Tư tưởng của Ngô Thì Nhậm về con người và giáo dục con người

Nguyễn Bá CườngTạp chí Triết học
06:56' CH - Thứ năm, 06/07/2006

Ngô Thì Nhậm (1746 – 1803) là nhà tư tưởng tiêu biểu của lịch sử dân tộc, với những đóng góp về mặt triết học, chính trị học, quân sự học, văn học, giáo dục… Trong đó, vấn đề con người được ông quan tâm trước hết. Ông tiếp cận vấn đề con người và bản tính con người vừa trên cơ sở “thiên tính tự nhiên’ vừa trong những quan hệ xã hội phức tạp. Đặc biệt, ông chỉ ra vai trò to lớn của điều kiện kinh tế và giáo dục đối với sự hình thành và thay đổi bản tính con người. Nhận thức được tính quy luật của sự phát triển xã hội, Ngô Thì Nhậm có những tư tưởng mang tính chất chiến lược về giáo dục và trọng dụng hiền tài. Với những đóng góp của mình, ông "mãi mãi là ngôi sao sáng trên bầu trời Việt Nam, làm vẻ vang cho giống nòi”.

Ngô Thì Nhậm (1746 - 1803) là một trong những nhà tư tưởng tiêu biểu trong lịch sử dân tộc. Sống trong thời kỳ của những chuyển biến xã hội hết sức lớn lao và nhanh chóng vào cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX, ông đã có những cống hiến quan trọng đối với sự phát triển đất nước vả của lịch sử tư tưởng Việt Nam. Cuộc đời và sự nghiệp của Ngô Thì Nhậm đã được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu trên những phương diện khác nhau. Tuy nhiên, trên bình diện lịch sử triết học và tư tưởng giáo dục thì cần thiết phải làm sáng tỏ hơn nữa những đóng góp quý báu của ông về vấn đề con người, giáo dục cái người và trọng dụng nhân tài trong sự nghiệp chấn hưng đất nước.

Vấn đề con người.

Trong toàn bộ tư tưởng của mình, vấn đề con người được Ngô Thì Nhậm quan tâm trước hết. Tiếp thu truyền thống tư tưởng phương Đông nhưng ông đã có những kiến giải mới mẻ, độc đáo về vấn đề con người, thể hiện trí tuệ của một nhà triết học. Bàn về vấn đề con người, Ngô Thì Nhậm chú trọng tới sự sinh thành và bản tính con người.

Về sự sinh thành con người

Ngô Thì Nhậm là con Ngô Thì Sĩ, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây. Tự là Hy Doãn, hiệu Đạt Hiên.

Ông thi đỗ giải nguyên năm 1768, rồi tiến sĩ năm 1775. Sau khi đỗ đạt làm quan dưới triều Lê - Trịnh, được chúa Trịnh Sâm rất quý phục. Vụ án năm Canh Tý (1780) nổ ra, ông không can dự gì nhưng cũng phải bỏ trốn về Thái Bình lánh nạn. Khi biết Nguyễn Huệ nổi dậy khởi nghĩa, đánh đâu được đấy, đi đến đâu cũng cứu giúp dân nghèo, Ngô Thì Nhậm đã có ý muốn theo phò Nguyễn Huệ. Năm 1787, khi Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ hai, ông đã thực hiện được mong muốn này. Nguyễn Huệ phong ông làm Tả thị lang Bộ Lại.

Cuối năm Mậu Thân (1788) do vua Lê Chiêu Thống cầu viện, 29 vạn quân Thanh kéo sang Việt Nam, với chiêu bài diệt Tây Sơn dựng lại nhà Lê. Ngô Thì Nhậm đã có kế lui binh về giữ Tam Điệp góp phần làm nên chiến thắng của nhà Tây Sơn. Vì vậy năm 1790, vua Quang Trung đã giao cho Ngô Thì Nhậm giữ chức Binh bộ thượng thư.

Không chỉ là một danh sĩ, thành viên của Ngô gia văn phái mà Ngô Thì Nhậm còn là người văn võ song toàn, giỏi về chính trị, ngoại giao, quân sự. Tài ngoại giao của ông đã góp phần quyết định, ngăn chặn ý đồ gây chiến phục thù của nhà Thanh sau trận Đống Đa 1789.

Sau khi vua Quang Trung mất, Ngô Thì Nhậm không còn được nhà Tây Sơn trọng dụng. Chẳng bao lâu sau, Nguyễn Ánh tiêu diệt nhà Tây Sơn. Ngô Thì Nhậm và một số đại thần triều Tây Sơn bị đánh bằng roi đến chết tại Văn Miếu.

Ngô Thì Nhậm lý giải sự sinh thành con người dựa trên những tư tưởng triết học của Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo. Trong Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh, sự hình thành con người được ông đề cập tương đối rõ nét. Xuất phát từ quan điểm trong Kinh Dịch: "Trời và người cùng chung một lý". ("Lý” ở đây được hiểu như là quy luật vận hành tự nhiên của trời đất và muôn vật - N.B.C), ông coi sự xuất hiện của con người là do trời sinh ra. Nhưng khi nhìn nhận về sự sinh, diệt- theo lẽ tự nhiên của con người thì ông lại chịu ảnh hưởng của Phật giáo. Ông cho rằng, sự nhận thức về lẽ sinh diệt của con người tất thảy "đều từ cái Tâm của con người tạo ra".

Mặc dù luận điểm này thể hiện rõ tính duy tâm, thần bí, nhưng khi kiến giải về mối quan hệ giữa ý (thuộc ý thức, tinh thần) với xúc (thuộc về cơ thể, vật chất) trong con người, Ngô Thì Nhậm đã có những kiến giải tinh tế. Theo ông, "người nào không có ý, không có xúc thì không thấy cái đó", tức là không thể nhận thức được Tâm - cái tạo ra sự sinh, diệt trong con người. Mặt khác, ông thừa nhận hình thể của con người là do hình và khí tạo nên,do đó, không thể không bị quy luật sinh diệt chi phối. Ông nói: "Người thì có hình, có khí (chất), đã bị hạn chế ở trong hình và khí thì ai mà vô sinh được và ai mà vô diệt được?". Ngoài việc xem hình, khí tạo nên con người, ông còn chú ý tới ảnh hưởng của điều kiện sinh hoạt thường ngày, đặc biệt là yếu tố dinh dưỡng đối với cơ thể con người. Ông viết: "cái thân của mình ta là do tinh khí tụ hợp, còn cái bộ dạng là do sự nhiễm tập ở nơi ăn ở, hoặc do sự thay đổi trong cách bồi dưỡng tẩm bổ”. Ở đây, tuy quan điểm còn thô sơ, song cũng cho thấy đó là một cách nhìn thực tế.

Không chỉ lý giải về sự sinh thành con người, Ngô Thì Nhậm còn quan tâm giải thích mối quan hệ giữa tinh thần và thân thể trong con người. Từ quan điểm của Nho giáo: "Tinh khí cấu tạo ra vật”, ông cho rằng: “Tinh thần cất giấu ở trong thân thể, thân thể là đồng một chất với trời đất. Theo ông thân thể là cái có giới hạn, còn "tinh thần thì không tiêu tan”, có như thế, con người "mới giũ được cái chân tướng của mình”. Do quan niệm tinh thần là yếu tố đầu tiên có trước thân thể, tinh thần mới là đã tồn tại lâu dài nên Ngô Thì Nhậm khuyên con người hãy giữ gìn và coi trọng tinh thần: "Sống thì giữ trang trọng, chết thì giữ rất nghiêm túc". Ông nói tiếp: "Thân thể người ta đồng chất với trời đất, có tinh thần mới có cái thân thể này. Nếu biết giữ gìn trang nghiêm thì được cùng trời đất lâu dài vậy". Lý luận trên cho thấy ông đã bước sang lĩnh vực lẽ sống của con người, một lĩnh vực mà con người cần phải rèn luyện.

Như vậy, trong quan niệm về sự sinh thàn con người, Ngô Thì Nhậm đã thể hiện như một nhà triết học. Mặc dù vẫn chưa thể vượt khỏi khuôn mẫu truyền thống cũ, nhưng ông đã có những kiến giải sâu sắc, mới mẻ, đặc biệt là nhận định về ảnh hưởng của cách thức sinh sống và điều kiện dinh dưỡng đối với cơ thể con người.

Về bản tính con người

Bàn về bản tính con người, hầu hết các nhà tư tưởng Việt Nam ít nhiều đều chịu ảnh hưởng của các học thuyết triết học phương Đông truyền thống. Ngô Thì Nhậm cũng không phải là ngoại lệ. Xuất phát từ quan điểm Nho giáo về "thiên tính", "nhân tính", ông quan niệm "mệnh" - "thiên tính" là cái toàn thể, rộng lớn như biển cả, bao quát như đất trời còn "tính người" thì rất nhỏ. Tính người, (chỉ là một vốc nước con trong biển, được chứa đựng trong cái toàn thể - mệnh. Điều đáng chú ý là, trong tư tưởng của mình, ông đã nhấn mạnh sự tác động của các yếu tố xã hội đến việc thay đổi bản tính con người.

Khi bàn về bản tính con người, trước hết, Ngô Thì Nhậm tiếp cận trên cơ sở tự nhiên của.nó. Ông gọi đó là "Thiên tính tự nhiên". Từ quan điểm triết học "vạn vật đồng nhất thể”, ông cho rằng, con người cũng như vạn vật "đều có thiên tính tự nhiên của nó". Vậy thiên tính tự nhiên là gì? Ông trích dẫn Kinh Thư: "Trời sinh con người có Dục” và lý giải: với con người, "Dục là tính [tự nhiên], nó ở trong nhật dụng thường hành, như đời thì muốn ăn, khát thì muốn uống, không có không được. Theo đó, ngay từ khi sinh ra, con người được đã có tính tự nhiên - dục, mà dục được hiểu theo nghĩa là những nhu cầu tự nhiên của con người, do vậy việc đáp ứng những nhu cầu ấy là tất yếu trong quá trình tồn tại và phát triển của họ. Ở đây, khi nhìn nhận con người trong chính bản tính tự nhiên vốn có của nó, ông đã tuyệt đối hóa chỉ thiên tính tự nhiên đó. Ông cho rằng, "lòng người chẳng qua là lòng dục mà thôi”.

Chịu ảnh hưởng sâu sắc của Tống Nho, Ngô Thì Nhậm đã chỉ rõ mối quan hệ giữa "tính trời" và "tình người”. Ông nói: 'Trời cho người cái tâm có tính thường. Có cái tính của trời thì có cái tình của người". Cũng như Tống Nho chủ trương "Tồn thiên lý, diệt nhận dục", Ngô Thì Nhậm chủ trương xóa tất cả mọi dục vọng để "Tâm" được tuyệt đối trong sáng. Khi đề cao tuyệt đối cái thiên tính, ông còn yêu cầu con người phải diệt bỏ mọi dục vọng ngay cả trong ý nghĩ của mình. Theo ông, khi nhận thức,nếu "trong lòng chỉ một khối thiên lý, không hề có một mảy nhân dục riêng tây" thì có thể nhận thức đối tượng một cách "quang minh, chính đại", còn nếu "vọng tưởng quàng xiên, làm cho lòng dạ phiền nhiệt, càng tư tưởng càng bế tắc" thì không thể nhận thức được đối tượng. Chỉ khi con người diệt được "nhân dục” thì mới có thể nhận thức được "thiên lý” và noi theo nó.

Thứ hai, xuất phát từ tư tưởng triết học về sự vận động của vũ trụ: "trên đời chẳng cái gì mà chẳng lưu hành, những cái gì mà chẳng vận đông", Ngô Thì Nhậm cho rằng "bản tính của con người” vừa động, vừa tĩnh, tùy theo hoàn cảnh, hành động và sự hiểu biết của mỗi người. Như vậy, ông đã tiếp cận con người trong mối quan hệ xã hội phức tạp, thấy rõ được sự tác động của những nhân tố xã hội đến sự thay đổi bản tính con người.

Theo Ngô Thì Nhậm, con người vốn thiện, nhưng do hoàn cảnh mà thành ra bạc ác. Ông nói: "Ôi! Phàm đã làm người, ai chẳng muốn làm điều tốt, chỉ vì hoàn cảnh bắt buộc mới làm việc ác, để cho lương tâm mòn mỏi”. Điều đó theo ông, có nguyên nhân từ những điều kiện kinh tế và xã hội. Việc "tụ lập bè đảng, lấy việc cưỡng bức để sinh nhai cũng là chỗ bất đắc dĩ, hoặc vì đói rét mà bức bách, hoặc vì bạo ngược xua đuổi, mời đến nương thân nơi sóng gió, không có lối thoát ra”. Từ quan niệm coi hoàn cảnh xã hội tạo nên con người, ông cho rằng, cần phải tạo ra được hoàn cảnh và những quan hệ xã hội tốt đẹp để hoàn thiện con người. Với quan niệm này, ông chủ trương dùng đạo lý để chế ngư con người, dùng lẽ phải để thu phục lòng người, khiến cho những người tài cán giỏi giang, "những đứa giặc nước đều có thể thành những bầy tôi lương đống”. Điều đặc biệt là, Ngô Thì Nhậm đã đề cập đến việc cần chú trọng giáo dục con người ngay từ khi còn là bào thai. Ngoài ra, ông còn chỉ rõ sự tác động của mới trường, điều kiện, hoàn cảnh gia đình đến việc hình thành tư chất, diện mạo của trẻ. Ông viết: "Con trai con gái mà giống cha, mẹ là do sớm chiều ăn ở cùng nhau và cách thức bồi bổ dinh dưỡng thích hợp với nhau. Tuy nhiên, cũng ở đây, ông dã không thể vượt qua được hạn chế của Nho giáo về sự nhân chia thứ hạng người trong xã hội. Khi tuyệt đối hóa yếu tố trí tuệ bẩm sinh trong hai hạng người (thượng trí và hạ ngu) và phủ nhận cả những tư tưởng tiến bộ mà mình vừa khẳng định, ông cho rằng, "bậc thượng trí và kẻ hạ ngu là không thay đổi theo ngoại cảnh".

Như trên đã nói, trong con người, ngoài thiên tính tự nhiên do trời phú, còn có "Thiên lương” - cái đạo, tính tết mà trời phú cho người: Theo Ngô Thì Nhậm, người nào mà không "có đạo người", tức là "mất hết thiên lương, thì tính người tiêu diệt và "phải đi vào cái đạo của súc sinh". Muốn chặt đứt cái nghiệp căn, hay muốn không để mất thiên lương, tức là đạo người thì phải có một tia sáng - trí tuệ. Ở đây, ông đã có lý khi đề cập đến vai trò của trí tuệ như là ánh sáng soi rọi để con người giữ được đạo người, trở về với đức tính tốt trời phú cho.

Ngô Thì Nhậm đi từ sự khác nhau về thể chất để nhận ra sự khác nhau về bản chất của mỗi người. Theo ông, cần phải dùng giáo dục, mà chủ yếu là thông qua giáo dục đạo làm người để cho bản chất con người trở nên gần nhau, giống nhau, làm cho quan hệ xã hội trở nên hài hòa để từ đó, xây dựng một' xã hội có nền văn hóa, giáo dục hưng thịnh. Ông viết: "Người ta, mặt không giống nhau thì lòng cũng không giống nhau (...). Vậy thì ở chỗ không giống nhau đó, đem đạo lý bàn bạc với nhau để làm cho giống nhau, ở chỗ không thường tụ họp đó, ta lấy đức tính tất khuyên bảo nhau để thường tụ họp,thờ thần minh không lỗi đạo thành kính, thờ vua. Cha không mỗi đạo trung hiếu, ở gia đình thì làm người lương thiện, ở làng xóm thì làm người nết na, thẳng thắn nhưng không tranh giành nhau, hòa nhã để cư xử với nhau khiến cho vạn vật đời đời sáng láng, khoa mục ngày càng hưng thịnh”.

Như vậy, có thể nói, trong tư tưởng Ngô Thì Nhậm về bản tính con người có nhiều điểm hợp lý, kế thừa được những giá trị trong lịch sử tư tưởng dân tộc. Ông thấy được vai trò to lớn của điều kiện kinh tế và những quan hệ xã hội, đặc biệt là thấy được tầm quan trọng của giáo dục trong việc hình thành và thay đổi tính người. Những quan niệm tích cực đó cũng được thể hiện rõ nét khi ông bàn đến vai trò của giáo dục trong việc xây dựng con người, vai trò của hiền tài đối với quốc gia. Từ tư tưởng đó, ông đã đưa ra những chủ trương mới để dựng xây triều đại và chính những hành động thực tiễn của ông đã khẳng định tính đúng đắn, tiến bộ của nó ở một mức độ nhất định.

Về giáo dục và trọng dụng hiền tài

Hoạt động dưới lá cờ trọng dân, trọng nghĩa của triều đình Tây Sơn, Ngô Thì Nhậm sớm đưa ra chủ trương "xây nền, dựng nước": Xây nền bình trị của một quốc gia phải có "nhân chính tốt". Dựng nước của cả dân tộc phải dựa vào muôn dân, trông cậy vào bề tôi hiền tài. Để thực hiện chủ trương đó, trước hết, ông chú ý tới những vấn đề, như làm thế nào để có nền chính trị nhân nghĩa tất, làm gì để có những người hiền tài…? Trải nghiệm và suy ngẫm từ thực tế lịch sử, ông đã thấy được câu trả lời cho những vấn đề trên, đó chính là giáo dục. Với những tư tưởng sâu sắc, thể hiện 'trí tuệ của một trí thức dân tộc chân chính, Ngô Thì. Nhậm đã đưa ra một tầm nhìn chiến lược về giáo dục và trọng dụng hiền tài..

Giáo dục nền tảng của công cuộc dựng nước

Xây dựng đất nước văn hiến là đặc điểm lịch sử của dân tộc ta. Văn hiến - sự phát triển của văn. hóa, .giáo dục và sự phong phú về nhân tài là niềm tự hào, đích phấn đấu cội nguồn sức mạnh của dân tộc Việt Nam. Nguyễn Trãi đã từng khẳng định điều đó trong Đại cáo Bình Ngô: "Xét như nước Đại Việt ta, thật là một nước văn hiến”. Sau Nguyễn Trãi gần 400 năm, Ngô Thì Nhậm đã tự hào tuyên bố về nền văn hiến Đại Việt. Ông đã kế thừa và phát huy được cách đúc kết lịch sử hay nhất dựa vào "văn hiến” của tiền nhân khi cho rằng: "Nước Việt ta lấy văn hiến dựng nước".

Nhận thức rõ vai trò của văn hóa, giáo dục đối với sự ổn định chính trị xã hội, phục hưng đất nước, Ngô Thì Nhậm cho rằng: "Dựng nước lấy dạy học làm đầu và giải thích rõ, giáo dục có "quan hệ đến đại điển buổi ban đầu, phải nên mài dũa hưng khởi ý chí... cùng lên con đường rộng rãi, cùng giúp chính trị sáng trong”. Vì thế, theo ông, việc "lập giáo hoá, đặt khoa cử là quy mô lớn để chuyển loạn thành trị" và đạo trị nước có ba "cái mấu chốt” luôn hỗ trợ lẫn nhau, có vai trò quan trọng như nhau là "giáo' (giáo dục), “pháp” (hình pháp) và "chính" (chính trị).

Khảo sát lịch sử xã hội và từ sự nghiên cứu kinh sách, Ngô'Thì Nhậm nhận thấy mọi triều đại đều đề cập đến “giáo", "pháp" và "chính". Ông cho rằng, "nền nếp thịnh trị của các đế vương “đời trước" có ba điều lớn mà nhà vua phải chú ý, đó là '"chính đức” uốn nắn đức tốt cho dân (thông qua giáo hóa, giáo dục), "lợi dụng” - sinh lợi cho dân, "hậu sinh" - trông coi cho dân sống đầy đủ. Ông nhận định: “Đén đời sau, những người có quốc gia, không triều nào là không có "giáo", “pháp”, “chính”. Bởi vấn đề còn ở chỗ khác.

Phân tích mối quan hệ giữa “giáo”, “pháp”, “chính”, Ngô Thì Nhậm cho rằng, không phải thời nào cũng nhận thấy được "cái tinh thần của "giáo”, “pháp” và "chính’. Ông chỉ ra nguyên nhân của việc không thực hiện được những điều đó. Ông nói người đương thời "chỉ nhìn thấy cái bên ngoài của "giáo”, "pháp” và “chính” mà không thấy cái gốc của giáo, chính, pháp. Ông nói: "Sở dĩ giáo không phổ cập được là do học trò không được học, mà học trò không học là do thầy không tinh, sở dĩ "pháp" không được lập là do người giỏi không được dùng, mà người giỏi không được dùng lả dò thưởng phạt không công minh, sở dĩ chính không thi hành được là do kẻ lại không được liêm, mà kẻ lại không được liêm là do bổng lộc không được đủ. Song thầy giảng không tinh, thưởng phạt không công minh và bổng lộc không đủ, duyên cớ là đều do tình trạng thiếu thốn và sự thực thiếu thốn. Cho nên, dù có cấp bách lo việc này nhưng nếu không nắm được mấu chốt của nó, thì dù "trí” có thể biết được, nhưng "thế” vẫn không thể làm được".

Điều đó cho thấy, Ngô Thì Nhậm đã vượt xa nhận thức của nhiều bậc trí thức đương thời, tỏ rõ quan điểm duy vật khi giải thích "mấu chất" của "những điều mấu chốt" trong đạo trị nước chính là "do tình trạng thiếu thốn và sự thực thiếu thốn" về kinh tế. Có thể, ông đã vận dụng bài học trong đạo trị nước mà Khổng Tử từng dạy học trò - "Tiên phú hậu giáo" (trước tiên làm cho dân giàu, sau đó giáo đục cho dân) trong việc phân tích lịch sử và thực tế xã hội Việt Nam đương thời.

Ngô Thì Nhậm đã sáng suốt khi xác định "mấu chốt" của đạo trị nước, nhưng ông càng sáng suốt hơn khi biết phát huy sức mạnh của dân trong việc thực hiện "giáo”, "pháp" và ' "chính". Ông cho rằng, từ kẻ hèn mọn cho đến nhân dân trong nước, thường ngày phải được cung cấp, nuôi dưỡng. Phải bằng chính sự chăm lo đến đời sống nhân dân thì triều đình mới thuyết phục được lòng người, huy động được sức dân. Làm được như vậy, triều đình mới được đâu đấy hưởng ứng và đồng tình, như gió lướt ngọn cỏ, ức triệu lòng như một. Dựa vào đấy mà lập "giáo", lo gì không có người dạy dỗ uốn nắn, dựa vào đấy mà lập "pháp", lo gì không có người trông coi gìn giữ, dựa vào đây mà lập chính, lo gì không có giúp đỡ khích lệ?". Từ đó "Dân không cần phải dắt bảo từng người mà vẫn tốt, tục không phải thay đổi hàng loạt mà vẫn hay, nhân tài không phải tìm ở nội cỏ mà tự nhiên đến, quan không cần phải đặt nhiều mà tự nhiên trị, nước không cần phải lấy của dân mà vẫn giàu, binh không phải xua ra trận mà vẫn mạnh".

Nhắc lại kinh nghiệm trị quốc của Thánh tổ Quang Trung, Ngô Thì Nhậm cho rằng, trong sáu công việc phải quan tâm ("Hóa dân, thành tục, cầu hiền, thẩm quan, phú quốc, cường binh") thì "cả sáu việc ấy đồng thời cử hành, không cản trở nhau” và giáo dục phải được đặt lên hàng đầu. Nhưng mấu chất của giáo dục lại là kinh tế ông nói: "Điều mấu chất là phải đem cái tình trạng thiếu thốn và cái sự thực thiếu thốn mà nghiên cứu chỉnh đốn lại. Đó là cái tâm pháp làm chính trị của muôn đời”. Đồng thời, ông cũng đưa ra một số biện pháp góp phần củng cố thế nước vững bền, đó là: người trị nước phải biết lắng nghe dân chúng mà không sợ rườm tai, "hay hỏi và hay xét đến những lời nói gần gũi", phải coi thiên hạ là một nhà, coi cả nước là một người... phải nắm được điều mấu chốt. Sau đó, nếu lấy hiếu, đễ, trung, tín làm "giáo", lấy gốc, ngọn, độ số làm "pháp", lấy binh, tài, lễ, nhạc làm "chính", thì có thể thừa sức thi thố”.

Là người có đầu óc thực tế, khi coi cái mấu chất nhất của đạo trị nước là đời sống kinh tế, nhưng khi xét hoàn cảnh cụ thể của nước ta, thì ông cho rằng, sau kinh tế, quan trọng hơn cả chính là nhân tố con người, là hiền tài. Bởi thế, ông nói: "Vua muốn nước "trị”, tất phải có người bề tôi giúp "trị", sau đó "giáo”, "pháp" và "chính" mới có thể thực hiện được". Đây chính là tư tưởng về sự cần thiết phải trọng dụng hiền tài trong công cuộc kiến thiết quốc gia.

Tư tưởng của Ngô Thì Nhậm về con người và giáo dục con người
ChúngTa.com @ Facebook
Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: .
Tổng số người truy cập: .
Số người đang trực tuyến: .
.
Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,