Bàn thêm về bài "Thử tìm hiểu tầng lớp trí thức của Việt Nam" của GS - TS Chu Hảo

10:45 CH @ Thứ Bảy - 26 Tháng Sáu, 2010
GS Chu Hảo có bài tham luận “Thử tìm hiểu tầng lớp trí thức Việt Nam”[1] tại 53 Nguyễn Du Hà nội vào ngày 11/6/2010. Đây là một bài có ý nghĩa rất quan trọng. Tất cả những gì Ông viết đều làm cho chúng ta suy ngẫm. Đặc biệt khi Ông bàn về phẩm tính của người trí thức Việt.

Theo GS Chu Hảo phẩm tính đặc trưng của trí thức Việt hiện nay có thể được tả bằng chữ “hèn”. Rồi Ông cũng đưa ra những ý kiến nhằm góp phần xây dựng đội ngũ trí thức trong hiện tại và tương lai. Ông bảo “cần phải tạo điều kiện thuận lợi cho tầng lớp trí thức thực thụ được hình thành và phát triển như Nghị quyết của TW Đảng về Xây dựng đội ngũ trí thức đã nêu rõ”. Điều kiện cơ bản mà ông nhấn mạnh là nền dân chủ. GS Chu lại cụ thể hóa vấn đề dân chủ thành ba điểm mấu chốt:

“-Trước hết phải thực hành Dân chủ ở trong nội bộ Đảng.
-Phải từng bước xây dựng một xã hội dân sự lành mạnh.
-Phải thực sự tôn trọng quyền tự do ngôn luận của công dân như được ghi trong Hiến pháp.”

Chủ ý của GS Chu Hảo rất mạch lạc và thẳng thắn. Chúng tôi hoàn toàn tán đồng, nhưng cũng bạo gan xen thêm vài ý nhỏ.

1.Thiên chức của trí thức

Các nhà nghiên cứu động vật học bảo chó là loài động vật tinh khôn. Trong muôn loài, bộ óc của chó đứng thứ hai sau bộ óc người. Vậy bộ óc rất quý. Bộ óc là nơi tích tụ tri thức. Nhưng quan trong hơn cả, cách thức sử dụng tri thức đã tích tụ ấy (phương pháp tản cái khối tri thức đang tích trong óc ra) mới có thể biến chúng ta thành người, thành cao hơn hẳn muôn loài.

Vì vậy, chúng tôi sẽ dựa trên nguyên lý cơ bản của tự nhiên học là nguyên lý tích/tản [2] để có vài lời thưa lại với GS Chu Hảo về thiên chức của người trí thức. Theo GS Chu Hảo thiên chức của trí thức là:1) Tiếp thu và truyền bá tri thức KH&CN hoặc VH&NT ; 2) Sáng tạo các giá trị mới của tri thức KH&CN hoặc VH&NT; 3) Đề xuất, phản biện một cách độc lập các chủ trương chính sách và biện pháp giải quyết các vấn đề của xã hội; 4) Dự báo và định hướng dư luận xã hội.

Như vậy, trí thức muốn thực hiện thiên chức của mình phải thực hiện hai quá trình: thứ nhất là tích, thứ hai là tản. Họ tích lũy kiến thức hiểu biết để truyền bá, để sáng tạo, để phản biện và để dự báo. Theo nguyên lý tích/tản cả 4 hành vi truyền bá, sáng tạo, phản biện và dự báo đề thuộc pha tản. Nếu lấy bộ óc làm trung tâm ta có thể hình dung thiên chức của trí thức theo biểu đồ hình 1 dưới đây. Theo biểu đó đó, về mặt hình thức bốn thiên chức của người trí thức là hoàn toàn tương đồng nhau: tích để tản. Nhưng, về mặt chất lượng hành động (có thể hơi khiên cưỡng) truyền bá là thang độ thấp còn dự báo là ở thang độ cao. Ví dụ, đọc bài giảng “quan hệ tuyến tính là một đường thẳng” là truyền bá, nhưng từ thế kỷ 16 mà nói câu “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân” lại là dự báo thiên tài.


Hình 1. Thiên chức của trí thức theo nguyên lý tích tản

GS Chu Hảo chắc có ý xếp thứ tự cho dự báo ở cấp 4 trong định nghĩa thiên chức của người trí thức. Cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm đã dự báo rất tài tình. Cụ đã đưa ra dự báo trong môi trường xã hội phong kiến phi dân chủ. Do đó có thể nói người trí thức có thể sống và làm việc trong các môi trường xã hội rất khác nhau. Kể cả các xã hội quân chủ chuyên chế. Bởi vì, xã hội nào cũng có những người thông tuệ. Họ là những trí thức. Họ là những người nắm vững nguyên lý tích/tản của tự nhiên. Họ biết tích và họ biết tản.

Tóm lại, thiên chức của trí thức là tích lũy không ngừng để tản không ngừng. Họ phải tản ra những giá trị sáng tạo và những giá trị văn hóa. Nghĩa là, thiên chức của người trí thức là không ngừng học tập rèn luyện để nắm vững nguyên lý tích/tản, và vận dụng nguyên lý ấy ở mức độ nghệ thuật.

2. Phẩm tính của trí thức Việt Nam

Nếu nói trí thức Việt nam hiện nay hơi có tính “hèn” cũng có thể đúng. Nhưng xem xét dài lâu trong lịch sử thì phẩm tính nội trội của trí thức Việt Nam là “sớm mệt”. Vậy tại sao sớm mệt? Ngày xưa muốn tích đủ mấy bồ chữ để đi thi, thì đã mất mười mấy năm Hán học, hoặc hơn nữa. Quá trình mười mấy năm ấy rất mệt mỏi. Vừa được võng lọng xong, lại được triều đình trọng tài, nên các vị thi đỗ thường ra làm quan luôn. Do đó, ít người có điều kiện dấn bước trên con đường học thuật. Họ đã học và truyền bá chữ nghĩa thánh hiền, hoặc sáng tác những bài thơ. Đôi khi họ cũng có những điều trần trước vua. Họ cũng có những dự báo. Nhưng điều trần (phản biện) và dự báo rất ít. Mặt khác, trong cả ngàn năm Hán học, gần như tầng lớp trí thức nước ta không tích lũy tri thức nhiều đến mức có thể sáng tạo ra một trường phái mới nào ngoài phạm vi các kiến thức đã tích lũy. Vì vậy gọi là sớm mệt.

Tâm lý sớm mệt có gốc rễ từ văn hóa làng. Ngày nay, chúng ta thường nghe nói công trình A, B, C nào đó có tầm cỡ nhất Đông Dương, hoặc nhất Đông nam Á. Đó là vì xưa nay chúng ta hay có cách đánh giá theo kiểu nhất làng, hay nhất xứ Đông, Xứ Đoài. Đối với tầng lớp có học khi đạt được cái đích bảng vàng là thỏa mãn rồi và ít khi ưu tư về những vấn đề khác. Tâm lý sớm mệt có lẽ xuất phát từ các nghề khác nữa. Ví dụ, có nhiều anh thợ cày xong một thửa ruộng liền ngả lưng khoan khoái trên bãi cỏ xanh mát ngay.

Sớm mệt làm cho người ta đi nửa đường chân lý. Mà muốn hoàn thành thiên chức của người trí thức, người ta nhất định phải tìm đến chân lý. Muốn phản biện phải biết chân lý, muốn dự báo càng phải biết chân lý. Nếu GS Chu Hảo bảo hai thiên chức đầu (truyền bá, sáng tạo) thuộc về người lao động trí óc, còn hai thiên chức sau (phản biện, dự báo) thuộc về trí thức, thì rõ ràng rằng tâm lý sớm mệt càng làm cho những người có học khó đạt đến hai thiên chức sau. Vì sớm mệt cho nên, những người có học không phát triển lên thành tầng lớp trí thức tinh hoa, mà lâu lâu mới có vài vị biệt tài xuất chúng (ví dụ Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quí Đôn, Lê Hữu Trác, Đỗ Tất Lợi, Nguyễn Hiến Lê,…). Những vị đó xứng đáng là những trí thức tiêu biểu cho dân tộc Việt nam. Hiềm vì số lượng quá ít nên không thể lập thành một tầng lớp. Trong những năm gần đây, những người có học sớm mệt ngày càng nhiều[3]. Họ sớm mệt vì phải đảm đương việc quan, không còn nhiều thời gian để đi theo con đường liên tục tích lũy tri thức nhằm vươn tới đỉnh cao của sáng tạo. Muốn khắc phục tâm lý “sớm mệt” phải có hùng tâm.

3. Nền dân chủ và trí thức

Nền dân chủ cho phép mọi công dân được tự do phát biểu ý kiến. Người trí thức trong quá trình đi tìm chân lý rất cần phát biểu ý kiến thẳng thắn công khai. Khi phát biểu ý kiến, họ có điều kiện nhận được những chỉnh sửa của công luận. Do đó, họ có thể đi đến chân lý nhanh hơn. Đó gọi là phản biện xã hội. Không có những phản biện ấy, rất khó đi đến chân lý. Vì con đường đi đến chân lý thường là quanh co khúc khuỷu. Mà thiếu dân chủ thì khó có phản biện. Người ta bảo nền dân chủ là môi trường bên ngoài của phản biện.

Tuy nhiên, còn một môi trường phản biện bên trong nữa. Đó là môi trường bên trong bộ óc của mỗi người. Tức là, người ta hoàn toàn có quyền và có thể tranh biện với chính mình. Nhưng làm thế nào để có thể tranh biện với chính mình khi mà mình luôn luôn có xu thế bảo vệ những ý tưởng của mình, những ý tưởng mà mình đã dày công xây dựng.

Thực vậy, muốn tranh biện phải so sánh đối chiếu với chân lý. Vậy cái mà mình nghĩ ra đã phải là chân lý chưa. Nó có phù hợp với cái “dưỡng” làm thước đo so sánh ở trong óc không. Nhiều khi chúng ta chưa biết mình có cái dưỡng đó. Nhiều người nói họ “cảm nhận” việc này đúng, hoặc theo kinh nghiệm “tôi cảm thấy” đúng. Do đó, việc đầu tiên là phải xây dựng một cái dưỡng trong nhận thức, để lựa chọn trong mớ những “cảm nhận” những cái hữu lý nhất. Cái dưỡng đó là nguyên lý phổ quát của tự nhiên. Nguyên lý phổ quát là gì? Là nguyên lý đúng cho mọi hiện tượng, mọi lúc, mọi nơi.

Một người có học, nếu không mệt mỏi, kiên trì “tinh tiến” đi hết con đường của mình thì chắc chắn một ngày nào đó sẽ nhận ra một thứ qui luật đúng đắn phổ biến trong nghề nghiệp chuyên môn của mình. Dù anh ta là họa sỹ, là nhạc công, hay một bác học, một thợ thủ công, một nhà quản lý… thì khi làm việc nhuần nhuyễn trong chuyên môn của mình anh ta sẽ tìm được chân lý của nghề nghiệp. Một lúc chín muồi nào đó anh ta sẽ thấy qui trình nghề nghiệp ấy có nét tương đồng với các qui trình nghề nghiệp khác. Mở rộng ra, qui nạp lại, anh ta sẽ ngộ được một qui luật phổ biến cho tự nhiên và xã hội. Qui luật ấy chúng tôi gọi là nguyên lý tích/tản. Khi đã ngộ được nguyên lý tích/tản anh ta sẽ xây dựng được cho mình một môi trường phản biện bên trong. Khi đã có môi trường phản biện bên trong thì người trí thức đã có công cụ để nhận thức chân lý nhanh nhậy, sắc bén. Lúc đó, anh ta có thể tản (phát biểu) những phản biện và dự báo mà vẫn ung dung tĩnh tại, không nghi hoặc, không sợ lầm. Như vậy, muốn trở thành một nhà trí thức, có lẽ cũng phải sống đến ngoài 50 tuổi khi người ta đã tự ngộ ra được môi trường dân chủ bên trong bộ óc, gạt bỏ giáo điều. Bởi vì, giáo điều, sự cố chấp, niềm tin mù quáng chính là những ông vua độc tài ngự trị trong óc, ngăn cản sự tích lũy tri thức mới.

Tuy vậy, nếu chờ đến ngoài 50 tuổi thì lâu quá. Đảng và Nhà nước đang muốn xây dựng một cách nhanh chóng đội ngũ trí thức thật hùng hậu để có thể sớm biến tri thức thành lực lượng sản xuất tiên tiến trong mươi năm tới. Do đó, phải cải cách giáo dục, làm sao cho những thanh niên 19-20 tuổi tiếp thu được nền dân chủ nhanh chóng ngay trong cách cho điểm ở nhà trường phổ thông[4]. Những thanh niên đó sẽ sớm trở thành những trí thức có đức có tài vì họ được tích lũy kiến thức trong hai môi trường dân chủ: dân chủ bên trong bộ óc và dân chủ bên ngoài xã hội.


Tài liệu tham khảo

[1].Chu Hảo “Thử tìm hiểu tầng lớp trí thức Việt Nam” www.chungta.com.

[2].Thu San Nguyễn Thế Hùng “Ngũ hành nhịp điệu sáng tạo”, NXB Văn hóa thông tin, Hà nội 2008

[3].Chu Hảo, Tài liệu đã dẫn: “Ngày nay, những người có bằng cấp từ đại học, cao đẳng trở lên, được coi là tầng lớp “trí thức ”. Con số này vào khoảng 2, 6 triệu. Trong đó có bằng Tiến sĩ khoảng 16 nghìn, Thạc sĩ 20 nghìn, Giáo sư khoảng 1, 2 nghìn và Phó Giáo sư khoảng 7 nghìn. Lực lượng này nằm đông nhất là trong các cơ quan quản lý của Đảng và Nhà nước, sau đó là ở các trường học, bệnh viện, các lực lượng quân đội an ninh, và doanh nghiệp.”

[4].Thu San Nguyễn Thế Hùng “Ngũ hành và Khoa học”, NXB Văn hóa thông tin, Hà nội 2007., trang 101, “Ngũ hành trong khoa học và giáo dục”. Có thể xem trên www.chungta.com
Cập nhật lúc:

Nội dung liên quan

  • Trí thức: bộ phận độc lập về trí tuệ của xã hội

    09/08/2019D. S. Likhachev (Viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Nga) - Phạm Xuân Nguyên dịchTừ “trí thức” trong các thứ tiếng khác được coi là vay mượn từ tiếng Nga. Tôi muốn gọi trí thức là bộ phận độc lập về trí tuệ của xã hội. Đây không đơn giản là học vấn và những người có học làm việc trong lĩnh vực lao động trí óc. Sự độc lập trí tuệ là đặc điểm tối quan trọng của trí thức. Độc lập với các quyền lợi đảng phái, tầng lớp, giai cấp, nghề nghiệp, thương mại và thậm chí đơn giản là công danh.
  • Tri thức – Tư tưởng

    09/04/2019Nguyễn Trần BạtSự nâng cao dân trí, sự tiến bộ của nhân dân là thước đo trình độ phát triển của các quốc gia, đồng thời cũng là nguồn gốc của những đòi hỏi ngày càng cao, ngày càng khắt khe hơn đối với những nhà chính trị. Họ buộc phải có những phẩm chất cao hơn, đặc biệt là phải có trí tuệ cao hơn. Thời đại của những phương pháp cai trị ngu dân đã qua...
  • Để có lớp trí thức xứng đáng

    12/05/2018Hoàng TụyThời thế tạo anh hùng thì cũng thời thế, cơ chế tạo ra phẩm chất người trí thức. Nói rõ hơn là hoàn cảnh chính trị xã hội, là bản lĩnh, tài năng các nhà lãnh đạo quốc gia, và một phần chính yếu, là môi trường giáo dục đương thời. Cho nên tôi rất tán thành hãy bắt đầu bằng vấn đề giáo dục để bàn chuyện xây dựng lớp trí thức mới.
  • Tâm đàm về cái Sự học, Tri thức và Trí thức

    01/05/2018Nguyễn Tất ThịnhNgày xưa, người có trình độ như ông Giáo Thứ (trong Sống Mòn của Nam Cao) có thể được xem là Trí thức. Nói chúng họ có vẻ như là người học rộng biết nhiều, và có trình độ được đào tạo cao hơn mặt bằng chung, thuộc tầng lớp được xã hội gọi là ‘Thày’, như Thày Giáo, Thày cãi, Thày thuốc…
  • Trí thức và thói háo danh

    05/02/2018Vương Trí NhànTrí thức là một thành phần quan trọng, đóng vai trò định hình tư tưởng, dẫn dắt xã hội. Tuy vậy, theo nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn, không phải toàn bộ nhưng ít nhất một bộ phận trong số họ có những nhược điểm cố hữu...
  • Trí thức, lãnh đạo và cái dũng của phản biện

    14/06/2016Lê Vinh TriểnMột “không gian” rộng là thực sự cần thiết để trí thức có thể toàn tâm toàn ý thực hiện trọng trách của mình trước xã hội: phản biện để phát triển đất nước. Phản biện là một việc gắn liền, gần như song sinh với trí thức. Nếu không có phản biện thì không có trí thức thật sự. Đã là trí thức thì phải đã, đang và sẽ phản biện.
  • Trí thức và nửa trí thức: Đến cả sự nhợt nhạt cũng giống nhau đáng sợ

    16/05/2016Ngô Tự LậpTrích đăng từ bài “Giáo dục, Trí thức và nửa đường còn lại” của Ngô Tự Lậpbàn về trí thức và nửa trí thức.
  • Tri thức và trí thức

    25/03/2016GS. Nguyễn Ngọc LanhTrong xu hướng tiến hóa của xã hội, vai trò của tri thức và trí thức ngày càng quan trọng hơn. Bài viết thứ hai của Giáo sư Nguyễn Ngọc Lanh trong chủ đề thảo luận "Trí thức Việt Nam" phân tích một số nhận thức về vai trò của tri thức.
  • Xã hội Việt Nam đương đại trong những giá trị thực - ảo

    24/02/2016Thanh TùngỞ các nước phương Tây, hàng trăm năm đô thị hóa cũng là hàng trăm năm chuyển đổi từ đời sống nông nghiệp sang lối sống công nghiệp. Ở Việt Nam, hiện đại hóa trở thành một trong những mục tiêu của chính sách phát triển, quá trình chuyển đổi được đẩy lên với một tốc độ chóng mặt. Vì vậy, một số bước chuyển tiếp mà các xã hội hiện đại trải qua, và cần phải trải qua...
  • Xã hội cần những trí thức suy nghĩ độc lập

    01/02/2016Thượng Tùng thực hiệnTiến sĩ Vũ Thành Tự Anh, Phó Giám đốc Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, là một trong những chuyên gia trẻ được nhiều người biết. Anh là thành viên nhóm nghiên cứu của Trường Kennedy thuộc Đại học Harvard (Hoa Kỳ), tham gia thực hiện bốn bài thảo luận chính sách theo đề nghị của Chính phủ Việt Nam, là “cánh chim báo bão” nhẫn nại với nhiều bài báo đề cập những giải pháp tháo gỡ khó khăn từ một số chính sách của Nhà nước.
  • Tản mạn về trí thức và trí giả

    31/01/2016Trương Xuân HươngTrong “Từ điển tiếng Việt” do Viện Ngôn ngữ học biên soạn, GS Hoàng Phê chủ biên, hai từ “trí thức” và “trí giả” không có nghĩa khác nhau là mấy...
  • Trí thức và nhận thức pháp quyền

    30/10/2015B. A. Kistiakovski - Phạm Nguyên Trường dịch và chú thíchMột số người cho rằng pháp luật chỉ có giá trị tối thiểu về đạo đức, một số khác lại cho rằng cưỡng chế, nghĩa là bạo lực, là thành tố không thể tách rời của pháp luật. Nếu đúng là như thế thì chẳng có cơ sở nào để chê trách giới trí thức của chúng ta trong việc coi thường pháp quyền hết. Giới trí thức của chúng ta luôn hướng tới những lý tưởng tuyệt đối và trên đường đi của mình nó có thể bỏ qua cái giá trị thứ cấp này.
  • Trí thức là ai?

    10/04/2015Phạm Xuân NguyênTrí thức là người có tri thức và biết suy nghĩ khác biệt và độc lập, và là người chỉ truy cầu một mục đích: chân lý. Từ vị thế này, trí thức mới có thể tác động và ảnh hưởng đến sự phát triển và tồn vong của xã hội và quốc gia...
  • Sự trung thực của trí thức

    30/08/2014Lê ĐạtTheo nghĩa truyền thống, kẻ sĩ là một người có học. Còn học nên biết lẽ phải trái để “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Cái dũng của họ không phải cái dũng chém tướng đoạt thành mà là hệ quả của cái trí, nhằm làm sáng tỏ đạo thánh hiền. Đó là một công việc khó khăn, thậm chí nguy hiểm.
  • Sĩ phu, trí thức nước nhà xưa và nay

    08/09/2013TS. Chu HảoKhông ai nâng cao được vai trò của trí thức nếu giới trí thức của chúng ta không tự khẳng định được mình! Không ai san sẻ trách nhiệm với trí thức được; chỉ có trí thức mới thi hành được thiên chức của mình; vinh quang và cay đắng gắn liền với thiên chức ấy cũng chỉ dành riêng cho giới trí thức mà thôi!
  • Nho sĩ và trí thức hiện đại

    12/09/2009Nguyễn Khắc ViệnGiống như quan lại thời xưa, mấy nghìn trí thức được đào tạo dưới thời thuộc địa ở các trường đại học bên Pháp hay ở Hà Nội đều sống xa nhân dân. Chúng tôi là những người thành thị thuần túy trong một nước mà 95% dân sống ở nông thôn. Khi các nho sĩ ra lời kêu gọi, cả nước từ Nam ra Bắc đều hưởng ứng, vì sống trong làng, hàng ngày, nhà nho có quan hệ mật thiết với nông dân. Chúng tôi thì bị chìm giữa đất nước, không có kim chỉ nam, không có gậy chỉ đường.
  • Quan niệm về trí thức và vị trí của trí thức với sự phát triển xã hội

    03/08/2009Đất nước đang tiến vào tương lai trong thời đại loài người tăng tốc chia sẻ nguồn tài nguyên tri thức bằng sự phát triển vũ bão của CNTT, truyền thông, thế giới Internet kỳ diệu. Quốc gia nào cũng khao khát làm chủ nền kinh tế tri thức mới. Vai trò và trách nhiệm của trí thức ngày càng trở nên quan trọng, thúc bách. Chungta.com xin trân trọng giới thiệu chủ điểm về Người Trí Thức, tổng hợp lại các bài nghiên cứu hoặc tranh luận nhằm tạo ra một góc nhìn đa diện, nhiều chiều về chân dung người trí thức nói chung và vai trò, vị trí của họ đối với sự phát triển của cộng đồng, xã hội, quốc gia, dân tộc.
  • Khủng hoảng trí tuệ và sứ mệnh tầng lớp trí thức

    30/07/2009N. A. Berdaev* - Phạm Nguyên Trường dịch và chú thíchTình hình trong lĩnh vực trí tuệ và các đại diện của nó, tức là tầng lớp trí thức, càng ngày càng trở thành nặng nề và nguy hiểm. Sự độc lập trong tư duy, tự do trong sáng tạo đang bị những phong trào đầy sức mạnh của thời đại chúng ta phủ nhận. Các thế hệ hiện nay và các lãnh tụ của chúng không công nhận vai trò định hướng của trí tuệ và tư duy. Trong lĩnh vực này thì thế kỷ của chúng ta khác xa với các thế kỷ XIX và XVIII. Những người trí thức, những người sáng tạo văn hóa tinh thần hiện nay cần phải thực hiện các đơn đặt hàng của đời sống, phải phụng sự các quyền lợi của xã hội và ước muốn bá quyền.
  • Chế độ xã hội với trí thức

    03/07/2009Nguyễn Ngọc LanhMỗi chế độ xã hội đều có tầng lớp lao động trí óc của mình với tiêu chuẩn và tên gọi riêng. Nói một cách danh chính và chặt chẽ, trí thức đúng nghĩa chỉ xuất hiện trong những xã hội đã có dân chủ, tự do; nhất là tự do báo chí. Cách mạng tư sản Pháp thành công năm 1789, nhưng hơn một thế kỷ sau mới ra đời từ trí thức; chính là vì phải đợi cho tự do, dân chủ phát triển đạt yêu cầu. Nhưng ở thế kỷ XX, nhiều nước châu Á tuy rất nặng căn phong kiến mà chỉ cần vài thập niên đã có đủ dân chủ, tự do để trí thức “đúng nghĩa” xuất hiện. Thế ký XXI hẳn phải nhanh hơn nữa.
  • Phẩm cách quan trọng của người trí thức

    21/06/2009Lê Ngọc Sơn (thực hiện)Giáo sư Nguyễn Huệ Chi chia sẻ với SVVN về tư cách của trí thức, và sứ mệnh của trí thức trong sự nghiệp đưa đất nước ngày một cường thịnh.
  • Suy nghĩ về khái niệm trí thức

    14/04/2009GS - Nhà giáo nhân dân, Nguyễn Ngọc LanhCó nhiều định nghĩa trí thức, rất dễ tìm trên internet. Không chỉ nhiều, mà rất nhiều, cho thấy đến nay định nghĩa trí thức vẫn chưa thật định hình. Do vậy, khi bàn về trí thức thường người ta phải xác định khái niệm trước khi bàn tiếp. Nhiều nhà trí thức lớn cũng đưa định nghĩa của mình, trong đó có những định nghĩa mới chỉ nêu tính cách đặc trưng hơn là nêu bản chất.
  • Sự lộng hành của yếu tố ảo trong nền kinh tế tri thức

    08/04/2009Phan Thế HảiSự kiện 15/09/2008, khi Lehman Brothers tuyên bố phá sản được coi là vụ nổ tài chính lớn nhất trong vòng 80 năm qua của nền kinh tế thế giới. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu không chỉ làm hao tốn tiền bạc, tốn giấy mực của báo chí mà còn báo hiệu sự lung lay của triết học kinh tế mà WTO theo đuổi suốt 15 năm qua.
  • Nghĩ về người tri thức

    12/09/2008G.S Tương LaiTừ đòi hỏi phát triển của xã hội hiện đại mà hiểu sâu hơn cái logic của tư duy truyền thống khi đặt kẻ “ sĩ” đứng đầu trong thang bậc phận vị xã hội khi các cụ ta từng hiểu rõ “ phi thương bất phú, phi công bất hoạt, phi nông bất ổn, phi trí bất hưng”. Khi tiến trình phát triển và hội nhập của đất nước đi vào chiều sâu, vấn đề tri thức và trí thức càng nổi rõ...
  • Trí thức là ai?

    30/01/2007Tiến sĩ Nguyễn Quang ATrong thế giới toàn cầu hóa ngày nay (với cách mạng công nghệ thông tin và truyền thông, với sự phổ biến của Internet, với sự bành trướng sức mạnh của thông tin, của biểu tượng, với sự tiến nhanh đến nền kinh tế tri thức) thì vai trò và trách nhiệm của trí thức là rất lớn lao. Trên Vietnamnet đang có cuộc tranh luận về trí thức Việt Nam mạnh hay yếu. Bài này mong góp vài ý kiến về chủ đề này....
  • "Trí thức không được phép thiếu tri thức"

    05/06/2006Trịnh TúKhi còn là Thứ trưởng Bộ Khoa học - Công nghệ, có một dịp được trò chuyện với ông, tôi thực sự ngạc nhiên khi nghe ông tâm sự: "Vốn liếng tri thức của mình chẳng được là bao, ngày càng thấy mình nhiều lỗ hổng quá!". Khi đó ông đang được đánh giá như một người tiên phong trong lĩnh vực khoa học công nghệ VN. Bây giờ nghe nói ông làm Giám đốc - Tổng Biên tập Nhà XB Tri Thức, tôi lại tìm đến ông để được nghe ông nói tiếp câu chuyện này.
  • Thế nào là người trí thức?

    13/12/2005Paul Alexandre Baran (Phạm Trọng Luật dịch)Câu trả lời hiển nhiên nhất có lẽ như sau: đấy là người lao động với trí tuệ của mình, và kiếm sống (hoặc trong trường hợp không phải bận tâm vì sinh kế, thoả mãn lợi ích riêng của mình) nhờ bộ óc hơn là bằng bắp thịt. Tuy khá giản tiện và trực tiếp, nhìn chung, định nghĩa này vẫn không thích hợp. Đúng cho bất cứ ai không làm việc tay chân, rõ ràng là nó không ăn khớp với nghĩa thông thường của từ «trí thức».
  • xem toàn bộ