Đại học đi về đâu?

Cao Huy ThuầnGiáo sư emeritus Đại Học Picardie (Pháp) - Tạp chí Thời đại mới
09:24' SA - Thứ sáu, 19/03/2010

2. Về tri thức.

"Khoa học là một", tôi lại trích Léon Bourgeois, bỗng nhiên trở thành hiện đại hơn bao giờ hết. Tôi phải trích cả một đoạn dài:

"Khoa học là một. Giới trẻ trong học đường của ta phải ý thức như vậy. Mục đích của đại học không phải chỉ là chuẩn bị cho nghề nghiệp, dù cao quý đến đâu cũng vậy. Vai trò đó là cần thiết, và phải thực hiện một cách có ý thức, nhưng đó chỉ là phần thứ yếu của nhiệm vụ. Kiến thức tổng quát, mà sinh viên đã bắt đầu nhận lãnh từ trên ghế của trung học, không thể chấm dứt bất chợt vào lúc mà trí óc của họ đã chín để nhận những tư tưởng tổng quát, vào lúc mà đời sống sắp đặt ra cho họ tất cả những vấn đề, thách đố tất cả sức lực của trí óc và của ý chí. Bên cạnh, trên những kiến thức chuyên biệt mà họ sẽ học, họ phải luôn luôn cảm thấy hiện diện những chân lý tổng quát hơn, mà những kiến thức kia chỉ là những áp dụng đặc biệt và phụ thuộc. Họ không được quên rằng phương pháp nghiên cứu và trình bày riêng biệt của ngành khoa học hạn chế mà họ phải đào sâu không phải là phương pháp duy nhất, không được quên rằng còn có những phương pháp khác, những cách dẫn chứng khác. Nhờ đó, họ sẽ có một cái nhìn về sự vật chính xác hơn , có một trí óc đầy đủ hơn và quân bình hơn, họ sẽ không đắm say vào sự tự mãn đặc biệt mà người ta gọi là đầu óc chuyên nghiệp và tôi thì luôn luôn cho rằng đó là một trong những hình thức nguy hiểm nhất của ngu dốt".

Phá bỏ phên dậu chia cách các kiến thức! Đại học phải đi theo hướng đó của tiến bộ khoa học. Tất cả mọi giảng dạy đều liên đới với nhau vì mọi kiến thức đều lệ thuộc hỗ tương. Một tiến bộ ở trong lĩnh vực khoa học này nhiều khi có liên hệ với những khám phá trong một lĩnh vực khác, giữa toán với vật lý, giữa vật lý với khoa học tự nhiên, giữa khoa học tự nhiên với khoa học nhân văn. "Ta không thể chấp nhận được nữa một nhà triết học không biết gì về cấu trúc của bộ não, một nhà tâm lý học dốt đặc về sinh lý, một nhà địa lý không khảo sát một cách khoa học địa chất và bầu khí quyển, một nhà sử học không biết phân tích và phê phán các đạo luật với phương pháp của một nhà luật học, một nhà luật học không biết đặt luật pháp vào thời gian và "cái thường xuyên biến đổi" mà phương pháp sử học nhắc nhở. Đầu óc của thế kỷ chúng ta đã phá đổ các rào cản phân chia những thành phần khác nhau của kiến thức. Chúng ta đã không thấy hay sao phương pháp của một nhà khoa học tự nhiên đã được áp dụng vào mọi nghiên cứu, nào bởi nhà sử học, nào bởi nhà phê bình, nào bởi nhà chính trị, chúng ta vẫn không thấy hay sao tất cả các nhà nghiên cứu đó đã tự đặt mình vào hàng ngũ môn đồ của Darwin? Chúng ta đã không thấy, chúng ta vẫn không thấy tính nhất thể của phương pháp chứng minh tính nhất thể của khoa học?"

Bởi vậy, kiến thức khoa học của chúng ta về thế giới càng phát triển, lại càng phải có những cái nhìn tổng quát, lại càng cần thiết phải nuôi dưỡng khả năng trải rộng ra một cách tự nhiên mọi đối tượng của tri thức. Và Léon Bourgeois kêu gọi: đại học, hãy mang đến cho nghiên cứu khoa học tính nhất thể đó.[31]

Cũng như tất cả mọi người, tôi đã từng được cha mẹ tôi khuyên bảo: nhất nghệ tinh nhất thân vinh. Châm ngôn đó không sai, nhưng đừng để nó đi vào cái khuyết điểm tai hại của khuynh hướng học hỏi và nghiên cứu nhận thấy trong mấy chục năm gần đây: khuynh hướng chuyên môn thái quá, siêu chuyên môn. Có lẽ chúng ta chưa đi vào đường đó, nhưng đây là tình trạng đang bị phán xét trong cộng đồng đại học và nghiên cứu phương Tây. Siêu chuyên môn đưa đến sự phân thây kiến thức ra từng mãnh vụn, mỗi mãnh đòi một thẻ chứng minh nhân dân và một căn hộ cá nhân cửa ngõ khép kín, dây kẻm gai bao quanh. Chuyên môn là cần thiết và không thể tránh được, nhưng chia cắt kiểu nội bất xuất ngoại bất nhập thế kia tức là bóp cổ từ trong trứng tiếng kêu mời gọi vươn đến tổng hợp, đỉnh cao của kiến thức đích thực.

Tháng 6 năm 2000, sinh viên khoa kinh tế ở Pháp chỉ trích việc đem toán học nhiều quá vào môn kinh tế, biến toán học thành "cứu cánh tự bản chất", dạy kinh tế với một thái độ tín điều, dẹp bỏ phán đoán, suy luận. Họ đưa ra một bản thỉnh nguyện yêu cầu phải cọ xát nhiều hơn với thực tại kinh tế, phải quan tâm đến nhiều quan điểm lý thuyết hơn nữa. Môn kinh tế bị toán học hóa đến nỗi Milton Friedman phải kêu lên: "kinh tế càng ngày càng trở thành một ngành bất khả nhập của toán học hơn là một ngành phân tích những vấn đề kinh tế có thực".[32] Đó cũng là ý kiến của American Economic Association khi phán xét cách dạy về kinh tế: "Các chương trình cử nhân có cơ nguy sản xuất một thế hệ gồm quá nhiều "nhà thông thái ngu dốt" say mê những kỷ thuật kinh tế nhưng chẳng biết gì về những vấn đề kinh tế thực sự".[33] Từ hai ba chục năm nay, môn kinh tế tự hào là đã thực hiện những tiến bộ đáng kể về phân tích khoa học, nhưng có nhà kinh tế học nào thấy trước khủng hoảng hiện nay đâu? "Muốn hiểu khủng hoảng kinh tế hiện nay, ta phải xem xét đồng thời lịch sử kinh tế và lịch sử tư tưởng kinh tế. Để hiểu bằng cách nào và tại sao môn kinh tế đã đi vào hướng sai lầm, ta phải chú ý đến những công trình nghiên cứu về triết lý kinh tế cũng như về tương quan giữa kinh tế và ý thức hệ". Đó là lời kêu gọi của nhà kinh tế Geoffrey M. Hodgson.[34]

Nghĩa là gì? Nghĩa là nghiên cứu và giảng dạy ngày nay phải chú ý đến tinh thần và phương pháp đa ngành (pluridisciplinaire). Nghĩa là phải phá vỡ phên dậu chia cách ngành này với ngành kia. Nghĩa là phải có một cái nhìn tổng thể. Ngày nay, không còn ai nghi ngờ gì nữa về sự cần thiết của "đa ngành hợp nhất". Mà giáo dục đa ngành là giáo dục tổng quát, không phải là giáo dục chạy theo nhu cầu của thị trường. Chạy theo như vậy là huyễn mộng và hụt giò bởi vì không ai đoán trước được thị trường cần gì mười năm sắp tới. Toàn cầu hóa kinh tế có cái đặc điểm là làm thị trường lao động rất phức tạp, biến đổi không lường, vô cùng khó để định vị và đoán trước. Vắt giò lên cổ chạy theo, thị trường chạy nhanh hơn. Trong tình trạng đó, hãy nhớ câu nói của Einstein: "Nếu một người phải học suy nghĩ và làm việc một cách độc lập, người ấy phải có thể thích nghi với những thay đổi nhiều hơn là người học một chuyên môn rõ rệt".[35] Do công nghệ phát minh càng ngày càng nhiều và càng nhanh, và do toàn cầu hóa mở thế giới ra càng ngày càng rộng, thị trường lao động càng ngày càng cần những người biết uyển chuyển thích ứng để thay đổi việc làm nhiều lần trong đời, chứ không phải những người chỉ học một nghề. Đại học ngày nay phải đào tạo một lớp trẻ sẵn sàng đối phó với một thị trường lao động trọng khả năng biết làm và biết sống hơn là khía cạnh kỷ thuật. Cũng vì vậy mà đại học phải biết mở mang việc đào tạo thường xuyên, đào tạo suốt đời, chứ không phải chỉ chăm lo đào tạo chuyên môn, cứng nhắc, dễ bị những phát minh mới vượt qua.

Vậy thì khả năng gì là cần thiết cho người đi học ngày nay? Biết đối phó với tình thế, biết phán đoán, biết giải quyết vấn đề, biết xử lý thông tin, biết làm việc tập thể… nghĩa là những khả năng đòi hỏi phải có kiến thức đa ngành. Kỳ lạ, càng ngày càng nhiều người lên tiếng: những môn học làm phát triển khả năng ấy là những môn khoa học xã hội và nhân văn.[36] Đây là vấn đề cuối cùng tôi muốn nói.

3. Khoa học và nhân văn.

Xin nói rõ: khoa học mà tôi muốn nói ở đây là khoa học căn bản. Dùng kiến thức khoa học để khuếch trương phát minh công nghệ dĩ nhiên là cần thiết, nhưng sự giàu mạnh của một nước không phải nằm ở mức đó: nó nằm ở nơi khoa học căn bản, nghiên cứu căn bản. Lúc nhỏ, tôi đã từng học: nước ta có rừng vàng biển bạc. Ngày nay, đào dưới đất lên để tìm vàng là thái độ của một nước cam tâm tụt hậu. Vàng, nằm ở trong đầu. Một nước hưng hay vong là tùy ở giáo dục của nước đó biết tìm vàng ở đâu, biết nâng cao đam mê khoa học nơi những đầu óc non trẻ lên lý tưởng nghiên cứu căn bản. Mà muốn làm nghiên cứu căn bản, người đi học phải nắm vững lý thuyết. "Không có gì thực tiễn hơn một lý thuyết tốt", đó là câu nói của một triết gia, Hans Albert.[37] Tại sao? Tại vì "không có lý thuyết, thực tiễn chỉ là lặp đi lặp lại, do thói quen cố định mà làm. Chỉ lý thuyết mới thúc đẩy và làm phát triển óc sáng tạo". Đó là câu nói của một nhà khoa học, Pasteur. [38]

Tôi vừa bắc chiếc cầu giữa triết học và khoa học. Tiếp theo đây là chiếc cầu giữa khoa học và văn chương mà một nhà bác học danh tiếng, Henri Poincaré (1854-1912) đã mời các nhà giáo và các em học sinh bước qua trong một bài diễn văn nổi tiếng mà tôi rất tiếc chỉ có thể trích vài câu:

"Ai cũng đồng ý rằng giáo dục văn chương, nếu hiểu cho đúng, nghĩa là tước bỏ đi hết cái vỏ ngoài đạo mạo và thông thái vô dụng, là thích hợp nhất để phát triển trong ta đầu óc tinh tế. Và bởi vì đầu óc tinh tế là cần thiết cho mọi người, bởi vì ai cũng phải sống, người ta kết luận rằng văn hóa, văn chương, là cần thiết cho các nhà bác học cũng như cho tất cả mọi người. Thế nhưng, thông thường người ta chỉ nghĩ rằng mọi người đều cần văn chương để trở thành người chứ không phải để trở thành nhà bác học, và chính đó là sai lầm".[39]

Văn chương không làm ra sản phẩm kinh tế, không biến chữ thành tiền trong chớp mắt; nghiên cứu khoa học căn bản cũng vậy. Nhưng có người học trò nào học khoa học, khi đã đam mê, mà không mơ ước theo đuổi khoa học với tinh thần vị khoa học? Có ông thầy nào, đam mê khoa học, mà không khuyên nhủ người học trò ấy vươn cao nhìn xa? Văn chương có lợi gì cho người học trò ấy chăng? Hãy nghe tiếp Poincaré:

"Nhà bác học không được quyến luyến với những công trình có kết quả thực tiễn; ông ta chắc sẽ đạt được thôi, nhưng ông phải xem đó là phần phụ trội, không nhắm đến mà có. Ông không được bao giờ quên rằng đối tượng đặc biệt mà ông nghiên cứu chỉ là một phần của một toàn bộ vượt quá đối tượng kia đến vô tận vô biên, và lòng yêu thích cùng tính tò mò về cái toàn bộ ấy mới là động cơ duy nhất của công việc ông làm. Khoa học đã có những ứng dụng tuyệt vời, nhưng khoa học mà chỉ có trước mắt những ứng dụng mà thôi không phải là khoa học, chỉ là bếp núc. Không có một khoa học nào khác khoa học vô vị lợi. Phải lên cao hơn nữa, và lúc nào cũng phải lên cao hơn, để bao giờ cũng nhìn thấy xa hơn và không quyến luyến gì lâu ở dọc đường. Người leo núi chân chính bao giờ cũng xem đỉnh núi vừa mới leo tới như là chỗ gác chân dẫn đến một đỉnh núi khác cao hơn. Nhà bác học phải có bàn chân của người miền núi, và nhất là phải có trái tim của người miền núi. Đó là tinh thần phải hướng dẫn nhà bác học. Tinh thần đó, chính là tinh thần ngày xưa đã thổi trên đất Hy Lạp và đã làm nẩy sinh ra những nhà thi sĩ và những nhà tư tưởng. Trong giáo dục cổ điển của ta, tôi không biết cái gì còn phảng phất linh hồn Hy Lạp ngày xưa, tôi không biết cái gì khiến ta luôn luôn nhìn lên cao. Và cái đó thật quý báu cho nhà bác học hơn là đọc hàng trăm pho sách về hình học".[40]

Đó là lời của một nhà bác học ở đầu thế kỷ 20. Tôi trích thêm một câu nói khác nữa, rất ngắn, vài chữ thôi, và tôi sẽ nói là của ai: "Tưởng tượng cần thiết hơn là kiến thức". Nếu người nói câu đó không phải là Einstein thì chắc ta đọc qua rồi bỏ, cho rằng ai đó nói gàn. Nhưng tác giả đã là Einstein thì ta phải suy nghĩ. Einstein muốn nói đến ảnh hưởng của sáng tạo - creativity - trên chính cách vận dụng kiến thức. Sáng tạo, đó là khả năng thoát ra khỏi những công thức cũ, mở ra những con đường mới, để trả lời những thách thức mới, khả năng tạo ra những ý tưởng mới, khái niệm mới, hoặc nối kết những ý tưởng và những khái niệm đã có rồi nhưng chưa liên hệ được với nhau. Tại sao tưởng tượng góp phần vào sáng tạo? Tôi mượn câu trả lời từ một triết gia, Michel Serres: tại vì tưởng tượng là một trong ba năng khiếu làm nên cái đầu của con người cùng với hai năng khiếu khác là ký ức và lý trí.[41] Và cái gì làm tưởng tượng bay bổng nếu không phải là nghệ thuật, văn chương?

Câu nói của Einstein khiến ta phải chợt nghĩ lại: những người có óc sáng tạo nhất, nghĩa là những người biết nối kết tài tình nhất giữa những ý tưởng, phải chăng chính là những nhà khoa học!

Bây giờ tôi mượn lời của một nhà vật lý hiện đang còn làm việc, Etienne Klein. Ông nói: Không có gì khác biệt hơn giữa cách làm việc của khoa học và cách làm việc của nhân văn. Một đằng, triết học chẳng hạn, thiên về thuần suy tưởng, thuần khái niệm; một đằng, khoa học chú tâm vào lý thuyết và thực nghiệm. Vậy mà:

"Vậy mà, dù khác nhau đến thế, cả hai kín đáo, bí mật, chuyện trò qua lại với nhau. Vài câu hỏi mà khoa học đặt ra, nhất là những câu hỏi thực sự căn bản, có điều này lôi cuốn như thôi miên: nó vượt ra ngoài khung khổ của riêng khoa học. Nó bắt buộc phải mở toang ra những cửa sổ. Và không khí mát rượi bất chợt tràn vào, hân hoan tràn vào. Nhất là không khí của triết lý. Lúc đó, toàn bộ tư tưởng được tức thời động viên".[42]

Một vài tiến bộ khoa học - thuyết vật lý lượng tử , thuyết tương đối…- buộc người làm khoa học cũng như triết gia phải xét lại suy nghĩ của mình, phải mở ra những chiều hướng suy nghĩ mới, phải thay đổi mũi nhọn tấn công. Nhưng:

"Nhưng còn phải có văn hóa; phải có văn hóa, trước là để có thể dọ dẫm tìm ra, sau là để khai triển" .[43]

Còn văn chương?

"Khoa học và văn chương cứ bị đem ra để đối kháng nhau: một bên, người ta bảo thế, là chính xác, là khô khan, là khách quan; một bên là tình cảm, là đời sống, là chủ quan. Thực ra, hai cách tương quan đó với thế giới không nên đối chọi nhau, mà nối kết với nhau" .[44]
Tôi không muốn mượn những câu nói gì cao siêu từ các nhà khoa học. Nói cao siêu để chẳng thực hiện được gì trong hoàn cảnh của đất nước ta chỉ làm cái chuyện vô ích như thêu hoa trên giẻ rách. Cho nên tôi mượn thêm từ nhà vật lý này một câu nói bình dị, ai nói cũng được, bình dị như một chân lý hiển nhiên:

"Một xã hội phải đi trên hai chân: một chân là khoa học, công nghệ, một chân là văn hóa. Và dĩ nhiên xã hội phải có khả năng vận động cả hai chân. Thật vậy, không có một xã hội hiện đại nào chỉ thuần là văn hóa: xã hội nào cũng dựa trên khoa học và công nghệ. Nhưng một xã hội chỉ dựa trên công nghệ, trên một công nghệ thiếu suy tư, cắt đứt với văn hóa, trên một công nghệ tự nó duy nhất trở thành cứu cánh của chính nó, không thể hoạt động tốt được" .[45]

Câu nói không có gì cao siêu này, tôi xin mượn để làm kết luận bài của tôi. Tôi nghĩ đại học của ta cũng cần phải đi bằng hai chân như vậy giữa trào lưu mới khó tránh và những giá trị cũ phải giữ để đại học còn là đại học.

Cao Huy Thuần

Tham luận đọc tại hội thảo "Đại Học nào cho Việt Nam ở thế kỷ 21?"
Đại Học Hoa Sen, TP TCM, 2009

Chú thích

[1] Trách nhiệm xã hội của đại học, Thời Đại Mới số 14, tháng 7-2008.
[2] Jennifer Weshburn, University Inc.: The Corporate Corruption of Higher Education, New York, Basic Books, 2005
[3] Y.Moulier-Boutang, Le capitalisme cognitif, la nouvelle grande transformation, Editions Amsterdam, 2007.
[4] Craig Calhoun, The University in Crisis, Society, May-June 2006.
[5] Như trên.
[6] Christian Laval, Les nouvelles usines du savoir du capitalisme universitaire, Revue du Mauss, n° 33, Janvier 2009.
[7] Ibrahim Warde, L'Université américaine vampirisée par les marchands, Le Monde Diplomatique, Mars 2001.
[8] Masao Miyoshi, The University and the "Global" Economy: The Case of the United States and Japan, The South Atlantic Quarterly, Vol 99, N) 4, Fall 2000
[9] Laval, Revue du Mauss, đã dẫn.
[10] So với Hàn Quốc là 77% và Nhật là 55%. Xem Pierre Buhler, Université et mondialisation, Commentaire, N° 106, Eté 2004.
[11] Dù sao, phải nói cho thật rõ: đây là một đặc điểm của Mỹ. Nhà nước không phân biệt đại học công hay tư trong việc phân phối các hợp đồng nghiên cứu, chỉ quan tâm đến khả năng dự phóng. Vì vậy mà Đại Học Johns Hopkins, tư, được hưởng tài trợ công cho nghiên cứu lớn hơn xa chừng các đại học khác: 992 triệu Mỹ kim năm 2001. (Pierre Buhler, xem chú thích 10).
[12] Derek Bok, University in the Market Place: The Commercialisation of Higher Education , Princeton, N.J, Priceton Univ. Press, 2003, trang 2, trích bởi Catherine Stimpson, What Do I Really Think About the Corporate University, trong: Delbanco, Ehrenberg, Liu and Stimpson, The Idea and Ideals of the University, American Council of Learned Societies, ACLS Occasional Paper, N° 63, http://www.acls.org/op63.pdf
[13] S. Slaughter and L.L Leslie, Academic Capitalism, Baltimore, Johns Hopkins Press, 1997.
[14] Christian Laval, L'Ecole n'est pas une entreprise . Le néo-libéralisme à l'assaut de l'enseignement public, La Découverte 2003, trang 149.
[15] Masao Miyoshi, đã dẫn.
[16] Eyal Press and Jennifer Weshburn, The Kept University, The Atlantic Monthly, March 2000.
[17] Câu nói của David Noble, trích bởi Christian Laval, đã dẫn.
[18] Eric Gould, The University in a Corporate Culture, Yale University Press, New Haven & London, 2003, các trang 52 và 53.
[19] Roger Brown, Higher Education and Market, Perspective, Vol. 12, N° 3, July 2008
[20] Như trên.
[21] "Quá trình Bologne" có mục đích đồng nhất hóa văn bằng và cách tổ chức học trình giữa các nước Âu châu ký kết. Xin nói rõ rằng lĩnh vực đại học không nằm trong thẩm quyền của Liên Hiệp Âu châu mà thuộc về thẩm quyền của mỗi quốc gia. "Quá trình Bologne" là trường hợp cá biệt.
[22] Christine Musselin, European Academic Labour Market in Transition, Higher Education, N° 49, 2005, và Les réformes des universités en Europe, trong L'Université en crise. Mort ou résurrection? La Découverte-Mauss, 2009.
[23] Phillipe d'Iribarne, Le loup et le chien, trong L'Université en crise đã dẫn.
[24] Jean Rivero, trích bởi Olivier Beaud, Pourquoi il faut refuser l'actuelle réforme du statut des universitaires, L'Université en crise, đã dẫn.
[25] Phillipe d'Iribarne, đã dẫn.
[26] Diễn văn nhậm chức hiệu trưởng Đại Học Harvard của bà Drew G. Faust, 12-10-2007.
[27] Michel Freitag, Grandeur de l'institution. Les finalités de l'Université comme institution, Revue du Mauss, La Découverte, N° 33, Janvier 2009.
[28] L'Université en crise, đã dẫn, trang 45.
[29] Như trên
[30] Bill Readings, The University Without Culture? New Literary History, Vol. 26, N° 3, Summer 1995.
[31] Léon Bourgeois, Pour la renaissance de l'Université, L'Université en crise, đã dẫn, trang 44-45.
[32] Geoffrey M. Hodgson, Les économistes se réveilleront-ils en 2009?, L'Université en crise, đã dẫn, trang 195.
[33] Geoffrey M. Hodgson, Les économistes se réveilleront-ils en 2009?, L'Université en crise, đã dẫn, trang 195.
[34] Geoffreoy M. Hodgson, Les économistes se réveilleront-ils en 2009?, L'Université en crise, đã dẫn, trang 195.
[35] Germana Verri, Challenges to Academe in a Time of Globalisation, Higher Education in Europe, Vol. XXVIII, N° 3, October 2003
[36] Như trên.
[37] Như trên.
[38] Như trên.
[39] Henri Poincaré, Les Sciences et les Humanités (Conférence pour la "Ligue pour la culture française". Có thể đọc trên mạng: http://www.ac-nancy-metz.fr/enseign/philo/textesph/LESSCIENCESETLESHUMANITES.pdf
[40] Như trên
[41] Maryline Baumard et Benoît Floc' h, La créativité, clé de tous les vavoirs, Le Monde 16-9-2009, Dossier, trang 5.
[42] đến [45]. Etienne Klein, Sciences et humanités: des jambes à articuler, http://www.snes.edu/IMG/pdf/etienne_klein_-_jrd_humanites.pdf

Đại học đi về đâu?
ChúngTa.com @ Facebook
Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: .
Tổng số người truy cập: .
Số người đang trực tuyến: .
.
Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,