Trên cơ sở làm rõ tự do và trách nhiệm với tư cách những phạm trù đạo đức cơ bản trong triết học hiện sinh qua việc làm rõ quan niệm của các nhà triết học hiện sinh tiêu biểu (E.Husserl, M.Heidegger, K.Jaspers, J.P.Sartre and A.Camus) về những phạm trù này, tác giả bài biết bước đầu đưa ra những ý kiến đánh giá để đóng góp của triết học hiện sinh trong lĩnh vực đạo đức học.
Triết học hiện sinh không chỉ là một trào lưu triết học lớn của triết học phương Tây hiện đại, mà còn là trào lưu triết học phát triển nhất vào những năm 50 - 60 của thế kỷ XX. Có thể kể ra hơn 200 nhà triết học hiện sinh kiệt xuất, nhưng có một thực tế là, từ trước cho tới nay, triết học hiện sinh chỉ chủ yếu được khảo cứu từ góc độ bản thể luận, nhận thức luận, triết học chính trị. Song, với tư cách một thế giới quan và đặc biệt, với tư cách một nhân sinh quan, vì chủ nghĩa hiện sinh đã trở thành một bộ phận quan trọng của văn hoá sinh tồn của tâm tính con người phương Tây, nên không thể bỏ qua nội dung đạo đức học của nó. Vấn đề này lại càng trở nên đặc biệt cấp bách trong bối cảnh hiện nay, khi loài người đang đối mặt với vô số nguy cơ đe doạ bản thân sự tồn tại của họ, khi những người có lương tâm đang cùng nhau đi tìm một thứ đạo đức thực sự nhân văn, có khả năng đảm bảo sự phát triển thực sự có tính người của mỗi người và của toàn thể cộng đồng nhân loại. Nói cách khác, nhân loại tự do đang đứng trước trách nhiệm về tương lai của mình, tức là về các thế hệ tương lai.
Triết học hiện sinh có một cái nhìn độc đáo và mang tính cấp bách về vấn đề này. Chính vì vậy, chúng tôi đặt ra cho mình nhiệm vụ tìm hiểu nội dung đạo đức học của triết học hiện sinh nhằm làm rõ đóng góp của nó trong một lĩnh vực chưa có được sự quan tâm thỏa đáng này. Để hiểu rõ vấn đề tự do và trách nhiệm với tư cách nội dung cơ bản của đạo đức học hiện sinh, trước hết cần phải nắm bắt được những luận điểm cơ bản của triết học hiện sinh. Cần lưu ý rằng, việc tách biệt nội dung đạo đức học trong quan điểm hiện tượng học của Husserl và triết học sinh tồn của Heidegger là rất khó. Thí dụ, chúng ta cần phải chứng minh rằng, hiện tượng học không những là lý luận nhận thức, mà còn bao hàm cả nội dung đạo đức học, còn triết học sinh tồn thì không thể quy giản một cách hoàn toàn về bản thể luận, bởi nó còn bao hàm cả bộ phận đạo đức học. Vấn đề này lại thể hiện ra một cách hoàn toàn khác trong triết học hiện sinh. Nội dung đạo đức học của triết học này luôn bộc lộ ra một cách hết sức rõ ràng và do vậy, khi đề cập đến những luận điểm cơ bản của nó, chúng ta không thể không nhận thấy sắc thái đạo đức học trong các luận điểm ấy.
Luận điểm đầu tiên của triết học hiện sinh là: hiện sinh - hư vô - tự do lựa chọn trong các tình huống cụ thể (hay đơn giản là tự do). Nếu bản chất (với tư cách đối cực của sự hiện sinh) và một vật nào đó (với tư cách đối cực của hư vô) tồn tại trước tự do, thì cần phải luận chứng cho tự do với tư cách cái có ý nghĩa thứ sinh, chứ không phải phát sinh. Với tư cách một dự phóng triết học, triết học hiện sinh kiên định tính thứ nhất của tự do. Mọi sự kiện kinh nghiệm dường như đều đưa chúng ta đến với dự phóng này. Không phải ngẫu nhiên mà, như K.Jaspers (1883 -1969) nhận xét, trong mọi khát vọng trái ngược nhau của thời hiện đại dường như luôn có một yêu cầu chung của mọi người. Mọi dân tộc, mọi người, đại diện của mọi chế độ chính trị đều đồng tâm đòi hỏi tự do. Tự do ở đây là một khái niệm triết học. "Toàn bộ hoạt động của con người, trước hết là hoạt động tinh thần, đều được thể hiện ở việc phát hiện ra con đường của mình trong những khả năng đã được mở ra cho con người. Những gì diễn ra trong hiện thực đều phụ thuộc vào con người, vào mỗi người, cho dù một người riêng biệt không định trước được tiến trình phát triển của lịch sử". Nói cách khác, khi tự trói buộc bản thân vào một lực lượng nào đó, con người vẫn hành động một cách tự do. Điều này có nghĩa là, cần phải coi tự do là cái mang ý nghĩa quyết định trong mọi suy tư triết học. Các hiện sinh thể khác, kể cả hư vô lẫn sự hiện sinh, đều không thể tồn tại trước hiện sinh thể "tự do". Các thuật ngữ "tự do", "hư vô" và "hiện sinh" chăng qua chỉ là những sự sao chép lại nhau (transcriptio), còn trên thực tế, là một hiện sinh thể được mô tả dưới những biến thể khác nhau. Tự do không phải là một cái gì đó và do vậy, nó là hư vô. Tự do không phải là bản chất, tức nó thể hiện ra là sự hiện sinh. Tự do (tự do lựa chọn trong các tình huống cụ thể), hiện sinh và hư vô đồng nhất với nhau.
Suy tư triết học theo lối hiện sinh thể hiện ở chỗ, xuất phát từ hiện sinh thể "tự do", có thể làm sáng tỏ nội dung của mọi phạm trù đạo đức học: thiện và ác, lương tâm và danh dự, công bằng và lạc quan. Tất cả những gì có nội dung đạo đức đều được đặt dưới ánh sáng phê phán của tự do. Một khi quy trình này làm thất vọng các nhà hiện sinh thì nhất định, họ sẽ từ bỏ định hướng của mình khi vẫn còn tin vào tính xác thực của chính định hướng ấy. Việc từ bỏ quan niệm về hiện sinh thể "tự do" với tư cách luận điểm cơ bản của triết học được coi là cái có thể dẫn tới những hệ quả tai hại nhất đối với con người, vì khi đó, con người buộc phải từ bỏ các định hướng xác định và rốt cuộc, bị xa vào sự khống chế của những dự án tai hại đối với nó.
Thế nhưng, nếu tự do được coi là nguyên tắc cơ bản của tồn tại người, là cái phân biệt con người với mọi cái tự nhiên, thì vấn đề xác định thái độ của con người đối với nguyên tắc ấy tất yếu sẽ nảy sinh. K.Jaspers đã viết: "Tự do là tài sản quý giá nhất, nó không bao giờ tự đến và không được giữ lại một cách tự động. Con người chỉ có thể giữ gìn tự do ở nơi mà nó được ý thức và con người cảm nhận thấy phải có trách nhiệm về nó". Vấn đề trách nhiệm đối với tự do đã xuất hiện như vậy. Đối với các nhà hiện sinh tiêu biểu, như K.Jaspers và J.P.Sartre (1905 - 1980), vấn đề trách nhiệm đối với tự do được coi là một trong những vấn đề "thầm kín" nhất.
Ở đây, cần phải phân biệt rõ trách nhiệm với tư cách một khái niệm triết học với trách nhiệm với tư cách khái niệm luật học. Các nhà hiện sinh lên tiếng chống lại truyền thống khẳng định con người phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình trước một cấp bậc nào đó xa lạ đối với nó (Chúa, luật pháp, xã hội, đạo đức xa lạ…). Phản ứng đầu tiên chống lại truyền thống ấy là con người phải chịu trách nhiệm về bản thân mình, và chỉ có vậy mà thôi. Nhà tư tưởng, nhà văn hiện thực Nga - Ph.M.Đôxtôiépxki (1821 - 1881) đã có lý khi cho rằng, "nếu Thượng đế không tồn tại, mọi sự đều có thể". Bình luận lời nói đó A.Camus (1913 - 1960) đã khẳng định hệ quả của mọi hành vi đều có giá trị như nhau và do vậy, mỗi người chỉ chịu trách nhiệm theo nghĩa nó sẵn sàng trả giá cho những hệ quả của hành vi của mình.
Xét từ góc độ những "pháp điển" cơ bản của triết học hiện sinh, tư tưởng của A.Camus là khá tầm thường. Triết học hiện sinh không phải là những suy tư triết học của một người riêng biệt với tất cả những biểu hiện sinh hoạt phong phú của người ấy, mà là suy tư triết học của tự do. Điều này có nghĩa là, không bao giờ được đánh tráo vấn đề trách nhiệm đối với tự do bằng vấn đề trách nhiệm pháp lý của cá nhân cụ thể. Trước khi quan tâm đến trách nhiệm pháp lý thì cần phải làm sáng tỏ khái niệm triết học về trách nhiệm. Theo quan điểm triết học hiện sinh, trách nhiệm là sự phản ứng đối với hiện tượng "tự do", chứ hoàn toàn không phải là sự phản ứng đối với yêu cầu của cảnh sát.
Theo triết học hiện sinh chính thống, "mọi sự đều có thể" hoàn toàn không có nghĩa là mọi hành vi của con người đều có giá trị như nhau. Hành vi mở rộng những khả năng của con người có giá trị lớn hơn hành vi bóp chết tự do. Trong những năm tháng chiến tranh, các nhà hiện sinh, kể cả A.Camus với tư cách Tổng biên tập một tờ báo bí mật, đã đấu tranh chống lại chủ nghĩa phát xít, vì nó không tương dung với tự do theo quan niệm triết học, cũng như theo quan niệm luật học. Người ta thường khẳng định triết học hiện sinh luôn tuân theo mọi sự tự do lựa chọn, bất kể đó là sự lựa chọn nào. Lời khẳng định như vậy mâu thuẫn với các luận điểm cơ bản của triết học hiện sinh. Luận điểm: "Con người có quyền tự do lựa chọn hành vi thủ tiêu, cũng như hành vi bảo vệ tự do" cho thấy việc thừa nhận quyền tự do lựa chọn là cái thủ tiêu tự do, nhưng điều này cũng lại có nghĩa là từ bỏ luận điểm về tự do. Nếu vậy, toàn bộ hệ thống quan điểm của triết học hiện sinh sẽ bị sụp đổ và để bảo vệ nó, cần hợp nhất luận điểm về tự do lựa chọn với việc thừa nhận tự do là quan trọng nhất. Nhà hiện sinh không nói: "Hãy lựa chọn", mà nói: "Hãy lựa chọn tự do". Chính nhờ việc kiên trì truyền bá luận điểm này mà triết học hiện sinh đã phát triển hệ vấn đề giá trị luận.
Như vậy, có thể nói, đối với triết học hiện sinh, tự do và trách nhiệm (đối với tự do) là hai hiện sinh thể quan trọng nhất. Trách nhiệm không phải là sự sao chép lại tự do, mà là luận điểm cơ bản thứ hai của triết học hiện sinh. Theo triết học hiện sinh, bất kỳ người nào, từ cụ già tốt bụng đến kẻ côn đồ, đều tự do, đều "có thiên sứ trở thành người tự do". Triết học sinh bị buộc tội là truyền bá chủ nghĩa cá nhân, theo chúng tôi, đây là một việc làm hoàn toàn uổng công. Trên thực tế, tự do là cái vốn có của mỗi người, hoàn toàn không nhất thiết phải được "cấy ghép" vào mỗi cá nhân riêng biệt để rồi qua đó, cá nhân này bỗng dưng lại bị cô lập khỏi những người khác. Lên tiếng chống lại chủ nghĩa cá nhân, J.P.Sartre đã đưa ra lập luận: "Khi nói con người tự lựa chọn bản thân mình, chúng tôi hàm ý nói rằng, mỗi người trong chúng ta đều lựa chọn bản thân mình. Nhưng qua đó, chúng tôi cũng muốn nói rằng, khi lựa chọn bản thân mình, chúng ta lựa chọn tất cả mọi người". Với nghĩa đó, mỗi người đều phải chịu trách nhiệm về mọi người, đều phải lựa chọn "con người nói chung", lựa chọn "mô hình con người". Theo chúng tôi, điều quan trọng là, khi tiến hành sự lựa chọn của mình, con người không hành động một cách mù quáng, mà tuân thủ kết quả triết lý của mình. Con người lựa chọn hình ảnh không những của bản thân mình, mà còn của những người khác nhờ chính kết quả triết lý đó. Với quan niệm này, nhà hiện sinh đã cố né tránh kết luận về sự hiện sinh không những của ông ta, mà của cả những người khác, song rốt cuộc, cũng vẫn phải thừa nhận kết luận ấy. Bởi lẽ, triết học hiện sinh không phải là sự suy tư triết học của những kẻ cô đơn và hơn nữa, lại càng không phải là sự suy tư của một người riêng biệt nào đó, mà là sự suy tư của những cá nhân đang giao tiếp với nhau. Theo nghĩa đó, K.Jaspers đã đưa ra luận điểm: "Tự do cần đến sự giao tiếp, giao tiếp quan trọng hơn sự tiếp xúc giản đơn, sự thoả thuận, mối thiện cảm, lợi ích và sở thích chung. Tự do và sự giao tiếp là những cái không thể chứng minh được". Khẳng định tính không thể chứng minh được của tự do và của sự giao tiếp, K.Jaspers cho rằng, tự do và sự giao tiếp là kết quả của sự triết lý, chứ không phải là kết quả của sự khái quát giản đơn những dữ liệu kinh nghiệm. Rằng, không chỉ tự do, mà cả sự giao tiếp đều là các hiện sinh thể. Với luận điểm này, J.P.Sa tre cũng đã lên tiếng chống lại chủ nghĩa duy ngã, khi cho rằng, "tồn tại cho nó bắt nguồn từ tồn tại cho tha nhân".
Nguồn:
Tạp chí Triết học Số lượt đọc:
883
-
Cập nhật lần cuối:
29/04/2008 08:56:26 AM |  |
Thông tin liên quan: Kinh tế thị trường và trách nhiệm xã hội23/07/2008 08:24' AM Ý thức về trách nhiệm xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường hiện đại giúp cho người ta thấy rằng, thị trường thế giới rộng lớn, đầy tiềm năng trên phạm vi toàn cầu là môi trường vô cùng thuận lợi để tìm kiếm lợi nhuận không chỉ cho riêng mình, mà còn cho cả quê hương, đất nước và cho sự phát triển, sự tiến bộ chung của xã hội. Tự do và trách nhiệm trong hoạt động của con người01/07/2008 05:38' PM Tự do và trách nhiệm chính là những biểu hiện sức mạnh bản chất của con người. Tự do và trách nhiệm hình thành và phát triển trong tiến trình lịch sử của nhân loại cũng như của các cộng đông người và là mục tiêu, động lực của sự phát triển xã hội và con người. Trách nhiệm18/06/2008 06:43' PM Chưa có bao giờ chữ ‘trách nhiệm’ được nhắc nhiều như bây giờ và cũng chưa bao giờ xã hội cần đến tinh thần đó như hiện nay. Tưởng như là nghịch lý, nhưng chỉ cần lướt qua những vụ việc xảy ra hàng ngày và chỉ trên phương tiện thông báo chí thôi, ai cũng có thể thấy được điều đó... Vì một số phận chung11/05/2008 07:59' AM Chúng ta đang ở giữa một thời khắc quan trọng trong lịch sử Trái đất, khi mà loài người phải lựa chọn một tương lai cho chính mình. Khi thế giới ngày càng trở nên mỏng manh và phụ thuộc lẫn nhau, tương lai phía trước có cả những triển vọng và hiểm họa to lớn. Tự do sinh ra con người21/04/2007 08:56' PM Khái niệm tự do gắn với khái niệm con người. Trong suốt chiều dài lịch sử của nhân loại, hai khái niệm này tạo thành một mối quan hệ cực kỳ mật thiết, quan hệ biện chứng và phát triển. Thế nhưng không chỉ khái niệm tự do mà khái niệm con người từ trước đến nay vẫn chưa được nhận thức một cách đầy đủ và chưa được hiểu một cách nhất quán. Luật thừa trừ18/08/2008 08:37' AM Đạo và việc người xưa nay hơn về phía này, tất kém về phía kia - Đó là luật thừa trừ tức là san sẻ cho đều. Tạo hóa sinh ra con người và mọi vật hình như ít khi tạo ra hình mẫu vẹn loàn. Đến cây hoa cũng chịu chung luật đó... Thử bàn chuyện sướng, khổ11/08/2008 08:26' AM Người ta, ai chẳng mong cuộc sống bớt nghèo khổ, mong được sung sướng hơn. Có gì mà phải bàn với luận. Vậy mà có người không muốn sướng, chỉ muốn khổ, có lạ không? Có thể bạn không tin, nhưng xin hãy nghe: người ấy chính là tôi! Một cách tiêu đẹp31/07/2008 08:17' AM Khi xã hội đã bắt đầu giàu có, một vấn đề bức thiết cần được đặt ra là xây dựng một cách tiêu tiền đẹp hay là xây dựng một nền văn hóa tiêu tiền cho những doanh nhân... Thế thái nhân tình30/07/2008 01:40' PM Bữa tiệc đã bắt đầu, nhưng họ vẫn chưa tới. Nói chung họ không bao giờ đến đúng giờ, vì họ bận và còn vì họ quan trọng. Chủ tiệc đã mấy lần gọi điện thoại, họ đều trả lời sắp đến, sắp đến và cuối cùng thì họ cũng đến. Trông xuống, trông lên…28/07/2008 08:06' AM Không biết từ bao giờ câu nói cửa miệng: " Trông lên thì chẳng bằng ai, trông xuống thì cũng chẳng ai bằng mình” được nhiều người nhắc đến như một niềm an ủi khi người ta cảm thấy mình còn thua kém một ai đó về tài sản, về đường làm ăn... Mối quan hệ giữa sở hữu tư và tha hóa25/07/2008 08:06' AM C.Mác đã không chỉ dùng khái niệm tha hoá để giải thích về sự đối tượng hoá (sự vật hoá) bản chất con người, mà còn dùng nó để chỉ rõ các quan hệ kinh tế tư bản chủ nghĩa cũng như vạch trần sự bóc lột trong xã hội tư bản chủ nghĩa. Song, C. Mác vẫn chưa có sự phân biệt rõ hai phương thức biểu thị khác nhau của sự đối tượng hoá bản chất chủ thể, đó là: sự tha hoá nội sinh (dị hoá) và tha hoá ngoại sinh (ngoại hoá)... Kinh tế thị trường và trách nhiệm xã hội23/07/2008 08:24' AM Ý thức về trách nhiệm xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường hiện đại giúp cho người ta thấy rằng, thị trường thế giới rộng lớn, đầy tiềm năng trên phạm vi toàn cầu là môi trường vô cùng thuận lợi để tìm kiếm lợi nhuận không chỉ cho riêng mình, mà còn cho cả quê hương, đất nước và cho sự phát triển, sự tiến bộ chung của xã hội. Bài khác: Tản mạn về chữ Tâm và chữ Tầm27/04/2008 05:22' PM Người làm lãnh đạo luôn phải là người “vui sau thiên hạ, lo trước thiên hạ” và đặt suy nghĩ của mình về phía đa số, phía quần chúng, những người tín nhiệm mình. Thế nên chúng ta không khỏi băn khoăn khi có những quyết sách đưa ra hình như không dựa trên lợi ích của người dân, nhất là những người nghèo... Khổ vì lắm tiền21/04/2008 02:16' PM Đã dính vào nghiệp buôn, hẳn ai cũng biết cái câu "Buôn tài không bằng dài vốn . Ấy vậy mà nhiều bà buôn bán nhỏ ở chợ Đồng Xuân gần đây bảo với tôi rằng có lúc thấy sợ cả những đồng vốn giời ơi đất hỡi... Cuộc đời mất giá17/04/2008 08:41' AM Bởi lý do giá hàng cao vọt, kinh tế túng thiếu, bắt buộc người cha phải làm việc từ tám giờ tăng lên mười hai giờ, người mẹ cũng phải cởi bỏ bộ cánh lộng lẫy xa hoa để chui vào bếp... Tản mạn một chữ... tình05/04/2008 09:24' AM Dân tộc Việt Nam ta, cùng với truyền thống yêu nước đã có từ ngàn đời nay, không thể không nhắc đến truyền thống đoàn kết yêu thương đùm bọc lẫn nhau, nhất là trong lúc khó khăn hoạn nạn... Giả, dối31/03/2008 06:20' PM Sáng sớm, nhà đài thông báo trong chương trình thời sự nghe đến giật mình: “Qua kiểm tra của cơ quan chức năng, 70% mũ bảo hiểm lưu thông trên thị trường là giả!”. Một con số ai nghe cũng sợ, giật mình hỏi: “Ban quản lý thị trường đang ở đâu? Nói phét thành thần31/03/2008 06:06' PM Khoảng gần 500 năm nay, ở những quốc gia mang đậm văn hoá Tây thường có một ngày cực kỳ đặc biệt. Vào sáng sớm của ngày hôm đó, trên các phương tiện truyền thông chính thức, người ta được phép và cho phép nhau lung tung nói dối. Toàn chuyện vĩ mô kinh hoàng trời long đất lở... Tâm lý học với việc nghiên cứu hạnh phúc con người06/03/2008 03:34' PM Hạnh phúc là gì? Định nghĩa về nó tưởng vô cùng đơn giản, song lại khiến bao nhà nghiên cứu phải đau đầu và cho tới nay vẫn chưa có sự thống nhất hoàn toàn trong việc định nghĩa hạnh phúc... |