này không có gì làm bảo đảm !”, chính quyền “bảo hộ” không hề đếm xỉa bất cứ điều gì và đã cấp nhiều ruộng đất cho các thực dân hoặc quan chức người Pháp, bất chấp những khiếu nại của các chủ nhân hợp pháp. Chính vì thế mà các địa sản lớn đã lan rộng đáng kể trong những năm Pháp chiếm đóng, nhất là sau năm 1900. Tiếp theo số tài sản khác thường của nhiều quan chức hoặc tay sai Pháp mà công việc “bảo hộ” không làm quên đi sự chăm lo cho tư lợi cá nhân, mối ưu đãi của chính quyền thực dân đã giúp họ chiếm được các đồn điền mênh mông mà một mình sự tham ô của họ còn chưa thể đủ để làm lớn thêm diện tích…
“Đó là một sai lầm”, Nguyễn Hữu Cầu nói trong phiên toà xét xử mình [3] năm 1916, “khi tin rằng sức mạnh làm được mọi điều – dù là sức mạnh quân sự, pháp luật, tiền bạc hoặc bất cứ phương tiện nào khác mà không cần tranh luận - đó là một sai lầm mà nhiều người Pháp các ngươi thường dễ dàng mắc phải… ”.
Trước một dũng khí điềm tĩnh đến thế, ta phải tự nhắc nhau rằng tuy Nguyễn Hữu Cầu đã mất quá sớm đối với gia quyến, bạn hữu và môn sinh của mình, tuy ông đã để tất cả chúng ta ở lại với nỗi đau thương, nhưng ông đã không rời bỏ mảnh đất này khi chưa hoàn thành định mệnh tinh thần lớn lao. Tiếng tăm của ông đã đến mức không cần lớn hơn nữa: ông đã cống hiến nhiều hơn nghĩa vụ của một nhà sĩ phu và ái quốc. Ông đã mệt mỏi, mong được nghỉ ngơi, nhẹ nhàng đối diện cái chết mang lại cho mình sự tĩnh lặng và bình an.
Nguyễn Văn Tố [4]
(Hà Nội 27-9-2006, Nguyễn Chí Công cẩn dịch [5])
Une grande figure de lettré [6], par Nguyen Van To
Le Peuple du 4-8-1946
Chú thích:
[1] Le Peuple (Nhân dân): tờ báo tiếng Pháp phát hành tại Hà Nội năm 1946, trang nhất in tiêu ngữ “Cơ quan đấu tranh vì nền độc lập của nước Việt Nam”, chủ nhiệm là ông Lưu Văn Lợi, sau làm Trưởng phòng địch vận Quân đội Nhân dân Việt Nam, Trợ lý Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, trước khi về hưu là Bộ trưởng – Trưởng ban Biên giới Chính phủ CHXHCN Việt Nam.
[2] Trường Đông Kinh Nghĩa Thục (ĐKNT) bộ phận ở Hà Nội chỉ hoạt động trong thời gian từ tháng 3 tới tháng 12 năm 1907. Tác giả viết “suốt gần ba năm trời” có lẽ là tính thêm cả hai năm cụ Nguyễn Hữu Cầu tiếp tục dạy học tại trường Quảng Hợp Ích của cụ Nghiêm Xuân Quảng (một nhà hoạt động khác của ĐKNT) sau khi trường ĐKNT bị thực dân Pháp cấm.
[3] Trong thời gian 1907-1915, Nguyễn Hữu Cầu và các đồng chí của ông đã tổ chức tìm kiếm các thanh niên có ý chí, giúp họ kinh phí sang Trung Quốc học làm cách mạng. Một thanh niên trong số đó khi bị bắt đã khai ra Nguyễn Hữu Cầu làm thực dân Pháp kết án ông 5 năm tù với tội danh “có âm mưu lật đổ chính phủ bảo hộ”.
[4] Nguyễn Văn Tố (1889-1947), hiệu Ứng Hòe, người Hà Nội. Trợ lý Khoa học tại Viện Pháp quốc Viễn đông Bác cổ - École française d’Extrême-Orient (EFEO), cơ quan nghiên cứu lịch sử và văn hóa Việt Nam. Nổi tiếng uyên bác và cương trực, không màng danh lợi, được cả người Pháp kính nể. Là nhà văn hóa lớn và cây bút nổi tiếng văn đàn Việt Nam đương thời, đã viết hàng trăm bài nghiên cứu với hàng nghìn trang sách tiếng Việt và tiếng Pháp. Trước 1945 từng làm Hội trưởng Hội Trí Tri, sáng lập và làm Hội trưởng Hội Truyền bá Quốc ngữ (1938-1945) nhằm xóa nạn mù chữ cho dân nghèo và nâng cao dân trí. Cụ đã đứng bên Chủ tịch Hồ Chí Minh trên lễ đài Đại Lễ Tuyên bố Việt Nam độc lập ngày 2-9-1945. Từng được cử làm Bộ trưởng Bộ Cứu tế Xã hội rồi Trưởng ban Thường trực (tức Chủ tịch) Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khóa I. Tháng 10-1947 bị lính Pháp bắn chết khi chúng nhảy dù xuống Bắc Kạn, nơi sơ tán của Ủy ban Thường trực Quốc hội.
[5] Còn có bản dịch tóm tắt với đầu đề “Một gương mặt lớn sĩ phu” của ông Dương Xuân Thự đã đăng trên tạp chí Tài Hoa Trẻ số 242+243 năm 2002.
[6] Trích "Nguyễn Hữu Cầu - chí sĩ Đông Kinh Nghĩa Thục", Chương Thâu và Hồ Anh Hải biên soạn, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội 2007.
Trích Tủ sách danh nhân, nxb Lý luận Chính trị 2007
Tạp chí Tia Sáng đã đăng lại 6-2007

Nội dung liên quan

  • Đường lối giáo dục cứu nước của Đông Kinh Nghĩa Thục

    23/09/2018Nguyễn Hải HoànhGiáo dục cứu nước (GDCN) là lựa chọn quan trọng nhất của các sĩ phu sáng lập Đông Kinh Nghĩa Thục (ĐKNT) khi họ quyết định đường lối đấu tranh giải phóng nước nhà của tổ chức cách mạng này. Trước đó, tất cả các cuộc đấu tranh chống Pháp đều theo đường lối bạo động vũ trang.
  • Đông Kinh Nghĩa thục: Học Nhật Bản chấn hưng đất nước

    26/07/2017Mai ThụcNhân ngày Nhà giáo Việt Nam năm nay, Trung tâm Văn Miếu Quốc tử Giám và Trung tâm Minh Triết Việt đã Tưởng niệm 100 năm các nhà giáo Đông Kinh Nghĩa thục. Họ là những sĩ phu yêu nước thắp sáng tư tưởng Chấn hưng - Duy Tân - Dân tộc, là những bậc thầy góp sức đặt nền móng xây dựng một triết lý giáo dục Tự lập, tự nguyện, học Tinh Hoa dân tộc và thế giới để dạy nên những con người Việt Nam hiện đại...
  • "Văn minh tân học sách" – Bước chuyển có ý thức sang nền văn minh mới

    10/07/2017Phạm Khiêm Ích"Nay đã từng ngẩng đầu trông lên, cúi đầu nhìn xuống, trầm ngâm suy nghĩ cho cùng, để tìm kế mở mang dân trí giữa nghìn muôn khó khăn”. Từ sự suy nghĩ sáng suốt, các cụ đã đề ra 6 biện pháp: 1/Dùng văn tự nước nhà; 2/Hiệu đính sách vở; 3/Sửa đổi phép thi; 4/Cổ võ nhân tài; 5/Chấn hưng công nghệ; 6/Mở tòa báo...
  • Hai cuốn sách mới về sự nghiệp của chí sĩ Phan Châu Trinh (1872-1926)

    31/10/2016Chúng tôi hy vọng rằng bạn đọc ngày nay - nhất là bạn đọc trẻ tuổi - sau khi đọc cuốn sách này sẽ thêm tự hào về những tấm gương yêu nước trong lịch sử, từ đó có thêm động lực để viết tiếp những trang sử mới tươi đẹp của dân tộc Việt Nam ta...
  • Cách mạng tháng 8 và người trí thức

    02/09/2016Mai ThụcKỷ niệm 63 năm Cách mạng tháng Tám – “Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa” tuổi 63, người trí thức bừng tỉnh trước nền kinh tế thị trường hội nhập toàn cầu diễn ra trên đất nước ta như một cơn lốc xoáy. Rất lâu rồi, bây giờ mới có những hội thảo, những chuyên đề về vai trò của trí thức. Mọi người đồng thanh xác định vị trí của trí thức trong các ngành...
  • Đông Kinh Nghĩa thục và những điều kiện Hiện đại hoá

    21/05/2015Nhà nghiên cứu giáo dục Phạm ToànTự do này, độc lập này mà đồng bào ta vừa giành lại, chúng ta phải gìn giữ trong lĩnh vực tinh thần. Các dân tộc trường tồn chính là nhờ có thành tựu nghệ thuật và khoa học. Chúng ta cần dõng dạc và hào hùng tự khẳng định mình trong tư cách một dân tộc. Đó là lời dặn dò của cụ Nguyễn Hữu Cầu – suy ra cũng là những lời dặn dò Đông Kinh Nghĩa thục...
  • Những sự kiện đáng nhớ trong cuộc đời chí sĩ Phan Châu Trinh

    07/05/2015TS. Nguyễn Văn Dương1900 (28 tuổi): Đậu Cử nhân thứ 3, cùng khoa với Huỳnh Thúc Kháng, Phan Bội Châu...
  • Tư tưởng canh tân sáng tạo nền văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX của chí sĩ Phan Châu Trinh

    26/09/2014Đỗ Hòa HớiVới sự nghiệp đổi mới, vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa và hiện đại hóa văn hóa dân tộc đang thu hút sự quan tâm của nhiều người. Qua tìm hiểu chí sĩ Phan Châu Trinh, chúng tôi thấy ông là một tấm gương mạnh dạn canh tân và sáng tạo nền văn hóa dân tộc vào thời điểm đầu thế kỷ XX.
  • Dương Bá Trạc – một văn nhân, chí sĩ Hà Nội

    08/08/2014Dương Bá Trạc (1884-1944) - nhà cách mạng, nhà báo, nhà văn Việt Nam thời Pháp thuộc. Theo Vũ Ngọc Phan, trong các nhà văn đi tiên phong ở nửa đầu thế kỷ 20, ông được kể là một người lỗi lạc...
  • Kẻ sĩ xưa và nay: nỗi cô đơn triền miên

    23/05/2014Nguyễn Quang ThânVăn hóa bao giờ cũng chuyển mình rất chậm, qua chọn lọc lâu dài của thời gian, không như giá trị vật chất hay kỹ thuật. Văn hóa là những gì còn được ghi nhớ sau bao thứ bị con người quên đi, nó giống như hạt ngọc còn lại trong con lòng con trai ngọc sau khi cái xác trai thối rữa tan biến thành cát bụi trooi theo dòng nước...
  • Một trường học yêu nước đầu tiên ở Hà Nội

    10/09/2013Nguyễn Vinh PhúcTừ giữa năm 1906 dân phố Hàng Đào thấy các nhà nho có tên tuổi như phó bảng Hoàng Tăng Bí, cử nhân Dương Bá Trạc, tú tài Lê Đại, huấn đạo Nguyễn Quyền... thường xuyên lui tới nhà cụ cử Lương Văn Can ở số nhà 4. Lại có cả các vị thanh niên Tây học danh tiếng như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn, Bùi Đình Tá... cũng có mặt. Chẳng biết họ bàn việc gì song ai nấy đều đoán là liên quan đến "quốc sự" rồi.
  • Nhà chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng: Học để làm người

    28/04/2007Đinh Ngọc VânTheo cụ Huỳnh Thúc Kháng: Cái trường học để "làm người" đó tức là cái cõi đời ta vậy. Bao nhiêu sự khốn khó ở đời, bao nhiêu sự kinh nghiệm người trước để lại đều là những bài dạy cho ta. "Làm người" ở đời đã khó như trên đã nói, thì "học làm người" chắc không phải chuyện dễ"...
  • Ảnh hưởng của “Tân thư” trong tư tưởng Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh

    17/07/2006PGS. PTS. Lê Sĩ ThắngĐối với các nhà nho Việt Nam yêu nước hồi đầu thế kỷ - những người đã từng bị Nho giáo bưng tai bịt mắt, đã thấy được ở một chừng mực nào đó sự lạc hậu của nhà trường Nho giáo và đang khao khát giải thích nhiều vấn đề có liên quan đến sự nghiệp giải phóng dân tộc, thì “Tân thư" đã có sức hút mãnh liệt...
  • Hà Nội nơi mở cửa những đổi mới văn hoá

    08/02/2006Nguyễn Vinh PhúcKhông kể chuyện xa xưa, khi ở đây từng diễn ra sự tiếp xúc và cải biến văn hoá Ấn Độ - Trung Hoa, mà chỉ kể chuyện 100 năm trở lại đây, việc hội nhập rồi phát triển cùng văn hoá thế giới cũng đủ nói lên Hà Nội là nơi mở đầu những đổi mới trong đời sống văn hoá...
  • xem toàn bộ