Lôgic học với tư cách là khoa học về tư duy coi nhiệm vụ nghiên cứu chính là làm sáng tỏ những điều kiện đạt tới tri thức chân thực, phân tích kết cấu của quá trình tư duy, vạch ra thao tác lôgic của tư duy và phương pháp luận nhận thức chuẩn xác. Lôgic học tiến hành xem xét, đánh giá kinh nghiệm suy nghĩ thông thường , phát hiện những bản chất sâu sắc hơn và chỉ đạo, hướng dẫn cho việc tư duy đúng đắn hơn.
Dù biết hay không biết về lôgic học thì việc suy nghĩ của con người cũng đều phụ thuộc vào các quy luật lôgic và các hình thức tư duy. Và như vậy, lôgic học chiếu rọi vào kinh nghiệm tư duy của mỗi người giúp cho con người tư duy chủ động và tự giác hơn, thể hiện tính chính xác, tính đúng đắn, nâng cao hiệu quả và tính thuyết phục của các tư tưởng. Quan trọng hơn, việc nghiên cứu lôgic học giúp chúng ta phát hiện ra những sai lầm lôgic của chúng ta và những người khác, cũng như để tránh khỏi sai lầm lôgic do vô tình hay hữu ý phạm phải.
Hình thức cơ bản của tư duy trong quá trình nhận thức là suy luận. Nó xuất phát từ những phán đoán đã biết để rút ra những phán đoán mới. Cá nhân tôi qua quan sát tư tưởng của nhiều người thông qua các tài liệu, sách báo, hay sinh hoạt đời sống, công tác... đã gặp và ghi nhận được rất nhiều loại lỗi suy luận. Bên cạnh những lỗi về tính chân thực gắn với quan sát thực tế, kiến thức của nhiều ngành, lĩnh vực tri thức khác nhau, còn có một số lượng đáng kể các lỗi liên quan cả đến những thao tác suy luận. Những lỗi này sẽ gây ra những kết luận sai ở bất kỳ ai. Lỗi suy luận thậm chí có thể ở cả trường hợp kết quả cuối cùng là đúng.
Trong phạm vi bài viết này, tôi phân loại lỗi suy luận căn cứ vào sự vi phạm các nguyên lý và quy luật logic, gồm: 8 loại lỗi vi phạm quy luật lôgíc hình thức và 6 lỗi vi phạm quy luật lôgíc biện chứng.
Việc phát hiện, mô tả rõ những lỗi thường gặp này sẽ giúp chúng ta sửa chữa cách suy nghĩ hàng ngày, nâng cao hiệu quả hoạt động nhận thức và thực tiễn của mình.
I. Lôgic học
Lôgíc học là ngành khoa học nghiên cứu về tư duy với tư cách là một quá trình nhận thức. Đây chính là sự tự ý thức về hoạt động tư duy.
Tư duy với tư cách là một sự vật, hiện tượng đặc thù cũng có quá trình vận động và phát triển của mình. Trong quá trình ấy, bản thân tư duy cũng là sự thống nhất của hai trạng thái động và tĩnh. Việc nghiên cứu tư duy cũng phải được xem xét với cả trạng thái tĩnh và trạng thái động của nó. Trạng thái tĩnh là đối tượng nghiên cứu của lôgic hình thức, còn trạng thái động là đối tượng nghiên cứu của lôgíc biện chứng. Ví dụ, các loại hình tư duy cổ đại, cổ điển – như những sự vật đồng nhất trừu tượng là đối tượng của lôgic hình thức, ngược lại sự vận động của tư duy từ loại hình cổ đại lên loại hình cổ điển là đối tượng của lôgic học biện chứng.
Cũng tương tự như vậy, các hình thức của tư duy như khái niệm, phán đoán, suy lý... cũng nằm trong sự thống nhất của trạng thái động và trạng thái tĩnh. Với mỗi hình thức này, lôgic hình thức và lôgíc biện chứng cũng có những nhiệm vụ khác nhau. Lôgic hình thức nghiên cứu chúng trong trạng thái tĩnh (Ví dụ, vạch ra các thuộc tính, dấu hiệu được phản ánh tại một thời điểm cố định, trong một quan hệ nhất định). Trái lại, lôgic biện chứng nghiên cứu trạng thái động của chúng (ví dụ, sự vận động, phát triển của khái niệm; sự vận động, phát triển của các thuộc tính, dấu hiệu trong các khái niệm).
Lôgic học tập trung làm rõ tính chân thực của tư tưởng, nó thống nhất giữa 2 bộ phận: lôgic học hình thức và lôgic học biện chứng.
Những lý luận là hình thức của lôgic hình thức có cơ sở của thực tế khách quan là sự đứng im tương đối và ranh giới xác định của các sự vật. Khi con người nhận thức ở trong trạng thái ổn định, không quan tâm đến mối liên hệ giữa các sự vật thì môn lôgic hình thức với phạm trù cố định là cần thiết và có hiệu quả, nhưng nếu tuyệt đối hoá vai trò của lôgíc hình thức thì sẽ dẫn đến sai lầm.
Lôgic biện chứng vượt ra ngoài phạm vi của lôgic hình thức, nó không chỉ phản ánh sự khác nhau giữa sự vật mà còn phải ánh mối liên hệ giữa chúng, không chỉ phản ánh trong trạng thái yên tĩnh của sự vật mà còn phản ánh quá trình vận động của sự vật. Con người nhận thức các trạng thái vận động, quan tâm đến mối liên hệ giữa các sự vật thì môn lôgic biện chứng với phạm trù biến động sẽ là cần thiết và có hiệu quả.
Lôgic hình thức và lôgic biện chứng bổ sung cho nhau. Trong quá trình nhận thức không thể vi phạm những quy luật của lôgic hình thức, dẫn đến những mâu thuẫn làm cho tư duy rối loạn. Mẫu thuẫn lôgic ở đây là do sai lầm chủ quan của con người trong quá trình nhận thức, không phải là mẫu thuẫn trong hiện thực khách quan. Để nhận thức được mâu thuẫn trong hiện thực, trước hết phải theo những quy luật của lôgic hình thức, loại trừ mâu thuẫn lôgic, trên cơ sở đó vận dụng phương pháp tư duy biện chứng mới có thể nhận ra thức được biện chứng khách quan, phát hiện ra mâu thuẫn của bản thân sự vật.
Ta gọi những quy luật cơ bản là những tính chất chung, đúng đắn có hiệu lực và làm cơ sở cho mọi quá trình tư duy có lôgíc.
Bảng sau so sánh hệ thống nguyên lý và quy luật cơ bản của 2 học thuyết lôgíc hình thức và biện chứng.

Tiếp theo chúng ta khảo sát các nguyên lý và quy luật lôgic cụ thể.
II. Những quy luật của lôgíc hình thức cổ điển
1. Quy luật đồng nhất. Mỗi tư tưởng (để phản ánh về đối tượng ở phẩm chất xác định) phải đồng nhất với chính nó. A là A.
Quy luật đồng nhất đảm bảo cho tư duy có được tính xác định. Tính xác định của khái niệm phản ánh tính xác định của sự vật mà khái niệm đó phản ánh. Chừng nào sự vật vẫn còn là nó, chưa biến thành cái khác thì nội hàm của khái niệm về sự vật đó phải được giữ nguyên, phải được đồng nhất.
2. Quy luật phi mâu thuẫn. Một tư tưởng (đã được định hình) không được đồng thời mang 2 giá trị lôgíc trái ngược nhau. Điều này đảm bảo cho tư duy có tính nhất quán.
3. Quy luật loại trừ cái thứ 3 - luật bài trung. Một tư tưởng phải mang giá trị lôgíc xác định, hoặc chân thực, hoặc giả dối không có khả năng thứ 3.
4. Quy luật lý do đầy đủ. Bất kỳ một phán đoán nào muốn được thừa nhận là chân thực thì phải có đầy đủ những luận điểm chân thực khác làm căn cứ/lý do để xác minh. Các phương pháp lôgíc giúp chúng ta tư duy đúng lôgíc và khám phá bản chất, quy luật, phổ biến của sự vật tồn tại. Ngoài ra, tính thực tiễn cũng đóng vai trò quan trọng không kém đối với việc kiểm tra, đánh giá chân lý của tri thức con người.
III. Những quy luật của lôgíc biện chứng.
1. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến: Mọi sự vật, hiện tượng đều tồn tại trong những mối liên hệ, tác động lẫn nhau.
2. Nguyên lý về sự phát triển: Mọi sự vật hiện tượng trong thế giới đều tồn tại trong sự vận động, biến đổi và phát triển.
-
Quy luật 1: Chuyển hoá lượng - chất. Sự biến đổi về lượng dẫn đến sự biến đổi về chất và ngược lại. Quy luật giải thích cách thức của sự phát triển.
-
Quy luật 2: Thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập. Mọi sự vật, hiện tượng đều chứa đựng những mâu thuẫn nghĩa là chứa những mặt đối lập. Những mặt đối lập này vừa thống nhất với nhau vừa đấu tranh với nhau. Quy luật giải thích nguyên nhân của sự phát triển.
-
Quy luật 3: phủ định của phủ định. Quá trình phát triển sự vật, hiện tượng là quá trình phủ định của phủ định, phủ định để tạo điều kiện, tiền đề cho sự phát triển. Quy luật giải thích tính chu kỳ, quá trình của sự phát triển, đổi mới.
Số lượt đọc:
42132
-
Cập nhật lần cuối:
18/07/2005 06:23:00 PM |  |
Thông tin liên quan: Những cạm bẫy tư duy06/08/2008 05:06' PM Chúng ta thường vắt kiệt sức mình vào việc theo đuổi những phiền toái không mang lại giá trị gì cho mình, bất kể chúng có thể gây ra vấn đề gì. Những phiền toái vô ích này chính là những chiếc bẫy tư duy. Chúng hoàn toàn gây mệt mỏi và lãng phí thời gian... Những biểu hiện của sự Ngu Ngốc30/05/2008 02:27' PM Khái niệm ngu ngốc, đần độn có thể hiểu là sự ngược lại của khái niệm sáng dạ hoặc nhanh trí (cả hai đần và sáng dạ đều mang tính bẩm sinh). Từ Ngu Ngốc thường được hiểu là một cái gì đó có tính chất tiêu cực... Kỹ năng suy nghĩ28/04/2007 05:07' PM Tại sao lại cân phải tuyển một người tốt nghiệp Đại học thay vì PTTH...? Nhà tuyển dụng muốn tuyển một người tốt nghiệp Đại học là vì họ muốn có những người có khả năng "suy nghĩ". Họ cần những người có thể học mọi thứ nhanh, biết cách xác định và giải quyết các vấn đề đưa ra những ý kiến từ những thông tin lộn xộn, và đưa ra những kết luận đúng đắn, và suy nghĩ sáng tạo... Giá của tri thức23/02/2007 10:39' AM “Tri thức, bao gồm cả tri thức về phát triển là hàng hóa công cộng toàn cầu” (J.Stiglitz), nhưng các quốc gia giàu có đang sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để ngăn cản sự truyền bá tri thức cho sự phát triển chung cứu thế giới. Nếu tri thức sớm được công nhận là hàng hoá công cộng toàn chữ sẽ đáp ứng yêu cầu của một nền kinh tế tri thức toàn cầu hoá.
Cái trừu tượng và cái cụ thể trong nhận thức27/12/2006 08:02' PM Trong nhận thức, cái trừu tượng và cái cụ thể luôn có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Chúng tạo thành một quan hệ xác định, trong đó cái trừu tượng là hình tái tồn tại phiến diện của cái cụ thể, còn cái cụ thể lại là cái toàn vẹn hơn, đa dạng hơn cái trừu tượng. Cái trừu tượng gián đơn hơn, cô đọng hơn cái cụ thể. Còn cái cụ thể phong phú hơn, phức tạp hơn... Sách phong thuỷ ở Sài Gòn16/07/2008 11:23' PM Hiện có ba dòng sách phong thuỷ lưu hành chính hiện nay, tương ứng với các khuynh hướng phong thuỷ trên thế giới... Thăng trầm phong thủy07/07/2008 08:59' AM Trong vô số tinh hoa còn phảng phất mơ hồ do những lớp người đi trước văn minh để lại, thì thuật phong thủy đáng kể là thứ cực kỳ vất vả thăng trầm. “Từ Nguyên” viết “phong thủy là cách xem địa thế phương hướng đất nhà ở hoặc đất phần mộ. Người ta căn cứ vào đó để luận lành dữ tốt xấu về nhân sự”. Xưa cũng như nay, nhân sự quan trọng vào bậc nhất vẫn là danh vọng là tiền tài... Luận thêm về thuyết Ngũ hành19/06/2008 06:48' PM Một cách tự nhiên nhất và khoa học nhất chúng ta có thể hỏi: Tại sao cổ nhân cứ qui các vật, các khái niệm trên đời này về Ngũ hành? Tại sao phép gán đó lại có thể là chỗ dựa cho các tư duy? Tại sao thầy thuốc dùng Ngũ hành lại có thể chẩn bệnh chính xác, chữa bệnh hiệu quả? Hợp trội luận và Quy giản luận: đối lập và song hành11/04/2008 08:19' AM Là quan niệm trung tâm của lý thuyết các hệ thống phức tạp, emergence đang được ca ngợi một cách toàn diện (và đúng đắn). Phải chăng reductionism đã mất hết khả năng nhận thức, như một số nhà tư tưởng nghi ngờ? Vấn đề tính chủ quan trong hiện tượng Husserl07/04/2008 06:42' PM Những tư tưởng của Huxéc về hiện tượng học có tầm ảnh hưởng hết sức to lớn trong triết học suốt cả thế kỷ XX. Khái niệm tính ý hướng của ông được hiểu như một cách khắc phục chủ nghĩa nhị nguyên của Đêcáctơ về mối quan hệ giữa tinh thần và thế giới... Niềm tin16/03/2008 04:22' PM Niềm tin có thể chia ra làm hai lĩnh vực. Một là tin vào mình và có ba dạng: tin vào chính mình hay tự tin, tin vào một cái ngoài mình và tin vào một đấng thần linh. Hai là tin vào người, làm cho người tin mình, và mình tin người. Trong cuộc sống hàng ngày, hai lĩnh vực của niềm tin kia pha lẫn với nhau và khó phân biệt, nhưng chúng có các tác động khác nhau... Vấn đề tự ý thức trong triết học Êpiquya05/06/2007 11:03' AM Triết học Êpiquya (341- 270, TCN) là một trào lưu triết học chiếm địa vị thống trị trong đời sống tinh thần của người Hy Lạp cổ đại ở thời kỳ suy thoái của xã hội chiếm hữu nô lệ (thế kỷ III - I trước CN). Ở thời kỳ này, các mâu thuẫn cơ bản của xã hội chiếm hữu nô lệ ngày một trở nên gay gắt, các cuộc chiến tranh xâm lược thường xuyên diễn ra đã dẫn đến tình trạng khủng bố, cướp bóc triền miên, tạo ra các hình thức áp bức chính trị và tinh thần thô bạo. Bài khác: Ý thức toàn cầu và vai trò của triết học trong việc xây dựng ý thức toàn cầu01/01/1900 12:00' AM Toàn cầu hoá là một xu thế tất yếu, khách quan, nó vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực đặt ra cho tất cả các quốc gia, dân tộc cả những vận hội lẫn những thách thức. Việc nhận thức những vấn đề toàn cầu đòi hỏi phải có ý thức toàn cầu. Ý thức toàn cầu, theo tác giả, có các đặc trưng:
- Phản ánh uy thế của các giá trị toàn nhân loại,
- Nó phải được chỉnh lý một cách căn bản trong sự tự ý thức của từng dân tộc cũng như của từng cá nhân,
- Có tính khoa học cao, để xây dựng ý thức toàn cầu, triết học đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Vai trò này thể hiện ở hai chức năng cơ bản của nó: chức năng thế giới quan và chức năng phương pháp luận.
Thay đổi từ đâu?01/01/1900 12:00' AM Kết thúc một năm cũ, suy nghĩ rất tự nhiên của mỗi người là mong những cái mới. Nam giới ưa mạo hiểm, lại chỉ thích làm chuyện "to tát" nên năm mới cũng là thời điểm để bắt đầu một dự án mới, một công việc mới hoặc một cuộc chinh phục mới. Tất cả đều mong muốn có sự thay đổi! Quan niệm của Gi.P.Xáctơrơ về con người trong “Hiện sinh một nhân bản thuyết”01/01/1900 12:00' AM Theo Gi.P.Xáctơrơ (Jean - Paul Sartre - 1905 - 1980), chủ nghĩa hiện sinh là một chủ nghĩa nhân đạo. Trong quan niệm của ông, chủ nghĩa nhân đạo này không phải là lý thuyết đề cao "lòng thương người, mà là một học thuyết về con người - một triết học về sự tồn tại của thực thể người trong thế giới. Mục tiêu của nó là mang lại tự do cho con người và vì thế, ông đã dồn công sức để nghiên cứu về con người. Bước đầu tìm hiểu con người trong triết học của Kant01/01/1900 12:00' AM Emmanuel Kant (1724 - 1804), là người sáng lập triết học cổ điển Đức, nhà tư tưởng lớn của nhân loại. Hệ thống triết học của ông bao chứa lượng tri thức phong phú thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó nhân bản học chiếm vị trí không nhỏ. Ở thời đại văn minh hiện nay, khi có một số quan điểm quá coi trọng những thành tựu khoa học công nghệ, đến mức tuyệt đối hoá những giá trị vật chất, mà xem nhẹ những giá trị tinh thần nhân văn, thì việc tìm hiểu triết học của Kant có thể giúp chúng ta trở về với những quan điểm nhân văn hơn. Tiêu chuẩn logic trong nhận thức chân lý01/01/1900 12:00' AM Có thể nói, bằng sự tổng kết toàn bộ tiến trình phát triển lịch sử của nhận thức, Hêgen đã xác định rõ trình độ của mỗi giai đoạn nhận thức và vai trò của các học thuyết logic: "Phép biện chứng: phép biện chứng bên ngoài, sự suy luận không đâu vào đâu, mà trong đó linh hồn của bản thân sự vật không được hoà tan. Sự phát triển của nhân loại trong quan hệ với tri thức28/09/2004 06:14' AM Bài viết này muốn đặt tình trạng phức tạp hiện nay về kiến thức vào ngữ cảnh của chuỗi biến đổi lớn về văn hoá và nhận thức xảy ra trong quá khứ và dự báo tương lai... Tư duy hệ thống và đổi mới tư duy04/05/2003 03:51' PM Thế kỷ 20 vừa đi qua và những thành tựu khoa học to lớn mà loài người đạt được trong thế kỷ đó đã làm đảo lộn nhiều hiểu biết vốn có của chúng ta về những vấn đề cơ bản như không gian và thời gian, vật chất và vũ trụ, sự sống và con người, rồi tiếp đến là kinh tế và xã hội... Từ những hiểu biết mới trong nhiều lĩnh vực khác nhau dần dần đã hình thành một quan điểm mới, một tư duy mới về thiên nhiên cũng như về xã hội của chúng ta... |