Văn hóa Việt Nam qua hai lần “Âu hóa”

06:13 CH @ Thứ Ba - 26 Tháng Năm, 2015

Về đại thể, văn hoá cận - hiện đại nước ta có hai lần bị/ được “Âu hóa”: Lần thứ nhất, là do người Pháp mang đến.

Lần thứ hai, là do người Mỹ, theo bước người Pháp, rồi kéo dài một mạch cho tới “Thế giới phẳng” bây giờ, với In-tơ-nét, cáp thông tin xuyên đại dương, vệ tinh định vị toàn cầu, WTO... và không biết bao nhiêu cuộc chiến cũng như các “hiệp định”, “hợp đồng” khác. Họa sĩ - nhà Nghệ thuật học Nguyễn Quân, viết về cái “Lần thứ nhất” ấy rất hay: “Sau khi tàu chiến Pháp nổ súng vào Đà Nẵng, rồi Hà thành thất thủ và Cần Vương thất bại, là những thập niên đầu của thế kỷ 20, hội nhập (Âu hóa?) trót lọt và thành công. Văn hóa Pháp - Tây phương tạo ra hầu hết các truyền thống văn hoá cận đại của đất nước”.

Quả vậy! Có lẽ nên tạm gọi đó là giai đoạn thứ nhất của “Văn hóa quốc ngữ”. Những cái mà Nguyễn Quân gọi là “hầu hết các truyền thống văn hoá cận đại” ấy mang phong cách Pháp - Tây phương rất rõ nét, từ Văn chương (Hồ Biểu Chánh - Hoàng Ngọc Phách, Thơ mới...), Kiến trúc - xây dựng (Nhà hát Lớn Hà Nội, các “Nhà hát bé” ở Sài Gòn, Hải Phòng; các nhà thờ Thiên chúa giáo ở khắp nơi, Cầu thép kiểu ép-phen như Long Biên, Phố cũ...), Giao thông (Đường sắt, cảng biển, sân bay, đường bộ), Khai mỏ..., cho tới Mỹ thuật Đông Dương, Tân nhạc, đờn ca tài tử, xe đạp, xe xích - lô, xà - phòng ... Cùng với đó, tất nhiên là là lối nghĩ, lối sống.

Tuy là “trót lọt” và “thành công” như vậy, nhưng chúng cũng hầu như đều đã được “thu nhỏ” lại, để thành ra “Văn hóa thuộc địa”, “Văn hóa ngoại biên”, là “tỉnh lẻ”, so với chính quốc (giống như các thiết chế nhà nước và tam giáo Trung Hoa vào Việt Nam trước đó vậy).

Lúc đầu, sự “Âu hóa” ấy cũng mâu thuẫn với văn hoá truyền thống và gây ra những phản ứng từ những đầu óc “dân tộc” (Thôi có làm chi cái chữ nho - Ông nghè ông cống cũng nằm co - Chi bằng đi học làm thày phán - Tối rượu sâm banh, sáng sữa bò...), nhưng rồi việc ấy cũng qua đi, rồi cũng hòa nhập được - áo dài khăn xếp có thể ngồi cùng mâm với com-lê, giày tây cả một thế kỷ.

Đặc điểm của thời kỳ này là, “tinh hoa” - trí thức Việt - đi trước đại chúng rất xa: Trí thức “tây học” thì qua tiếng Pháp, trí thức Hán học cũ (các nhà nho thức thời) thì qua Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu... mà tiếp thụ / thỏa thuận với “tinh hoa” Âu Tây, tiếp thụ / thỏa thuận với những Rút-xô (Lư Thoa), Mông-tét-ski-ơ (Mạnh Đức Tư Cưu)..., tức là Âu hóa từ tư tưởng và trước hết từ tư tưởng, của Thế kỷ ánh sáng, để mãi dần về sau mới Âu hóa lối sống. 95% dân số mù chữ còn lại, không làm được việc ấy.

Sau khi “tinh hoa” - trí thức Việt - tiếp thụ / thỏa thuận với văn hoá - văn minh Âu Tây và “sàng lọc” trước, họ mới “dạy” lại cho dân chúng, mà những người theo học đầu tiên, là tầng lớp học sinh (tiểu tư sản) thành thị, sau rồi lan về nông thôn, một cách chậm chạp, từ từ, theo các phương tiện thông tin nghèo nàn và lạc hậu lúc bấy giờ.

Đó là một quá trình tiếp cận - tiếp thu - sàng lọc - phổ biến văn hoá Âu Tây, từ trên xuống. Nó chậm nhưng “sạch” hơn, so với lần Âu hóa - hội nhập lần thứ hai.

Lần thứ hai, quá trình Âu hóa - Hội nhập đi từ dưới lên. Đa số, tuyệt đại đa số dân ta, đã không còn mù chữ nữa. Họ không cần “đánh dây thép”, thuê viết và gửi thư tay, nghe diễn thuyết hay nghe “tiểu thuyết ba xu” qua các cô “hàng xén răng đen” nữa. “Thế giới phẳng”, WTO... mang đến cho mọi người tất cả, chứ không chỉ và trước hết, đem đến những ông Lư Thoa, Mạnh Đức Tư Cưu (mới). Thế là, trừ trí thức bậc cao, dân Việt thạo đồ ăn Mắc đô-nan, nội y Trai-ầm, thời trang ý - Pháp - Hàn, Pốp, Rốc, Híp-hốp, Gu-gờ, tình dục tự do, bồn cầu thông minh... trước khi biết (hoặc không cần biết) đến những thứ tư tưởng Đông - Tây “gì đó” phức tạp!

Tức là, về căn bản, đại chúng đã “làm xong” lối sống “hiện đại” của mình, trước khi có thể ý thức về nó một cách đầy đủ, gốc rễ; trước khi có khả năng chọn lựa, sàng lọc.

Quá trình này là không thể kiểm soát hoặc nói nhẹ đi, là khó kiểm soát, không những ở ta mà còn ở bất kỳ một nước “đang phát triển” hoặc “mới phát triển” bây giờ, kể cả Tàu. Và, văn hoá Việt, trước hết là lối sống Việt, vừa năng động lên gấp bội vừa nhộn nhạo và thực dụng lên gấp bội. Nguyễn Quân viết: “Đồ vật tiêu dùng áp đặt các giá trị văn hoá đại chúng ở mọi thị trường... Vì chúng là “văn hoá” dễ nhất: dễ hiểu, dễ thích, dễ dùng... Thậm chí, các khái niệm “tinh hoa”, “ưu tú”, “bác học”, “đỉnh cao” bị đánh đồng với “sành điệu”, “đẳng cấp”, “thông minh”... Và vì thế, “các nỗ lực hội nhập, những gì là “tinh hoa” (thật), không thể tồn tại nếu không tự bào mỏng, tự làm nông cạn mình, tự hạ thấp độ đẹp, độ khó, (để) biến mình thành hàng hoá, (cho dễ) trà trộn vào tiêu dùng bình dân.”!

Thế là, đại chúng thì thụ động, “tinh hoa” thì tự hạ cấp! Cả hai đầu xã hội ta đều “có vấn đề”.

Đặc biệt, nếu nạn tham nhũng trở thành quốc nạn, nếu quan chức - chính quyền trở nên xa dân, nếu y tế và giáo dục chệch hướng và bê bối, nếu phần lớn chương trình ti - vi với cả trăm kênh - 24/24 - chỉ là đất diễn của các DJ, MC học trò và các “sao trẻ” mà giọng hát “chỉ cỡ ka-ra-ô-kê” còn các mạng xã hội thì đầy từ tục tĩu và chuyện “cởi đồ”, nếu mà ngay cả luận văn văn học còn giống như bài “Giải phẫu học dung tục”..., thì tốc độ “tầm thường hóa”, “dung tục hóa” văn hoá theo những tiêu chuẩn thấp, trong thời đại công nghệ thông tin, càng đẩy nhanh văn hoá truyền thống vào “bảo tàng”!

Và, văn hoá đương đại, vốn không được và không thể “sàng lọc” từ đầu như ở lần Âu hóa thứ nhất, càng nhanh chóng biến thành “Văn hoá thuộc địa” (mới), “Văn hóa ngoại biên” (mới), “Văn hóa tỉnh lẻ” (mới) và biến ta thành “Thuộc địa văn hoá” đương thời của những nền văn hoá bên ngoài.

Và như thế, hóa ra là, ta đấu tranh giải phóng mãi để không bị nô dịch về chính trị - hành chính, thì chúng ta lại “tự nguyện” để mình bị nô dịch về văn hoá, làm hổ danh tổ tiên mấy nghìn năm “duy hữu độc thư cao”!

Giai đoạn hai này của “Văn hóa quốc ngữ” là rất cần được sớm nghiên cứu để chỉ rõ ưu - nhược của nó và tìm ra giải pháp thay đổi.

Nguồn:
Cập nhật lúc:

Nội dung liên quan

  • Giới trí thức tinh hoa trong lịch sử Việt Nam

    14/10/2018Trần Ngọc VươngChúng tôi muốn góp bàn về việc nhận diện thực trạng của giới tinh hoa trong lịch sử Việt Nam và những đặc điểm của giới đó có thể trở thành chướng ngại mà chúng ta cần khắc phục trong việc hướng tới hình thành giới tinh hoa mới trong công cuộc xây dựng đất nước hiện nay...
  • Vài nét về vai trò của trí thức - quan điểm từ châu Âu

    03/06/2016Trần Phương HoaLịch sử văn hóa văn minh châu Âu là lịch sử của những dòng chảy tư tưởng mà các chủ thể đã tạo ra các dòng chảy đó chính là những người có thể được gọi theo nhiều cách theo nghề nghiệp của họ - nhà khoa học, triết gia, nghệ sĩ, giáo viên, nhà báo v.v...và chung nhất với tên gọi còn nhiều tranh cãi „trí thức”. Một vài nét sơ lược về những đóng góp, vai trò và sứ mệnh của họ đối với xã hội châu Âu nói chung và văn hóa tư tưởng châu Âu nói riêng...
  • Xã hội và văn hóa trí thức Việt Nam (Kỳ 1)

    28/08/2011TS. Trịnh Văn ThảoĐã đến lúc phải thực nghiệm thực tiễn lẫn trí thức của ba thế hệ xã hội trước thử thách lịch sử, tìm hiểu phương thức dấn thân, hình thức đấu tranh, giá trị tinh thần, ý thức hệ của từng thế hệ và xuyên qua các giai đoạn tiếp nối nhau trong thế kỷ Pháp – Việt, nhận chân và giải lý những khác biệt, mâu thuẫn, tranh chấp và xung đột giữa người Việt Nam qua khái niệm văn hoá trí thức...
  • Cách mạng Tháng Tám: Khi trí thức dấn thân

    18/08/2011Đoan TrangCho đến nay, nhiều tài liệu lịch sử đã khẳng định liên minh công - nông - trí là nền tảng sức mạnh của cách mạng Việt Nam. Nhưng nói như vậy có lẽ chưa đủ để xác nhận vai trò to lớn của lực lượng trí thức Việt Nam, đại diện cho trí tuệ và tinh thần dân tộc của nhân dân trong các cuộc đấu tranh giành độc lập.
  • Đã là trí thức thật thì ai cũng dấn thân

    25/06/2011Kim YếnLà phó chủ nhiệm uỷ ban Văn hoá, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội, hình ảnh của ông gắn liền với không khí nghị trường nóng bỏng. “Ông nghị phản biện nhiều nhất” là cái tên mà nhiều người đã yêu quý gọi ông...

Nội dung khác