Vài suy nghĩ về những điều trần của Nguyễn Trường Tộ

04:41 CH @ Thứ Tư - 02 Tháng Mười, 2019

Cho đến nay, vẫn còn những nhận thức và đánh giá khác nhau về nhân vật Nguyễn Trường Tộ (1828- 1871 ) và những điều trần của ông dù đã có nhiều cuốn sách và bài báo về thân thế và sự nghiệp của ông. Trong bài viết ngăn này, chúng tôi chỉ nêu vài suy nghĩ vệ tính “khả thi” hay “bất khả thi” của những điều trần trong bối cảnh lịch sử Việt Nam những thập niên 60- 70 của thế kỷ XIX.

I

Như chúng ta đều biết, sau khi thực dân Pháp chiếm trọn 6 tỉnh Nam kỳ (1867), tình hình kinh tế - xã hội nước ta càng khủng hoảng nghiêm trọng. Trước nguy cơ quân Pháp mở rộng xâm lược ra cả nước, triều đình nhà Nguyễn càng tỏ ra lúng túng trong việc phòng thủ. Suốt 10 năm đối phó với giặc ngoại xâm (1858- 1867), việc tổ chức, trang bị và huấn luyện quân đội vẫn không có cải tiên gì đáng kế.

Ở Bắc Hà, đời sống nhân dân khốn đốn vì luôn bị nạn đói, dịch bệnh, bão lụt đe doạ, nhất là từ khi Nha Đê chính bị bãi bỏ (1861). Liên tiếp trong hai năm 1867, 1868, các tỉnh trung du, đồng bằng và ven biển bị bão lụt lớn, nhân dân xiêu tán.

Kinh tế nông nghiệp sa sút kéo theo sự đình đốn của công thương nghiệp. Nhiều phố thị suy tàn, giao thông thương mại đường biển nằm trong tay Chiến thương cục của nhà Thanh. Những cố gắng bình ổn vật giá và đong lường không còn hiệu quả. Nha Bình chuẩn thành lập theo sáng kiến của Phan Huy Chú chỉ tồn tại mây năm rồi cũng bị bãi bỏ. Bấy giờ có tàu buôn của Anh đến cửa Thị Nại (Bình Định) xin thông thương, sứ thần của Tây Ban Nha đến Huế trình quốc thư (4.1870) và lãnh sự Phổ ở Hong Kong liên hệ và Nha Thương bạc xin giao hảo... nhưng triều đình bỏ qua hoặc không trả lời.

Tình hình tài chính ngày một kiệt quệ do triều đình nhà Nguyễn buộc phải tăng các sắc thuế (1867), bán ruộng công làm ruộng tư (1869) và bán cả quan tước để có tiền trang trải chiến phí và bồi thường chiến phí cho thực dân Pháp. Ngoài ra còn có nạn thổ phỉ (từ biên giới phía Bắc tràn sang) gây tai hoạ cho nhân dân Bắc Hà. Những đám “giặc khách” Cờ Trắng, Cờ Vàng và cướp biển “Tàu ô” mặc sức tung hoành khắp miền thượng du, trung du và ven biển.

Nắm được tinh thần suy nhược cao độ của triều đình Huế, thực dân Pháp càng xúc tiến ý đồ mở rộng xâm lược ra phía Bắc, thậm chí muốn biến vua quan nhà Nguyễn thành lực lượng hỗ trợ nhằm “đặt Bắc kỳ dưới quyền đô hộ của Pháp mà chính phủ Pháp không phải tốn một người hay một xu nào”, như lời đô đốc Dupré báo cáo với Bộ Hải quân và Thuộc địa Pháp.

Không thể bó tay nhìn đất nước lâm nguy, những sáng kiến đổi mới đất nước được đề xuất lẻ tẻ trước kia trở thành một trào lưu canh tân trong những năm 60 của thế kỷ XIX. Nhiều người trong giới quan lại, sĩ phu ở các địa phương, trong đó có những người từng ra nước ngoài quan sát, tiếp xúc, học hỏi những thành tựu khoa học kỹ thuật châu Âu trở về, đã suy ngẫm về tình hình đất nước, mà Phạm Phú Thứ, Trần Đình Túc, Nguyễn Huy Tế, Đinh Điền là những ví dụ.

Những sáng kiến của họ đều xuất phát từ nỗi trăn trở trước vận nước và những đề xuất của họ cũng rất khiêm tốn. Đại để họ xin triều đình mở mang kinh tế (tận dụng ruộng đất bỏ hoang, khai thác khoáng sản), đóng thuyền máy hơi nước, nâng cao hiệu quả chiến đấu của binh lính, “mở cửa” đất nước, xây dựng hải cảng, lập thương quán ở các nước, lập quan hệ ngoại giao với Anh, mời chuyên viên kỹ thuật các nước đến giúp, không để Pháp độc quyền v.v.

Đáng chú ý hơn cả là những điều trần của Nguyễn Trường Tộ (1828-1871). Ông quê ở Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Năm 19 tuổi (1847), ông quyết định đi sâu tìm hiểu những thành tựu khoa học của châu Âu, bắt đầu bằng những tri thức thu lượm được tại chủng viện Xã Đoài. Sau đó, ông tìm cách đi du lịch Hong Kong, Singapore rồi sang Pháp (1858) học ở Paris hai năm.

Năm 1861, Nguyễn Trường Tộ về nước, gửi lên triều đình Huế những sáng kiến canh tân bao quát mọi lãnh vực. Ông lên án mạnh mẽ ý thức hệ Nho giáo lỗi thời mà nhà Nguyễn đang cố sức duy trì và đề xuất những biện pháp cải cách cụ thể về các lãnh vực kinh tế, chính trị, quân sự ngoại giao, tôn giáo, văn hoá giáo dục(1).

II

Một ý tưởng cơ bản của Nguyễn Trường Tộ: Muốn nói đến chuyện canh tân thì trước hết phải “tạm hoà” với Pháp. Đã có nhà nghiên cứu đánh giá cao ý tưởng này, cho rằng đó là “một sách lược” để thực hiện canh tân, “chuẩn bị các điều kiện và khi có thời cơ thì đánh đuổi Pháp” (2).

Xưa nay, trong chiến tranh - kể cả chiến tranh vệ quốc - việc đánh hay hoà cũng là chuyện bình thường. Hoà để bảo toàn lực lượng, để mở rộng căn cứ (như trong khởi nghĩa Lam Sơn), hoà để lùi một bước tiến hai bước, có khi vừa đánh vừa đàm v.v. Thế nhưng trong tình hình Việt Nam những năm 60-70 của thế kỷ XIX mà nói chuyện “hoà” với thực dân Pháp để canh tân đất nước thì e rằng người Pháp không chịu. Vì sao?

Theo Nguyễn Trường Tộ, nước Pháp - cũng như các nước phương Tây khác - là một nước rất mạnh: “Ở trên lục địa, tất cả những chỗ nào có xe thuyền đi đến..., mặt trời mặt trăng soi chiếu... thì người Âu đều đặt chân tới, như tằm ăn cá nuốt, ở đâu thuận vì họ thì phúc, chỗ nào trái với họ thì hoạ; ai hoà với họ thì được yên..., thiên hạ không ai dám kháng cự lại họ... Huống hồ nước Việt ta là một nước bé nhỏ, tại sao lại muốn trái đạo trời mà tìm những việc thiên hạ khó làm được. ..? Hơn nữa, ở châu Âu, việc võ bị chỉ có nước Pháp là đứng hạng nhất, hùng mạnh không thua ai cả”.

Nguyễn Trường Tộ cũng tiên liệu rằng : “Nếu như ngày kia Pháp đưa quân đến thì việc vượt biển cũng như đi trên đất bằng, trèo non như đi trên đường bộ. Nước ta tựa núi kề biển, địa thế như một con rắn dài..., đầu đuôi không liên lạc được với nhau nếu họ đánh một trận thì ta đã bị cái thế chia năm xẻ bảy…”.

Trong lúc đó, vẫn theo Nguyễn Trường Tộ, “quân lính của ta lại chuyên dùng gươm dao, gậy gộc, không thạo súng ống... Nếu họ dùng súng trường từ xa bắn suốt tới, thì quân ta chưa giáp trận mà gươm giáo đã tan tành. Khi họ đến gần thì dùng lưỡi lê xung phong một người đương được cả 100 người, xông lên như nước sông chảy xiết. Lúc ngừng lại thì như núi dựng, xông vào chẳng qua cũng như chuồn chuồn lay cột đá mà thôi (...). Đem quân nhút nhát của mình ra đánh lại quân vô địch của họ thật chẳng khác nào như bắt muỗi đội núi, đem dê đấu hổ (…). Quân Pháp đánh thành không cần dùng những phương pháp bắc thang, đường hầm, xe kiếm, bao đất, mà đại pháo bắn ra thì núi lở, gò sập (...), trèo thành như lên đệm gối, sở dĩ lâu nay họ chưa dùng đến là vì cắt cổ gà cần gì phải dùng dao mổ trâu...”.

Theo phân tích của Nguyễn Trường Tộ thì nước Việt Nam đứng bên cạnh nước Pháp chẳng khác nào một đứa trẻ gầy còm đứng bên cạnh một người không lồ. Nguyễn Trường Tộ chỉ muốn nói lên điều ông nghĩ, không có ý “hù doạ” vua quan triều Nguyễn.

Sở dĩ chúng tôi trích dẫn những đoạn trong Di thảo của Nguyễn Trường Tộ là vì từ trước tới nay trong giới nghiên cứu chưa mấy ai thực sự lưu ý đến những chi tiết như trên. Mặt khác, chúng tôi cũng muốn nói rằng Nguyễn Trường Tộ thật lòng muốn vua quan triều Nguyễn mở to đôi mắt để nhìn cho rõ quân đội nước Pháp hùng mạnh như thế nào, trong khi quân lính của triều đình nhà Nguyễn bạc nhược ra sao. Nếu thực tế đã như vậy mà đòi chống cự với Pháp, liều mình như chẳng có, thì chúng khác nào tự sát.

Tóm lại, muốn sống thì phải hoà (hoà chứ không phải đầu hàng), không hoà là mất hết, làm gì còn ngai vàng, còn đất nước mà canh tân và phát triển! Nguyễn Trường Tự khẳng định: “Sự thể hiện nay chỉ có hoà (...) không hoà mà chiến thì chẳng khác gì cứu hoả mà đổ thêm dầu, không những không cứu được mà còn cháy cá mình nữa”.

Ông chân thành mách bảo triều Nguyễn rằng: Không thể tiếc rẻ vài mảnh đất mà để mất cả giang sơn. Vua quan nhà Nguyễn chỉ mới “trao tặng” 3 tỉnh miền Đông, tiện thể họ lại “xin” nốt 3 tỉnh miền Tây: nếu vua quan nhà Nguyễn không rút kinh nghiệm ngay mà cứ nhùng nhằng thì có khi họ sẽ nổi nóng bắt “trao tặng” luôn cả nước, bấy giờ có hối tiếc thì đã muộn!

Về điểm này, Nguyễn Trường Tự giải thích khá cặn kẽ: “Nay có đánh họ cũng không đi, hoà họ cũng không đi. Họ chỉ xin mình miếng đất mà thôi, nếu cứ kiên quyết không cho, họ sẽ lập mưu cướp hết, từ khách quay lại làm chủ. Như thế là tiếc một, hai mảnh đất mà đem cả nước trao cho họ. Nếu biết rõ họ đã đến là không đi…, thì đánh với họ tức là mất cái lớn không đáng mất..., không kêu nài gì được (...) Hoặc giả có người nói đất đai tổ tiên để lại không được đưa gang tấc nào cho kẻ khác. Như vậy là quá câu chấp mà để hỏng việc nước. Sao không xem xưa nay có ai làm chủ giang sơn mãi đâu (...). Vả lại những điều mà nước Pháp xin, chẳng qua là để mở bến tàu, lập phố xá, thông cửa bể để buôn bán...”.Và để cho vua quan triều Nguyễn yên tâm hơn, Nguyễn Trường Tự cam đoan như đinh đóng cột: “Xưa nay chưa có ai buôn bán mà âm mưu chiếm nước ngữ ta bao giờ”(3).

Chỉ tiếc rằng Nguyễn Trường Tộ lo ngại vua quan triều Nguyễn hoang mang nên ông chưa muốn nói rõ cho họ hiểu cặn kẽ hơn tâm địa thực sự của thực dân Pháp, ít nhất là từ ngày họ nổ súng bắn vào Đà Năng giữa năm 1858 ; mà tâm địa này thì một ngữ thông kim bác cổ như Nguyễn Trường Tộ thấu hiểu hơn ai hết. Có lẽ cũng chính vì vậy mà cho mãi đến năm 1871, Nguyễn Trường Tộ vẫn cứ thúc giục vua quan triều Nguyễn phải chớp ngay “thời cơ đã đến” để thực hiện canh tân đất nước!

Vậy “thời cơ” theo Nguyễn Trường Tộ là như thế nào?

III

Tháng 9.1871 (hai tháng trước khi qua đời), Nguyễn Trường Tộ mong triều đình nhà Nguyễn thực hiện những đề nghị canh tân mà ông đã đề xuất từ năm 1863 : “Bài Tế cấp luận của tôi nếu đem ra thực hành trăm năm cũng chưa hết thế mà bảy, tám năm nay chưa thấy thực hành tí nào, chả lẽ đợi đến trăm năm sau mới thực hành được sao? Nay có thể làm được rồi, thời đã đến, thế đã có, mở rộng giao thương để đem của cải thiên hạ đến, chấn hưng phương pháp mới để làm hưng thịnh nguồn lợi trong nước. Tiến hành cả hai thì mọi cái hỗ trợ nhau, lợi ích sẽ ùn ùn đưa đến. Tôi tính toán cái thời hạn 20 năm chỉ một ngày có thể hy vọng được”.

Theo Nguyễn Trường Tộ, các năm 1871-1872 là thời gian các nước tư bản đang cạnh tranh gay gắt với nhau đặc biệt là tình hình nước Pháp sau thất bại trước Phổ. Vì vậy “nếu để thời cơ bối rối của họ đi qua thì còn làm gì được nữa, hiện nay hết sức khẩn cấp. Hãy đứng dậy nhảy xổ ra bắt tay thực hiện ngay! Thời đã đến rồi. Thời khó mà dễ mất. Chớ nên nói hãy để sang năm” (4).

Những suy đoán của Nguyễn Trường Tộ về tình hình nước Pháp những năm 1870-1871 không phải hoàn toàn không có cơ sở. Nhưng, theo chúng tôi, điều quan trọng hơn là cần tìm hiểu hai vấn đề sau:

Một là: Về mặt chủ quan, liệu cho đến những năm 60, 70 của thế kỷ XIX, triều đình Huế có còn khả năng xoay chuyển tình thế như thời vua Gia Long còn trị vì, hay ít ra là khoảng những năm cuối đời Minh Mạng, khi nhà vua bừng tỉnh về đường lối “đóng cửa” thất sách của mình? Về vấn đề này, chúng tôi đã nói qua ở phần trên, khi nhắc lại thực trạng xã hội Việt Nam trước và trong thời gian có những đề xuất canh tân, trong đó có những điều trần của Nguyễn Trường Tộ.

Hai là: Về mặt khách quan, liệu chính phủ Pháp, và thực dân Pháp nói riêng, có vì “tình hình bối rối” của họ trong các năm 1871-1872 mà đành bó tay nhìn vua quan triều Nguyễn xông ra “chớp thời cơ” để canh tân đất nước, một khi quyết tâm xâm chiếm toàn bộ nước ta của họ đã được xác định?

Như mọi người đều biết, sau khi hiệp ước 1862 được phê chuẩn, vua Tự Đức cử một phái bộ sang Pháp, xin vua Pháp (Napoléon III) cho chuộc lại 3 tỉnh miền Đông. Tháng 11-1863, vua Pháp hứa với phái bộ sẽ cử đại diện (Aubaret) sang Huế để sửa lại hiệp ước 1862.

Sau một tháng điều đình (từ giữa tháng 6 đến giữa tháng 7.1864), Aubaret và Phan Thanh Giản ký bản điều ước gồm 21 khoản: Pháp trả lại cho Tự Đức 3 tỉnh miền Đông nhưng vẫn làm chủ Sài Gòn, Thủ Dầu Một, Mỹ Tho; đồng thời triều đình Huế thừa nhận sự “bảo hộ” của Pháp trên lục tỉnh. Các điều khoản về thương mại, truyền giáo... vẫn giữ nguyên như hiệp ước 1862.

Về thực chất, “tạm ước” Aubaret - Phan Thanh Giản không có lợi hơn, thậm chí có hại hơn đốt với vận mệnh đất nước so với hiệp ước 1862. Thế nhưng ngay sau khi đề án tạm ước vừa đệ trình vua Pháp và Aubaret chưa kịp đến Huế, thực dân Pháp (ớ nước Pháp cũng như ở Nam kỳ) đứng đầu là Bộ trưởng Bộ Hải quân và Thuộc địa Chasseloup Laubat cực lực phản đối, yêu cầu vua Pháp ra lệnh đình chỉ việc triển khai đề án tạm ước Aubaret.

Sự phản đối này thể hiện rất quyết liệt qua 3 bức thư (viết khoáng cuối tháng 9 đầu tháng 10.1863) mà chúng tôi tìm thấy trong Kho lưu trữ quốc gia Pháp tại Paris. Tác giả 3 bức thư này là Rieunier - sĩ quan tham mưu ở Nam kỳ - gửi cho một nghị sĩ có thế lực ở Viện Lập pháp, đồng thời cũng là tác giá viết cuốn Vấn đề Nam kỳ xét theo quyền lợi người Pháp để kịp thời phân phát cho các chính khách thực dân Pháp, làm áp lực phản đối việc phái bộ Phan Thanh Giản xin chuộc đất.

Nội dung 3 bức thư nhấn mạnh yêu cầu chính phủ Pháp không giảm bớt hoặc triệu hồi sô quân viễn chinh ở Nam kỳ, liệt kê những thành tựu “khai hoá” của Pháp ở Nam kỳ trong 4 năm qua (1859-1863). Vấn đề cấp bách trước mắt - theo tác giả - là phải chiếm ngay toàn bộ Nam kỳ:

“Với những tài liệu gửi đến ngài trong bức thư trước, tôi hy vọng giúp ngài khẳng định tầm quan trọng và triển vọng đặc biệt của xứ Nam kỳ, một báu vật mà Thượng đế đã giao phó cho chúng ta, cũng là vùng đất mà nước Anh thực sự thèm khát nhưng không dám thú nhận. (…) Tại sao Chính phủ không nghĩ rằng cần phải có 3.000 hay 4.000 lính để thúc đẩy nhanh chóng việc chinh phục thuộc địa tuyệt vời này? Hiện ở Nam kỳ chúng ta chỉ có khoảng 1.800 - 2.000 lính. Và nếu chiến tranh lại nổ ra? Rồi người ta sẽ hối tiếc khi không còn thời cơ nữa” (Kho lưu trữ quốc gia Pháp - Fonds Berryer, 223AP-d2).

Cuối cùng, Napoléon III quyết định hủy bỏ tạm ước. Về phía triều đình Huế, vua Tự Đức cử Phan Thanh Giản làm Khâm sai đại thần ở 3 tỉnh miền Tây, tiếp tục thi hành lệnh giải giáp quân đội và nghiêm trị những người nổi loạn.

Trên thực tế, ngay trong tháng 1.1865, được lệnh không thi hành tạm ước, đô đốc De Lagrandière xúc tiến kế hoạch chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây. Tháng 10, 1866, y cử Vial ra Huế yêu cầu triều đình để cho Pháp cai trị luôn 3 tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Tháng 2.1867, một đai diện của De Lagrandière lại ra Huế đòi chiến phí hàng năm theo điều ước 1862 và nhấn mạnh yêu cầu giao quyền cho Pháp ở 3 tỉnh miền Tây. Triều đình Huế lúng túng, cuối cùng dành toàn quyền giải quyết vấn đề cho Phan Thanh Giản.

Nắm được tâm trạng vua Tự Đức và triều đình Huế, De Lagrandière triển khai kế hoạch đã dự tính và chỉ trong vòng 7 ngày (từ 18.6 đến 24.6.1867), quân Pháp chiếm luôn 3 tỉnh miền Tây không tốn một viên đạn. Bất lực trước tình thế, Phan Thanh Giản uống thuốc độc tự tử.

Thực ra, mưu đồ chiếm trọn Nam kỳ của thực dân Pháp để từ đó nuốt gọn toàn bộ nước ta không phải chỉ mới xuất hiện sau hiệp ước Nhâm Tuất (5.1862), mà là từ trước khi thực dân Pháp bắt đầu tấn ông Đà Nẵng năm 1858. Một số chính khách có mặt lúc bấy giờ ở Trung Hoa như De Courcy đã đề xuất việc cử một đạo quân viễn chinh sang Việt Nam, hoặc như Bourboulon nêu ý kiến: “Phải dứt hoạt và phải làm đến cùng” nhằm bước đầu chiếm cho được vài vị trí nào đó ở liệt Nam.

Nổi bật hơn cả là ý kiến của Huc, nguyên là một nhà truyền giáo tại Trung Hoa. Tháng 1.1857, Huc gửi lên vua Pháp một bản ghi nhớ với những đoạn như sau:

“(…) Cuộc cách mạng Pháp đã làm cho người ta quên xứ Nam kỳ... Vùng Viễn Đông chẳng bao lâu nữa sẽ là nơi diễn ra những biến cố nghiêm trọng. Nếu Hoàng đế muốn, nước Pháp sẽ đóng một vai trò quan trọng và vinh quang ở vùng này; ngày nay hoàn cảnh hoàn toàn thuận hơn trước cho việc chiếm Nam kỳ, để từ đó chúng ta có thể chiếm lấy lãnh thổ Việt Nam.

Chiếm lấy Việt Nam là việc làm dễ dàng nhất trên thế giới này và sẽ mang lại hiệu quả vô bờ bến. Tại biển Đông hiện lay, nước Pháp có quá dư lực lượng để làm công việc này.

Đất đai Nam kỳ cực kỳ màu mỡ, ngang hàng với những vùng đất chí tuyến giàu có nhất. Những sản phẩm chính có thể trao đổi, mua bán hiện nay của Nam kỳ là đường, gạo, gỗ làm nhà, ngà voi v.v… Sau nữa là vàng và bạc với những mỏ rất giàu đã được khai thác lâu nay.

Tóm lại, trong những điều kiện hiện nay, nước Pháp rất cần có một cơ sở giàu và mạnh ở Viễn Đông. Xét về tất cả mọi phương diện, Việt Nam là vị trí phù hợp với chúng ta nhất. Chúng ta có quyền chiếm lấy Việt Nam, mà đây lại là công việc dễ dàng nhất trong mọi công việc. Nước Pháp chẳng phải mất gì hết, có chăng chỉ là đánh mất những kết quả lớn lao cả về vinh quang lẫn của cải (Dẫn theo Taboulet - La geste francaise en indochine, tập I, tr.401-403).

Mưu đồ trước mắt và lâu dài của thực dân Pháp như vận là đã rõ. 3 tỉnh miền Đông rồi 3 tỉnh miền Tây kế tiếp nhau rơi vào tay Pháp, nhưng nhân dân Nam kỳ vẫn phất cao ngọn cờ kháng chiến, mặc dầu điều kiện không còn thuận như trước.

Tháng 1.1872, lợi dụng việc triều đình Huế nhờ quân đội Pháp dẹp giặc biển ở Bắc kỳ, Dupré cử trung tá hải quân Senez đem chiến hạm Bourayne ra Huế báo tin rồi tiến thẳng ra vịnh Bắc kỳ. 10 tháng sau, cũng dựa vào lý do trên, tướng D'Arbaud (tạm thay Dupré nghỉ phép) lại đưa chiến hạm ra Bắc kỳ, tiến sâu vào nội địa, tìm đường lên Hà Nội. Tuy bị các quan địa phương phản đối, viên sĩ quan Pháp vẫn lên bộ quan sát Hà Nội và các triền sông phụ cận rồi đệ trình một kế hoạch đánh chiếm Bắc kỳ. Tháng 5.1873 Dupré báo cáo về Pháp: “Việc đánh chiếm Bắc kỳ là vấn đề sinh tử cho tương lai thống trị của chúng ta ở Viễn Đông” (J.Chesneaux dẫn trong Contribution à I’histoire de la nation vietnamienne, tr. 122).

Trong việc xâm lược Bắc kỳ, thực dân Pháp ở Sài Gòn liên kết hành động với Jean Dupuis, một lái buôn Pháp đang kinh doanh ở Trung Hoa. Từ năm 1867, Dupuis dựa vào thế lực của quan nhà Thanh ở Vân Nam cùng thực dân Pháp ở Sài Gòn bàn tính kế hoạch xâm nhập Bắc kỳ qua ngả sông Hồng.

Tháng 7.1873, Thống đốc Nam Kỳ Dupré điện về Pháp: “Bắc kỳ đã được khai phóng do thắng lợi của Dupuis, tạo hiệu quả sâu rộng trong nền thương mại... Chiếm Bắc kỳ là tuyệt đối cần thiết để bảo đảm cho nước Pháp con đường thông thương duy nhất này. Tôi không cần viện binh gì hết, tôi giải quyết bằng cách của tôi. Bảo đảm thắng lợi” (B.S.E.l. 2è sem. 1947 - J.Chesneaux dẫn, sách đã dẫn, tr. 122).

Giữa lúc đó, triều đình Huế cử một phái bộ vào Sài Gòn yêu cầu thực dân Pháp ngăn chặn những hành vi ngang ngược của Dupuis ở Bắc kỳ. Chớp cơ hội, ngày 11.10.1873, thiếu tá hải quân Francis Garnier được cử ra Hà Nội phối hợp với lực lượng của Dupuis, đột nhập thành Hà Nội, yêu cầu khai phóng sông Hồng.

Ngày 20.11.1873, thực dân Pháp tấn công thành Hà Nội; Tổng đốc Nguyễn Tri phương uất ức nhịn ăn mà chết. Quân triều đình tan vỡ. Quân Pháp thừa cơ chiếm các tỉnh thành Hưng Yên, Hải Dương, Ninh Bình, Nam Định chỉ trong 20 ngày.

Mấy tháng sau đó, triều đình Huế lại phải ký tiếp với thực dân Pháp hiệp ước Giáp Tuất (15.3.1874), chính thức thừa nhận Nam kỳ là thuộc địa của Pháp, người Pháp được quyền chi phối ngoại giao, nội trị trên phần đất còn lại của Việt Nam. Như vậy, việc thực dân Pháp thực sự đặt nền thống trị lên toàn cõi Việt Nam chỉ còn là vấn đề thời gian.

Trong bối cảnh xã hội Việt Nam những năm 60, 70 của thế kỷ XIX, về quyết tâm chiếm đoạt Việt Nam bằng bất kỳ giá nào của thực dân Pháp, triều đình nhà Nguyễn (cả vua lẫn quan) dù có phép thánh cũng không thể nào nghe theo lời thúc giục của Nguyễn Trường Tộ là phải chớp lấy “thời cơ” mà “nhảy xô ra” bắt tay thực hiện ngay những nội dung trong các điều trần của ông.

Trong thế yếu tột cùng như vậy của triều Nguyễn và trong điều kiện thực dân Pháp đã nắm chắc trong tay hai hiệp ước 1862 và 1874, những xét đoán của Nguyễn Trường Tộ về vấn đề “thời cơ” của các năm 1871 -1872 đáng được trân trọng về mặt tâm huyết, nhưng nghiêm túc mà nói thì đó là những xét đoán thiếu cơ sở thực tế, nếu không muốn nói là quá ảo tưởng, thậm chí có người còn cho đó là “câu chuyện hài hước”.

IV

Hơn một thế kỷ nay, người ta đã bàn nhiều về tính “khả thi” hay “bất khả thi” của những điều trần. Một số nhà nghiên cứu cũng ghi nhận các điều trần của Nguyễn Trường Tộ phản ánh tâm huyết của một trí thức có hiểu biết sâu rộng, thiết tha tìm cách giải nguy cho Việt Nam.

Có ý kiến nhận thấy những điều trần của ông không có gì xa vời, ảo tưởng mà phần lớn nằm trong tầm tay của nước ta lúc bấy giờ. Nhưng nhiệt tình và tài năng của ông đã bị bỏ qua chỉ vì “điều không may cho Nguyễn Trường Tộ chính là đã ở vào một thời đại với một ông vua nhu nhược, với những quan lại vô trách nhiệm, và một tầng lớp sĩ phu lỗi thời, lạc hậu”. (Trương Bá Cần - Sách đã dẫn, tr.100).

Lại có ý kiến cho rằng: mãi đến năm 1871, Nguyễn Trường Tộ mới đề xuất “sự thể hiện nay chỉ có hoà”. Nhưng từ 10 năm trước (1862), vua Tự Đức đã thử nghiệm một cuộc “nghị hoà” (hiệp ước Nhâm Tuất và kết quả là mất 3 tỉnh miền Đông, khiến cho thực dân Pháp tranh thủ “xin” nốt toàn bộ Nam kỳ lục tỉnh (1867). Nếu Nguyễn Trường Tộ còn sống cho đến năm 1874 thì triều đình Huế còn một cuộc “nghị hoà” ngoạn mục hơn với hiệp ước Giáp Tuất; và nếu ông còn sống lâu thêm cho đến các năm 1883, 1884 thì các cuộc “nghị hoà” mang tên Harmand và Patenôtre còn ly kỳ hơn nhiều. Đã vậy thì đâu phải triều đình Huế ngán ngại chuyện “hoà”, chẳng qua vì càng “hoà” thì càng mất đất, mất quyền, cuối cùng là mất hết!

Ý kiến này cũng cho rằng tầm cao trí tuệ của Nguyễn Trường Tộ thể hiện rõ nhất ở một số điều tiên đoán của ông, chẳng hạn như: “Họ đã đến là không chịu đi nữa”, “con giao long khi thấy đầm vực thì nghĩ cách đầm mình chứ không thể nào chịu bỏ mà đi”hoặc: “Hiện nay quân Pháp đã chỉnh cư thành Gia Định và các phủ huyện thuộc hạt, họ đào kinh đắp lũy thủ kế lâu dài để tỏ ra không chịu đi, như hổ đã về rừng, rồng đã xuống biển..., có đánh họ cũng không đi, hoà họ cũng không đi”. Nếu như hậu thế có quy phần nào trách nhiệm cho triều Nguyễn đã để mất nước vào tay thực dân Pháp thì đó là vì nhiều lý do khác, chứ đâu phải vì không vâng lời Nguyễn Trường Tộ nên để vuột mất “thời cơ”.

Nhắc lại ý kiến trên đây, chúng tôi sực nhớ câu nói của một nhà sử học bậc thầy với các học trò của mình: Tìm hiểu con người mà bỏ qua hoặc xem nhẹ vị thế của họ trong xã hội thì chẳng khác nào vớt một con cá đang bơi tung tăng dưới sông đem đặt lên mặt bàn để phân tích về đời sống của loài cá.

Vậy thì nên chăng vấn đề Nguyễn Trường Tộ và những điều trần của ông cần được giới nghiên cứu tiếp tục tìm hiểu thêm - dù có phải tốn thêm thời gian và giấy mực - để có những nhận thức sâu sắc hơn về vị thế của chính Nguyễn Trường Tộ trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam những năm 60, 70 của thế kỷ XIX?


(1) Trương Bá Cần - Nguyễn Trường Tộ - con người và di thảo - Nxb TPHCM, 1988.
(2) Nguyễn Trọng Văn - Quan điểm của Nguyễn Trường Tộ về con đường cứu nước ở Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX - Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 4 (396), 2009, tr.32-35.
(3) Dẫn theo Trương Bá Cần - sđd, các tr.107-112.
(4) Dẫn theo Nguyễn Trọng Văn - tạp chí đã dẫn, tr.35.

Nguồn:
FacebookTwitterLinkedInPinterestCập nhật lúc:

Nội dung liên quan

  • Tư tưởng canh tân sáng tạo nền văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX của chí sĩ Phan Châu Trinh

    26/09/2014Đỗ Hòa HớiVới sự nghiệp đổi mới, vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa và hiện đại hóa văn hóa dân tộc đang thu hút sự quan tâm của nhiều người. Qua tìm hiểu chí sĩ Phan Châu Trinh, chúng tôi thấy ông là một tấm gương mạnh dạn canh tân và sáng tạo nền văn hóa dân tộc vào thời điểm đầu thế kỷ XX.
  • Tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ về dân sinh và xây dựng xã hội hài hòa

    24/06/2009Lê Thị LanTrong bài viết này, tác giả đã góp phần làm rõ hơn thêm những nội dung cơ bản trong các tư tưởng quan trọng của Nguyễn Trường Tộ về dân sinh và xây dựng xã hội hài hòa. Điều đáng chú ý ở Nguyễn Trường Tộ là, ông không những đưa ra những nội dung cụ thể, rõ ràng về dân sinh mà những tư tưởng sâu sắc về xã hội hài hòa cũng như phương pháp để thực hiện xã hội lý tưởng. Theo tác giả, tư tưởng về dân sinh và xã hội của Nguyễn Trường Tộ đầy sức sống, có giá trị gợi mở đối với việc xây dựng một đường lối phát triển kinh tế- xã hội phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể của nước ta hiện nay.
  • Nguyễn Trường Tộ - Một nhà tư tưởng lớn của Việt Nam trong thế kỷ XIX

    15/12/2008Phạm Huy ThôngNguyễn Trường Tộ không chỉ là một nhà cải cách nổi trếng, một người Công giáo yêu nước tha thiết, mà còn là một nhà tư tưởng lớn của Việt Nam trong thế kỷ XIX. Đó cũng chính là những nội dung mà bài viết này đề cập. Mặc dù bị hạn chế bởi thế giới quan duy tâm tôn giáo, nhưng Nguyễn Trường Tộ đã có những tư tưởng triết học độc sắc về nhân sinh, xã hội... so với các nhà tư tưởng Việt Nam cùng thời...
  • Con người văn hóa trong tư tưởng của một số doanh nhân dân tộc

    01/01/1900Nguyễn Bình YênSo với một số nước có nền văn minh phát triển sớm như TrungQuốc, Ấn Độ và một số nước TâyÂu thì Việt Nam không có những học thuyết tư tưởng lớn có vai trò chi phối sự phát triển xã hội như Nho gia, Đạo gia...
  • Tư tưởng chính trị của Nguyễn Trường Tộ lạc hậu hay đổi mới

    13/12/2006Lê Thị LanĐến nay, đa số các nhà nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam cho rằng tư tưởng của các nhà canh tân ở Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX là bảo thủ về mặt chính trị, nhất là tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ và họ thường không dành nhiều sự chú ý tới vấn đề này...
  • Phương pháp nghiên cứu của Nguyễn Trường Tộ

    15/11/2005Nguyễn Trọng VănCả cuộc đời của Nguyễn Trường Tộ là một sự nỗ lực học hỏi và tìm tòi. Phương pháp nghiên cứu của ông là "quan sát thế giới”, “chịu khó nghiên cứu cho sâu, học cho hết” rồi "đem những điều đã đọc được trong sách nghiệm ra việc đời".
  • Nguyễn Trường Tộ nhà cải cách không gặp thời

    27/10/2005Nguyên PhướcNguyễn Trường Tộ là ai? Đó là một nhân vật lịch sử nổi bật với tinh thần cách tân đất nước mà cho đến ngày nay, tư tưởng của ông vẫn còn mang giá trị thời cuộc...
  • xem toàn bộ