Đang tải dữ liệu...
ChúngTa.com.NET CommunityHanoi Software JSCDoanh nhân 360

Giới thiệuGiáo dụcSuy ngẫm & Triết lýKinh doanhKỹ năng - Nghề nghiệpCNTT - Viễn thôngThư giãn & Giải trí 
Tìm bài viết
Tìm kiếm nâng cao
Thống kê
Số lượt truy cập: 12.319.679
Số người trực tuyến: 483
Trong đó có 1 thành viên: Tuấn Đẹp Trai
Trang chủ  >  Suy ngẫm  >  Về thực tiễn và hành động  >  Luật pháp

Dụng hiền tài

Bùi Bình Thi
Nhàn đàm
   
05:13' PM - Thứ sáu, 06/06/2008

"Hiền tài là nguyên khí quốc gia. Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mẽ và thịnh vượng. Nguyên khí kém thì thế nước yếu ớt, suy bại. Vì thế các bậc thánh đế minh vương không ai là không lấy việc nuôi tài, chọn sĩ, vun bồi nguyên khí là công việc đầu tiên”? (Thân Nhân Trung)

Mấy năm nay vẫn thấy đăng rải rác trên các báo một câu như sau: "Hiền tài là nguyên khí quốc gia”.Vậy xin bổ tách câu này lấy ra hai chữ: Nguyên khí để được thẩm luận đôi điều. Thời thượng cổ, các nhà thông tuệ đã biết rõ trong khí trời có một thứ khí: Nhờ khí này vũ trụ mới được hình thành' cuộc sống mới được tạo lập. Thế cho nên các cụ ta xưa gọi thứ khí này là khí bản thiên, là Nguyên khí...

Đời Lê Thánh Tông, có Tiến sĩ Thân Nhân Trung là sủng thần của nhà vua. ông quê là Kinh Bắc, con ông là Thân Nhân Tín cũng làm quan to. Hai cha con, quan đồng triều. Sau này, đến đời Lê Thánh Tông, Thân Nhân Tín làm Phó nguyên soái Hội Tao Đàn có 28 vị, là những quan to mà có thơ hay, để rồi cùng với nhà vua thi hứng tạo tác.

Quan sủng thán Thân Nhân Trung được vua Lê Thái Tông sai viết một bài quan trọng, để thợ đá khắc vào bia cho khoa thi Hội. Vì theo lệ mỗi khoa thi phải có để lại một bia đá cho đời sau, theo đó mà hiểu rõ được học vấn của thời bấy giờ. Vậy là, Bia Tiến sĩ bắt đầu có từ khoa thi này.

Khoa thi hội này là mở vào tháng Ba (âm lịch) năm 1442 niên hiệu (Đại Bảo năm thứ 3) do Nguyễn Trãi, được nhà vua uỷ thác, làm chánh chủ khảo.

Bài văn bia của Thân Nhân Trung có đoạn như sau: "Hiền tài là do nguyên khí quốc gia. Nguyên khí thịnh thì thế được mạnh mẽ và thịnh vượng. Nguyên khí kém thì thế nước yêu ớt suy bại. Vì thế các bậc thánh đế minh vương không ai là không lấy việc nuôi tài, chọn sĩ, Vun bồi nguyên khí là công việc đầu tiên...". Trong khoa thi hội này, Nguyễn Trãi ra một đề thi như sau: “Vi trị tất dĩ đắc nhân vi bản" Nghĩa là: Làm việc chính trị thì phải lấy việc được người "giỏi" làm gốc. Đây là đề thi để chấm học hàm Tiến sĩ. Các thí sinh căn vào đề trên mà thẩm luận ra thành một bài văn biền ngẫu, chính luận sắc xảo hùng hồn, chứng dẫn xác thực, để dâng lên cho nhà vua là người khảo cuối cùng từng bài.

Các sĩ nhân sau đây đỗ Tiến sĩ: Nguyễn Trực, Nguyễn Như Đổ, Lương Như Hộc, đỗ Tiến sĩ cập đệ, 7 người đỗ Tiến sĩ xuất thân, 23 người đỗ đồng Tiến sĩ xuất thân (trong đó có Ngô Sĩ Liên).

Đến tháng Tám năm đó, Nguyễn Trãi mắc vào thảm án khốc hại. Thương thay?

Câu "Hiền tài là nguyên khí quốc gia" khởi lò khoa thi Hội này. Thời xưa chọn lựa và vun bồi có hai cách: 1) Chọn lựa 2) Đề cử. Chọn lựa căn cứ hoàn toàn vào khoa cử. Qua khoa cử để lựa chọn hiền tài là con đường chủ yếu. Tuy vậy, song song với con đường khoa cử này, đương nhiên có rất nhiều con đường khác, cách thức khác. Nhưng qua khoa cử vẫn là chủ yếu nhất. Bởi lẽ, những người nào được tiến thân bằng khoa cử ra làm quan mới được coi là vẻ vang. Thời ấy gọi con đường này là thanh lưu (dòng trong). Nghĩa là chỉ duy nhất do học vấn mà ra, không thiên tư, không chạy chọt, không lo lót, nhất là sự chọn lựa ở bậc cao, qua các kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình của các triều Lý, Trần, Lê, Nguyễn để lấy hàm Tiến sĩ (chứ không như bây giờ có 45 triệu là có bằng Tiến sĩ như dư luận vẫn sì sầm về một quan chức nọ).

Vậy thời xưa ấy có hiện tượng đó không. Cũng có chứ, nhưng hiếm lắm. Vì lẽ, sự học từ cấp thấp đến cấp cao bắt đầu từ các trường tư thục. Dân trong làng xã, ai yêu sự học cho con thì bỏ tiền ra đóng góp, đi mời thầy về dạy. Cấp học cao hơn thì có các hưu quan, là những vị học vấn tột bậc, làm quan đến lục tuần (60 tuổi) thì xin về mở trường, hoặc là tuy có học vấn cao, nhưng lại từ chối mọi chức quan, chỉ cốt về gõ đầu trẻ. Các trường tư thục này, danh phận của thầy người trưởng trường là hết sức trọng yếu. Vì nếu một thí sinh nào đó, hoặc vài ba thí sinh nào đó đi thi, mà lại ngậm bút xếp ống quyển lều chõng ra về, thì trường ấy ông thầy trưởng trường mới nhục không để đâu cho hết, và mối nhục loang ra hàng tổng, hàng vùng, hàng xứ, đến chết vẫn nhục. Vả lại cho đến khi nhà vua trực tiếp khảo, thì không thể có chuyện tư túi mà đạt được học hàm Tiến sĩ (như bây giờ người ta gian từ phổ thông cho đến hết Đại học, cả sau Đại học). Chỉ có Quốc Tử Giám, nhà vua chi phí toàn bộ. Học ở đây là con cái hoàng lộc gọi là các ấm sinh, tôn sinh, còn giám sinh là con dân thường. Người giỏi do các quan tiến cử lên để học gọi là cống sinh.

Việc qua con đường khoa cử mà chọn hiền tài của thời xưa ấy rất được coi trọng, vì đạt được sự công bằng xác thực, không phân biệt giữa người quý, kẻ tiện (quý nhân và tiện nhân) ai cũng được đi thi. Ngoại trừ các tội sau đây thì tuyệt đối cấm:

Tội phản nghịch, có tiền án tiền sự. Và con nhà dòng hát xướng. Như Đào Duy Từ, ông là người rất có tài, nhưng vì ông xuất thân con hát, nên không được đi thi. Sau đó, Đào Duy Từ vào Đàng trong theo chúa Nguyễn.

Vậy là mọi người đều được đi thi, thi đỗ thì đều được làm quan.

Các thí sinh thi đã vượt một cách vẻ vang, công chính và sang trọng qua các kỳ thi, đến kỳ thi Hội, thi Hương, hoặc thi Đình là kỳ cuối cùng chọn lấy Tiến sĩ, Thám hoa, hoặc Bảng nhãn, phó Bảng. Nhà vua trực tiếp ra đề thi cho các thí sinh.

Phần đề thi này có hai mục: Cổ văn và Kim văn. Cổ văn thì thí sinh trả lời theo như sách đã học của Tứ Thư, Ngũ Kinh… Nhưng khi chấm để lấy đỗ thì bao giờ nhà vua cũng căn cứ vào Kim văn, là thí sinh phải trả lời được bằng các bài văn chính luận biền ngẫu sắc sảo, uyển súc, và thông tuệ về các câu hỏi như sau: Thí dụ: Hiện nay trong thuế công thương, nhà vua cần có điều gì phê chỉnh, cần bổ sung cần tước giảng để cho hợp với lòng dân và tận thu cho triều đình. Hoặc: Lương thưởng trong quân đội đã' xứng với phẩm hàm chưa? Hoặc: Tham nhũng trong quan trường, biện pháp gì để thanh giải, trừng trị Hoặc: Vùng A nào đó, dã có sự lộn xộn trong địa chính trong đac điền? Nhà người có phương pháp nào để chỉnh lý Hoặc: Cánh đồng lớn của phủ B đó cần dẫn thuỷ nhập điền ra sao, để tăng sản lượng lúa cho mỗi vụ. Hoặc: Hiện biên cương phía Tây Bắc, mấy năm nay bất an, nhà ngươi suy nghĩ ra sao trong việc lớn này. Hoặc: Hiện có cần cải cách chế định về tiền tệ. Hoặc: Đường thuỷ ở Bắc Hà đã được khai thác tốt cho sự thông thương mại và giao thông chưa?

Tại sao nhà vua trong Kim văn lại đưa các thí sinh vào mọi mặt của đời sống, chính sự, với các công việc của công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, tiền tệ và cai trị? Là vị hàm Tiến sĩ, nếu đỗ sau này thí sinh ấy sẽ là một viên quan cai quản cả một vùng rộng lớn, hoặc là gánh vác một trọng trách, mà sự an nguy của cương vị đó ảnh hưởng không nhỏ đến quốc gia, chính sự.

Việc tuyển dụng hiền tài qua khoa cử đã tồn tại hơn 1000 năm. Vì tính công bằng, và bình đẳng thật sự ưu việt. Các thí sinh thi đỗ, ra làm quan là đương nhiên, và gọi Tòng Chính thực sự. Thế còn các vương tôn, những người trong hoàng tộc của nhà vua thì sao. Phải là những người có tài và nhất quyết phải qua thi cả. Nếu không có tài, thì chỉ được nhà vua phong tước. Tước như ta đã biết: Công, Hầu, Bá, Tử, Nam. Điều gây lợi hay hại đến dân sinh đến xã tắc là chức quan, chứ không dành cho các vương tôn. Như Tùng Thiện Vương, Tuy Lý vương thời Minh Mạng, Thiêu Trị tuy con cháu nhà vua đấy, nhưng chỉ được hưởng tước để suốt ngày thơ phú cho vui thôi.

Sau khoa cử là Tiến cử. Các Triều đại Trung Hoa cũng thường hay dùng cách này, còn ở nước ta, việc tiến cử được giao cho các quan các địa phương, trong huấn đạo và giáo dục (ngày xưa các quan về giáo dục của nhà nước, chỉ làm một việc là ra đề thi, mở khoa thi, chấm thi, kiểm tra tư cách cho các thí sinh cấp dưới).

Khi các quan tiến cử người tốt, người tài giỏi ở các huyện phủ lên cấp trên. Thì những cuộc thi sát hạch được đặt ra, để kiểm chứng thực tài của từng người, xem tài đến đâu. Đây gọi là Sát cử. Sau các đợt sát cử này mới cho thí sinh vào hẳn con đường khoa cử.

Trong tiến cử này còn có một cách nữa cũng rất có tác dụng và rất lý thú. Đó là Bảo cử. Các quan trị nhậm một huyện, một phủ, hay là quan huấn đạo... Cứ hai vị quan thì bảo cử một người, nghĩa là cả hai bảo đảm rằng người đó là thực tài lại có đức quý, đáng được nhà vua trọng dụng. Tuy nhiên, trong tiến cử và bảo cử này, nhà vua ra một quy định khá khắt khe. Đó là có thưởng và có phạt. Nếu như người mà hai vị quan đó tiến cử, rồi bảo cử mà đắc dụng, là một vị quan có tài cao mà thanh liêm, thì hai vị quan đó được nhà vua thưởng hậu. Nhưng cái nhà anh đó thì lại đổ đốn tham nhũng, khuất tất, gây thiệt hại cho dân trong các hành xử theo chức vị, thì hai vị quan đã bảo cử đó sẽ bị phạt, nặng nhẹ tuỳ ở như tội lỗi của người mà hai vị quan đó bảo cử. Nếu kẻ đó tội hình, hai vị quan bảo cử cũng chiếu theo mà tuân thủ. Xin đơn cử một thí dụ: Quan trấn hiệp tỉnh Quảng Ninh thời Minh Mạng và Trần Văn Hiển vì tham ô 60 thùng thóc của dân đi khai hoang Quảng Yên, đã bị nhà vua cho quan án chém đầu. Sau đó, hai viên quan đại thần bảo cử Trần Văn Hiển cũng bị biếm chức, cách tuột về làm dân thường.

Các thí sinh, sĩ nhân sau khi thi đỗ Tiến sĩ rồi thì do Bộ Lại quản lý và lục dụng (lục là chọn để cân nhắc). Nhưng trước khi lục dụng, Bộ Lại lại mở một kỳ sát hạch lần cuối cùng: Nội dung của sát hạch này có 4 mục. Mục nào cũng rất quan trọng. Đó là: Thân, Ngôn, Thư, Phán. Thân là xem xét kỹ hình thể, dáng người. Ngôn: Xem xét cách nói năng (nói ngọng như một số quan bây giờ dứt khoát là bị loại). Nói cộc lốc, thô lỗ, nói lắp nói cà lăm là phải bỏ. Thư: Xem xét chữ viết. Chữ quan mà viết xấu, viết nguệch ngoạc, nét nọ xọ nét kia để cấp dưới hiểu lầm văn bản, dứt khoát loại bỏ. Phán: Đến mục thứ tư này cũng là mục quyết định. Bộ Lại đưa ra một tình huống nan giải, vị Tiến sĩ này phải viết một bài văn trình bầy rành mạch, các phương cách giải quyết, sao cho thật thỏa đáng. Mục Phán này tốt, qua bài văn, thì vị Tiến sĩ ấy được bổ dụng. Thường thì bên ngạch võ hay dùng phương pháp tiến cử, sát cử và bảo cử.Còn ngạch văn thì vẫn phải thi cử qua khoa bảng là chủ yếu.

Như Nguyễn Tri Phương, ông xuất thân là lại viên: Nhân viên giúp việc quan. Sau ông được bảo cử và Tự Đức trực tiếp sát cử và dùng.

Để kết cho bài Nhàn đàm này xin được lấy ra đây bài văn có tên “Thiên hạ hưng vong, tri loạn tri nguyên luận". Luận về nguồn ngốc của sự hưng, suy, trị, loạn của một quốc gia, của nhà sư Nguyễn Nguyên ức là Viên thông quốc sư. Một vị sư cấp quốc gia. Ông viết bài này và dâng lên vua Lý Thánh Tông như sau:

"Trị, loạn tại các quan. Được người giỏi thì trị, không được người giỏi thì loạn. Thần xem các bậc đế vương thời cổ chưa từng có ai không vì dùng quân tử mà vong, không vì dùng tiểu nhân mà hưng. Nhưng mà sự hưng, vong thì không thể một sớm một chiều, mà là nó dần dần. Cũng như trời đất, không thể ngay lập tức làm ra nóng hay rét, mà phải dần từ mùa xuân qua mùa hạ, mùa thu rồi mùa đông. Người làm vua cũng không thể ngay lập tức ra hưng hay vong, mà dần dần ở chỗ làm thiện hay gây ác. Các bậc đế vương thời cổ biết là như thế cho nên theo phép trời không ngừng rèn đức để sửa mình, sửa mình phải thận trọng ở trong lòng, biết run sợ như dẫm trên băng mỏng, nín sợ như điều khiển ngựa mà cầm dây cương mục. Nhà vua muốn yêu được người thì phải kính kẻ dưới, nếu được như thế thì đất nước không thể không hưng. Mà nhà vua làm trái thế thì không thể không vong. Quá trình dần dần của sự hung vọng là ở đây.

Thiên hạ ví như đồ vật. Đặt nó vào chỗ yên thì nó yên. Đặt nó vào chỗ nguy thì nó nguy. Cho nên cốt ở việc làm của người làm vua như thế nào mà thôi.

Vua mà có Đức hiếu sinh là hợp với lòng dân, cho nên dân đối với vua như con đối với cha mẹ, trông ngóng vua như trông ngóng mặt trời mặt trăng. Làm vua như vậy là đặt dân chỗ yên vậy ".

Trong nền văn hóa 2.500 năm, bài văn của nhà sư Nguyễn Nguyên ức có cách đây hơn 1.000 năm. Bây giờ nẩy ra đọc lại vẫn thấy có vô khối điều ngẫm nghĩ lắm.

Xin trở lại ba chữ "Dụng hiền tài". Thời trung kỳ của triều Nguyễn trở về trước, nước ta trong nền văn hóa Hán - Nôm, thư tịch nhà nước theo văn ngôn, nên phổ biến cách nói năng trong giao tiếp và cách viết ngắn gọn, đến mức văn bản chắt lọc từng chữ, để biểu đạt sự chính xác tuyệt đối. Vì vậy chỉ viết cho hai chữ "Dụng hiền" là rất đủ ý. Dụng hiền, xin được nói vài điều về chữ "hiền". Nghĩa của chữ này không như cách bây giờ hiểu, chỉ khoanh trong chỉ định một tính cách. Chữ "hiền" thời ấy chỉ định một đức tính tốt, cao quý, tới mức là một tấm gương cho những người khác noi theo. Tuy nhiên còn hơn thế, người có đức tính tốt cao quý ấy lại không chỉ có trong tu hành, mà là đem thực hiện trong cuộc đời. Hiền, không chỉ có chỉ định đức tính như thế mà còn là một người có tài, mà lại tài cao, cùng với đức cao quý, người đó hành xử trong xã tắc, phục vụ rất đắc lực trong triều vua đương thời. Dụng hiền hàm xúc từ hai phía: Với nhà nước, thì dụng công trong công cuộc huấn đạo hiền tài. Khi có hiền tài rồi thì trọng dụng hiền tài. Còn với bản thân người hiền tài thì khi đã được nhà nước trọng dụng, thì người đó bao giờ cũng tận tâm đưa tài đức của mình ra để đem lại thật nhiều lợi ích cho dân, đó là đắc dụng vậy.

Số lượt đọc:  949  -  Cập nhật lần cuối:  06/06/2008 05:16:26 PM
  Ý kiến của bạn:
Bài mới:  
Gia tài 60 năm Luật học
17/08/2008 09:48' AM
Báo chí và pháp luật
02/08/2008 08:32' AM
Kiến và củ khoai Mỹ
09/07/2008 08:12' AM
Bài khác:
Cái máy
04/05/2008
Trang chủGiới thiệuLiên hệ