 | Thông tin liên quan: Hình thái châu Á (phương thức sản xuất kiểu châu Á) và chủ nghĩa xã hội30/12/2009 04:10' PM Sách Lịch sử kinh tế và các học thuyết kinh tế được Igor Nikolaevich Kovalev trình bày theo phong cách mới, trong đó tác giả sắp xếp kiến thức về lịch sử kinh tế học một cách hệ thống, liên kết phương diện xã hội nhân văn và phân tích toán học với chuyển biến lịch sử. Trong sách này, tác giả dành phần lớn phân tích giai đoạn phát triển kinh tế xã hội nước Nga xô-viết dưới ảnh hưởng trực tiếp của chủ nghĩa Marx. Bài viết dưới đây được trích dịch từ đề mục: “Chủ nghĩa Marx như một mô hình ngôi nhà thế giới về kinh tế”, có thể cung cấp thông tin hữu ích cho những người quan tâm đến chủ nghĩa Marx. Về sở hữu, vị thế và xã hội hóa30/03/2009 10:35' PM Các bài viết của tôi, hoàn toàn không phải là những bài trích dẫn kinh điển…nhưng đương nhiên được tham chiếu trên những nền tảng tri thức kinh điển về những điều đề cập. Tôi viết theo cách nhìn của mình, nói chung rất ngắn, luôn cần đến ‘ kiến thức đối ứng’ để chia sẻ về tư tưởng và ngụ ý nằm sâu trong những dòng chữ…Hơn hết là chữ Tâm của chúng ta đối với điều muốn bày tỏ... Bóc lột25/11/2008 11:51' AM Bóc lột là hiện tượng xã hội có quy mô rộng lớn và có tác động trực tiếp đến thân phận của con người. Từ trước đến nay bóc lột vẫn là một trong những vấn đề con người quan trọng nhất. Phân tích hiện tượng bóc lột trong bối cảnh thế giới hiện đại đòi hỏi phải có cách nhìn sâu sắc và khoa học vì tính chất của nó so với bóc lột bằng những phương thức cổ điển đã thay đổi rất nhiều... Phát triển kinh tế tư nhân - xu thế tất yếu trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay06/09/2008 12:50' PM Phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một xu hướng tất yếu, một chủ trương đúng đắn và nhất quán của Đảng ta... Mối quan hệ giữa sở hữu tư và tha hóa25/07/2008 08:06' AM C.Mác đã không chỉ dùng khái niệm tha hoá để giải thích về sự đối tượng hoá (sự vật hoá) bản chất con người, mà còn dùng nó để chỉ rõ các quan hệ kinh tế tư bản chủ nghĩa cũng như vạch trần sự bóc lột trong xã hội tư bản chủ nghĩa. Song, C. Mác vẫn chưa có sự phân biệt rõ hai phương thức biểu thị khác nhau của sự đối tượng hoá bản chất chủ thể, đó là: sự tha hoá nội sinh (dị hoá) và tha hoá ngoại sinh (ngoại hoá)... Kinh tế thị trường và trách nhiệm xã hội23/07/2008 08:24' AM Ý thức về trách nhiệm xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường hiện đại giúp cho người ta thấy rằng, thị trường thế giới rộng lớn, đầy tiềm năng trên phạm vi toàn cầu là môi trường vô cùng thuận lợi để tìm kiếm lợi nhuận không chỉ cho riêng mình, mà còn cho cả quê hương, đất nước và cho sự phát triển, sự tiến bộ chung của xã hội. Về thực chất của bước chuyển sang kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay21/06/2007 08:43' PM Nền kinh tế nước ta hiện đang ở giai đoạn quá độ, chuyển tiếp từ nền kinh tế tập trung, hành chính - bao cấp sang nền kinh tế thị trường. Do vậy, thực chất của giai đoạn quá độ, chuyển tiếp từ nền kinh tế tập trung, hành chính - bao cấp sang nền kinh tế thị trường. Do vậy, thực chất của giai đoạn quá độ trong nền kinh tế nước ta, đương nhiên là một vấn đề đặc biệt có ý nghĩa, rất cần phải được nghiên cứu, xem xét... Về vai trò Nhà nước trong nền kinh tế thị trường25/11/2006 03:24' PM Cuộc chuyển đổi từ nền kinh tế chỉ huy sang nền kinh tế thị trường đòi hỏi không chỉ cải cách kinh tế mà cả cải cách chính trị. Cũng vì thế mà cải cách chính sách Nhà nước trở thành vấn đề cấp thiết ở tất cả các nước đang thực hiện sự chuyển đổi thể chế kinh tế. Mục đích của cải cách là xây dựng một thể chế nhằm đảm bảo những lĩnh vực cần thiết phải có sự điều tiết của Nhà nước cũng như những lĩnh vực có thể hạn chế sự can thiệp... Cải cách hành chính và quy luật kinh tế thị trường20/10/2006 11:39' AM Giống như quy luật tiến hoá của xã hội loài người và thế giới tự nhiên, sự phát triển kinh tế - xã hội cũng tuân theo những quy luật khách quan, tất yếu có ra đời phát triển và kết thúc, có tính kế thừa, cái sau tiến bộ hơn cái trước... Người trí thức trong nền kinh tế thị trường16/12/2005 08:37' AM Trí tuệ một khi đã trở thành hàng hóa thì cũng sẽ bị điều tiết theo qui luật cung-cầu. Nhiều trí thức trẻ hiện nay đặt mục tiêu hàng đầu là tìm những nơi trả lương cao để làm việc... Kinh Tế thị trường và Xã hội Công dân như một Hệ thống: Trường hợp Việt Nam22/11/2005 08:16' AM Bài viết này thử nhìn kinh tế thị trường và xã hội công dân như một hệ thống và điểm lại tình hình Việt Nam qua một số kết quả nghiên cứu của tác giả về kinh tế Việt Nam đã xuất bản hoặc mới chỉ phổ biến hạn hẹp trong vòng bạn bè... |
Quan hệ sở hữu xã hội chủ nghĩa, cũng như quan hệ sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là vấn đề luôn thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu lý luận, song ở đây, vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau.
Chúng ta đều biết, khi nghiên cứu xã hội tư bản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã phát hiện ra mâu thuẫn cơ bản của xã hội tư bản là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hoá của sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa. Mâu thuẫn đó là cơ sở sâu xa làm nảy sinh các mâu thuẫn khác và quy định sự vận động phát triển của xã hội tư bản. Từ đó, các ông đi đến dự báo về sự thay thế chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa bằng chế độ công hữu. Việc thay thế chế độ tư hữu bằng chế độ công hữu, theo quan điểm của các ông, không thể tiến hành ngay một lúc, mà phải là một quá trình lâu dài. Tuy nhiên, vào giai đoạn lịch sứ đó, các ông chưa chỉ ra mô hình cụ thể về chế độ công hữu.
Khi vận dụng một cách sáng tạo tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen vào điều kiện cụ thể ở nước Nga, V.I.Lênin đá chỉ ra hai con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đối với các nước tư bản phát triển, sau khi giai cấp vô sản giành được chính quyền, sẽ chuyển trực tiếp lên chủ nghĩa xã hội. Đối với các nước lạc hậu, con đường đó phải trải qua nhiều khâu trung gian, nhiều bước quá độ khác nhau. Ngay sau cách mạng tháng Mười, trong tác phẩm "Về bệnh ấu trĩ "tả khuynh" và tính tiểu tư sản", V.I.Lênin đã cực lực phê phán những tư tưởng nóng vội muốn xác lập ngay chế độ công hữu. Đặc biệt, trong chính sách kinh tế mới, ông đã đưa ra tư tưởng về nền kinh tế nhiều thành phần, về các hình thức kinh tế quá độ, đặc biệt là vấn đề sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước với tư cách là "sự chuẩn bị vật chất đầy đủ nhất cho chủ nghĩa xã hội, là phòng chờ đi vào chủ nghĩa xã hội", là "nấc thang lịch sử", là "bước tiến lên" chủ nghĩa xã hội.
Sau khi V.I.Lênin mất, Liên Xô đã đi vào thực hiện công nghiệp hoá, đẩy mạnh quốc hữu hoá và tập thế hoá, thực hiện quản lý kinh tế theo mô hình kế hoạch hoá tập trung. Mô hình đó đá phát huy tác dụng tích cực trong điều kiện Liên Xô bị các nước tư bản bao vây, đặc biệt là trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Từ đó dẫn đến quan điểm tuyệt đối hoá mô hình kế hoạch hoá tập trung, tuyệt đối hoá công hữu được hình thức: toàn dân và tập thể. Thậm chí, vào những năm 80 của thế kỷ XX, ở Liên Xô đã không ít người cho rằng, hình thức sớ hữu tập thể đang từng bước chuyển thành sở hưu toàn dân. Như vậy, vào giai đoạn lịch sử đó đã xuất hiện quan niệm cho rằng, chế độ công hữu phát triển đến đỉnh cao se trớ thành một hình thức sở hữu duy nhất là sở hữu toàn dân. Song, giờ đây, trên thực tế, mô hình đó đã sụp đổ còn chủ nghĩa tư bản thì vẫn tiếp tục phát triển. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải xem xét lại mô hình sở hữu xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở đó, mới có thể đi đến một quan niệm nhất quán về sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Muốn có câu trả lời đúng cho vấn đề này, trước hết phải có phương pháp tiếp cận đúng. Chúng ta không thể lấy ý muốn chủ quan thay thế các quy luật khách quan. Theo quy luật thì quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển cửa lực lượng sản xuất. Trong lịch sử, sự phát triển của lực lượng sản xuất là quá trình không ngừng đổi mới và hoàn thiện công cụ lao động, đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ người lao động, là quá trình hình thành, phát triển phân công lao động xã hội, chuyểền từ lực lượng sản xuất có tính chất cá nhân lên lực lượng sản xuất có tính chất xã hội. Đặc biệt, trong thời đại ngày nay, khi khoa học đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, lao động trí tuệ ngày càng đóng vai trò to lớn, lực lượng sản xuất đã mang tính quốc tế, quá trình chuyển biến đó ngày một rõ ràng hơn.
Cùng với quá trình phát triển của lực lượng sản xuất, các chế độ sở hữu cũng như các hình thức sở hữu cũng thay đổi. Trong lịch sử phát triền của nhân loại, các chế độ sở hữu đã lần lượt thay thế nhau: từ chế độ công hữu nguyên thuỷ đến chế độ chiếm hưu nô lệ, phong kiến, chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa và chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa. Lịch sử phát triển của nhân loại cũng cho thấy, không có một chế độ sở hữu nào là thuần nhất một hình thức sở hữu, mà nó là sự đan xen nhiều loại hình, nhiều hình thức sở hữu khác nhau. Tuy nhiên, trong đó có một loại hình sở hữu đóng vai trò chi phối, quy định bản chất của chế độ sở hữu trong từng giai đoạn lịch sử. Xu hướng phát triển của nhân loại không phải đi đến chỗ đơn nhất hoá mà ngược lại, ngày càng đa dạng hoá các hình thức sở hữu. Nếu như trong xã hội nguyên thuỷ chỉ mới có công hữu nguyên thuỷ thì ngày nay, trong các nước đều đan xen rất nhiều hình thức sở hữu khác nhau. Xu hướng phát triển đó là tất yếu, phù hợp với quá trình xã hôi hoá của lực lượng sản xuất. Lực lượng sản xuất có tính xã hội đòi hỏi quan hệ sản xuất cung phải có tính xã hội. Tính xã hội ở đây thể hiện trong tính đa dạng của nó, chính tính đa dạng đó mới tạo ra sự kết hợp tối ưu các yếu tố của lực lượng sản xuất. Trước đây, nói đến chế độ công hữu là nói đến quá trình biến tư liệu sản xuất thành sở hữu toàn dân và tập thể, và cuối cùng, đi đến một hình thức sở hưu duy nhất là sở hưu toàn dân. Từ đó dẫn đến công hữu hoá ồ ạt, càng nhanh càng tốt. Song thực tiễn đã cho thấy, đó là quan điểm sai lầm. Chế độ công hưu xã hôi chủ nghĩa không hề gạtạt bỏ tính đa dạng các hình thức sở hữu mà ngược lại, chúng thống nhất với nhau. Trong tính đa dạng các hính thức sở hữu, công hữu phải giữ vai trò chi phối. Điều đó cho phép phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, đồng thời giữ vững được bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa.
Nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đòi hỏi "phải trải qua một thòi kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế xã hội có tính chất quá độ và trong thời kỳ quá độ ấy có nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, nhiều thành phần kinh tế". Trong đường lối kinh tế, Đảng ta đề ra: "Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuân phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Quan hệ sản xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa hay quan hệ sản xuất trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là vấn đề rất mới mẻ về lý luận và thực tiễn. Phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa có nghĩa là chúng ta chưa thể có ngay chủ nghĩa xã hội theo đúng nghĩa của nó, mà đó là một quá trình, là mục tiêu mà chúng ta phải đạt tới. Trong quá trình đó, phải từng bước xác lập chủ nghĩa xã hội, phải tạo ra những điều kiện, những tiền đề để phát triển theo đúng quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội, tránh nguy cơ chệch hướng. Trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phải kết hợp mục tiêu tăng trưởng kinh tế với mục tiêu xã hội và mục tiêu bảo vệ môi trường nhằm thực hiện "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh".
Để phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, Đảng ta chủ trương đa dạng hoá các hình thức sở hữu. Và "từ các hình thức sở hữu cơ bản: sớ hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân hình thành nhiều thành phần kinh tế với những hình thức tổ chức kinh doanh đa dạng, đan xen, hỗn hợp". Để đạt được điều đó, đòi hỏi chúng ta phải thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần. Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu đài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân".
Theo đó, có thể nói, quan hệ sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải kết hợp chặt chẽ giữa hai mặt: một mặt, phải đa dạng hoá các hình thức sớ hữu và coi đó là một trong những điều kiện tất yếu của kinh tế thị trường, mặt khác, phải không ngừng củng cố và hoàn thiện sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể. Đó là yếu tố quyết định đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa về mặt kinh tế. Việc kết hợp hai mặt đó là nét đặc thù của quan hệ sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là vấn đề có tính chiến lược nhằm phát huy sức mạnh của toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Nguồn:
Tạp chí Triết học Số lượt đọc:
27551
-
Cập nhật lần cuối:
03/10/2008 01:50:49 AM
Trao đổi/Nhận xét | Tổng số:
1 |
Thực chất của vấn đề sở hữu trong quan điểm của triết học Mác - Lênin Để làm rõ vấn đề này cần phải có cách tiếp cận mới về định nghĩa giai cấp của V.I.Lênin, quan điểm của C.Mác về giai cấp công nhân trong "Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản".
Ý kiến của bạn về bài viết:Chất lượng tư duy phụ thuộc vào trí tâm, chứ không phải tuổi tác26/08/2010 09:05' PM Coócnây, một nhà văn nổi tiếng của Pháp trong tác phẩm “Lơ xít” của mình đã viết: “Tài năng không chờ đợi tuổi tác”. Chất lượng tư duy, một biểu hiện tài năng đầu tiên của con người cũng không phụ thuộc vào tuổi tác. Tâm và trí là hai yếu tố nền tảng quyết định mọi chất lượng tư duy của người... Ngày nay, không đổi mới nhận thức cũng coi như mù chữ08/08/2010 12:38' PM Trình độ nhận thức thực tế khách quan của con người cũng bị giới hạn bởi điều kiện lịch sử. Có những điều mà ngày hôm nay cho là chân lý nhưng ngày mai lại bị nghi ngờ, thậm chí bị phủ định do có những phát minh, phát kiến mới, làm thay đổi hiểu biết của con người. Do đó nhận thức của con người phải luôn luôn đổi mới... Các định đề cơ bản trong đạo đức học I. Kant05/08/2010 10:43' AM Trong bài viết này, tác giả tập trung phân tích 3 định đề cơ bản trong đạo đức (lý tính thực tiễn) của I.Kant – Có một linh hồn bất tử ở thế giới bên kia, có tự do tuyệt đối ở thế giới bên kia và có Thượng đế ở thế giới bên kia – với tư cách những định đề đóng vai trò như những giả thiết tất yếu cho mọi hành vi đạo đức của con người trong quá trình vươn tới sự Thiện – tối cao, như những mệnh đề mà sự tồn tại của các quy tắc đạo đức phải phụ thuộc vào chúng, còn bản thân chúng sở dĩ có giá trị như những định đề là nhờ sự tồn tại của các quy tắc đạo đức. Tập đoàn và sự nhầm lẫn về mình03/08/2010 02:42' PM Vượt qua những sự xúc động khác nhau đối với Vinashin, Luật sư Nguyễn Ngọc Bích giải thích tình trạng của một số tập đoàn theo quan điểm quản trị kinh doanh hay quản trị xí nghiệp (business management) để hy vọng trong tương lai sẽ không còn một vụ như thế. Quan điểm và cách nhìn nhận của học giả Việt Nam về sự sụp đổ của Liên Xô và tiền đồ chủ nghĩa xã hội.30/07/2010 05:05' PM Trong bài viết này, tác giả đã đưa ra và phân tích quan điểm và cách nhìn nhận của các học giả Việt Nam trong những năm gần đây về những nguyên nhân cả bên trong lẫn bên ngoài, khách quan lẫn chủ quan dẫn đến sự sụp đổ đó và về tiền đồ tươi sáng, về triển vọng phát triển của chủ nghĩa xã hội trong tương lai từ thực tiễn đổi mới của Việt Nam và cải cách mở cửa của Trung Quốc. Những bậc thầy của muôn đời29/07/2010 11:23' AM Bị nhà cầm quyền thành phố Athens kết tội chối bỏ các vị thần, dạy dỗ làm hư hỏng lớp trẻ, Socrates phải chọn lựa hoặc từ bỏ những niềm tin của mình hoặc bị xử lưu đày hay là chết. Ông chọn cái chết bằng thuốc độc. Tu thân của Nho giáo và vấn đề đối thoại văn hóa23/07/2010 08:40' AM Từ sự “tu thân” mang tính chất đạo đức trong cuốn “Đại học” của Nho giáo, bài viết so sánh khái niệm đó với khái niệm “tính thể” của triết học phương Tây cận hiện đại. Và từ đó, bài viết bàn về mối quan hệ giữa tu thân với đối thoại văn hóa. Rằng, tu thân là cơ sở bền vững để thiết lập những đối thoại văn hóa không những giữa các cộng đồng trong một quốc gia, mà còn giữa các nền văn hóa khác nhau. Và, tu thân chính là tiến trình biện chứng giữa tiếp nhận và phát triển văn hóa. Bản chất của chính phủ (The Nature of Government) - phần 222/07/2010 08:31' AM Sự phát triển của khái niệm “chính phủ” đã trải qua một quá trình lịch sử dài và quanh co. Những ý nghĩ mơ hồ về chức năng của chính phủ dường như đã tồn tại trong tất cả các xã hội có tổ chức... Bài khác: Vấn đề nhận thức và khả năng tự ý thức của con người trong triết học Đêcáctơ08/05/2007 11:18' AM Trong số các nhà triết học mà cho đến nay, nhân loại không thể không kể tới, R.Đêcáctơ được thừa nhận là người có một vị trí đặc biệt quan trọng trong lịch sử triết học. Ông là người đã sử dụng phương pháp hoài nghi của mình để đấu tranh chống lại triết học kinh viện giáo điều từng thống trị suất thời Trung cổ đen tối và tạo dựng nền tảng cho việc kiến tạo lâu đài khoa học với những phương pháp mới. Vấn đề trong phạm trù triết học Ấn Độ cổ đại04/05/2007 11:32' AM Trong đời sống tinh thần của người Ấn Độ, bên cạnh tôn giáo, triết học có một vai trò khá quan trọng. Chính vì sự gần gũi đó mà triết học Ấn Độ gắn liền với các tôn giáo. Đúng như lời nhận xét của Radhakrishnan:"Triết học Ấn Độ mang đượm màu sắc chủ nghĩa duy linh, chính chủ nghĩa duy linh đã cho Ấn Độ khả năng chống lại các cuộc chiến tranh của thù trong giặc ngoài. Triết lý nước và hội nhập27/03/2007 02:29' PM Đặc điểm tự nhiên của việt Nam mang tính chất bán đảo nổi trội. Trung bình cứ 1 km2 đất đai có 1km đường sông. Bởi vậy, nếu hiểu văn hóa là môi trường được con người thích nghi và biến đổi, thì tính sông nước được xem là một đặc trưng của văn hóa Việt Nam. Tìm hiểu khái niệm “Anomie”15/03/2007 03:36' PM Khái niệm "anomie" xuất phát từ sự kết hợp của hai từ trong tiếng Hy Lạp là: an (chỉ sự thiếu vắng) và nomos (có nghĩa là luật lệ, trật tự, cấu trúc). Do đó có thể hiểu đây là khái niệm chỉ sự rối loạn, sự vô tổ chức do không tuân thủ các quy tắc, các chuẩn mực xã hội nơi các cá nhân. Ý thức toàn cầu và vai trò của triết học trong việc xây dựng ý thức toàn cầu01/01/1900 12:00' AM Toàn cầu hoá là một xu thế tất yếu, khách quan, nó vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực đặt ra cho tất cả các quốc gia, dân tộc cả những vận hội lẫn những thách thức. Việc nhận thức những vấn đề toàn cầu đòi hỏi phải có ý thức toàn cầu. Ý thức toàn cầu, theo tác giả, có các đặc trưng:
- Phản ánh uy thế của các giá trị toàn nhân loại,
- Nó phải được chỉnh lý một cách căn bản trong sự tự ý thức của từng dân tộc cũng như của từng cá nhân,
- Có tính khoa học cao, để xây dựng ý thức toàn cầu, triết học đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Vai trò này thể hiện ở hai chức năng cơ bản của nó: chức năng thế giới quan và chức năng phương pháp luận.
Mối quan hệ giữa các phạm trù và hệ thống các luận đề giác tính thuần túy trong triết học I.Cantơ17/01/2007 08:18' PM Trong tác phẩm Phê phán lý tính thuần tuý, nhà triết học nổi tiếng người Đức, I.Cantơ (1724-1804) đã tự nhận mình là người cải cách triết học, vì chính ông đã tạo ra bước ngoặt Côpécníc trong lĩnh vực nhận thức luận bằng cách đặt ngược lại một số vấn đề mà triết học truyền thống tưởng chừng như đã giải quyết một cách trọn vẹn, xong xuôi... Thay đổi từ đâu?01/01/1900 12:00' AM Kết thúc một năm cũ, suy nghĩ rất tự nhiên của mỗi người là mong những cái mới. Nam giới ưa mạo hiểm, lại chỉ thích làm chuyện "to tát" nên năm mới cũng là thời điểm để bắt đầu một dự án mới, một công việc mới hoặc một cuộc chinh phục mới. Tất cả đều mong muốn có sự thay đổi! Bản chất của nhận thức và vai trò của nó trong việc sáng tạo khái niệm, phạm trù31/12/2006 07:51' PM Trong bài viết này cố gắng hệ thống hoá những ý kiến của các nhà kinh điển của triết học Mác xoay quanh vấn đề bản chất của nhận thức và vai trò của nó trong việc sáng tạo nên các phạm trù... |