Ngô Thì Nhậm (1746 – 1803) là nhà tư tưởng tiêu biểu của lịch sử dân tộc, với những đóng góp về mặt triết học, chính trị học, quân sự học, văn học, giáo dục… Trong đó, vấn đề con người được ông quan tâm trước hết. Ông tiếp cận vấn đề con người và bản tính con người vừa trên cơ sở “thiên tính tự nhiên’ vừa trong những quan hệ xã hội phức tạp. Đặc biệt, ông chỉ ra vai trò to lớn của điều kiện kinh tế và giáo dục đối với sự hình thành và thay đổi bản tính con người. Nhận thức được tính quy luật của sự phát triển xã hội, Ngô Thì Nhậm có những tư tưởng mang tính chất chiến lược về giáo dục và trọng dụng hiền tài. Với những đóng góp của mình, ông "mãi mãi là ngôi sao sáng trên bầu trời Việt Nam, làm vẻ vang cho giống nòi”.
Ngô Thì Nhậm (1746 - 1803) là một trong những nhà tư tưởng tiêu biểu trong lịch sử dân tộc. Sống trong thời kỳ của những chuyển biến xã hội hết sức lớn lao và nhanh chóng vào cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX, ông đã có những cống hiến quan trọng đối với sự phát triển đất nước vả của lịch sử tư tưởng Việt Nam. Cuộc đời và sự nghiệp của Ngô Thì Nhậm đã được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu trên những phương diện khác nhau. Tuy nhiên, trên bình diện lịch sử triết học và tư tưởng giáo dục thì cần thiết phải làm sáng tỏ hơn nữa những đóng góp quý báu của ông về vấn đề con người, giáo dục cái người và trọng dụng nhân tài trong sự nghiệp chấn hưng đất nước.
Vấn đề con người.
Trong toàn bộ tư tưởng của mình, vấn đề con người được Ngô Thì Nhậm quan tâm trước hết. Tiếp thu truyền thống tư tưởng phương Đông nhưng ông đã có những kiến giải mới mẻ, độc đáo về vấn đề con người, thể hiện trí tuệ của một nhà triết học. Bàn về vấn đề con người, Ngô Thì Nhậm chú trọng tới sự sinh thành và bản tính con người.
Về sự sinh thành con người
|
Ngô Thì Nhậm là con Ngô Thì Sĩ, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây. Tự là Hy Doãn, hiệu Đạt Hiên.
Ông thi đỗ giải nguyên năm 1768, rồi tiến sĩ năm 1775. Sau khi đỗ đạt làm quan dưới triều Lê - Trịnh, được chúa Trịnh Sâm rất quý phục. Vụ án năm Canh Tý (1780) nổ ra, ông không can dự gì nhưng cũng phải bỏ trốn về Thái Bình lánh nạn. Khi biết Nguyễn Huệ nổi dậy khởi nghĩa, đánh đâu được đấy, đi đến đâu cũng cứu giúp dân nghèo, Ngô Thì Nhậm đã có ý muốn theo phò Nguyễn Huệ. Năm 1787, khi Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ hai, ông đã thực hiện được mong muốn này. Nguyễn Huệ phong ông làm Tả thị lang Bộ Lại.
Cuối năm Mậu Thân (1788) do vua Lê Chiêu Thống cầu viện, 29 vạn quân Thanh kéo sang Việt Nam, với chiêu bài diệt Tây Sơn dựng lại nhà Lê. Ngô Thì Nhậm đã có kế lui binh về giữ Tam Điệp góp phần làm nên chiến thắng của nhà Tây Sơn. Vì vậy năm 1790, vua Quang Trung đã giao cho Ngô Thì Nhậm giữ chức Binh bộ thượng thư.
Không chỉ là một danh sĩ, thành viên của Ngô gia văn phái mà Ngô Thì Nhậm còn là người văn võ song toàn, giỏi về chính trị, ngoại giao, quân sự. Tài ngoại giao của ông đã góp phần quyết định, ngăn chặn ý đồ gây chiến phục thù của nhà Thanh sau trận Đống Đa 1789.
Sau khi vua Quang Trung mất, Ngô Thì Nhậm không còn được nhà Tây Sơn trọng dụng. Chẳng bao lâu sau, Nguyễn Ánh tiêu diệt nhà Tây Sơn. Ngô Thì Nhậm và một số đại thần triều Tây Sơn bị đánh bằng roi đến chết tại Văn Miếu. |
Ngô Thì Nhậm lý giải sự sinh thành con người dựa trên những tư tưởng triết học của Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo. Trong Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh, sự hình thành con người được ông đề cập tương đối rõ nét. Xuất phát từ quan điểm trong Kinh Dịch: "Trời và người cùng chung một lý". ("Lý” ở đây được hiểu như là quy luật vận hành tự nhiên của trời đất và muôn vật - N.B.C), ông coi sự xuất hiện của con người là do trời sinh ra. Nhưng khi nhìn nhận về sự sinh, diệt- theo lẽ tự nhiên của con người thì ông lại chịu ảnh hưởng của Phật giáo. Ông cho rằng, sự nhận thức về lẽ sinh diệt của con người tất thảy "đều từ cái Tâm của con người tạo ra".
Mặc dù luận điểm này thể hiện rõ tính duy tâm, thần bí, nhưng khi kiến giải về mối quan hệ giữa ý (thuộc ý thức, tinh thần) với xúc (thuộc về cơ thể, vật chất) trong con người, Ngô Thì Nhậm đã có những kiến giải tinh tế. Theo ông, "người nào không có ý, không có xúc thì không thấy cái đó", tức là không thể nhận thức được Tâm - cái tạo ra sự sinh, diệt trong con người. Mặt khác, ông thừa nhận hình thể của con người là do hình và khí tạo nên,do đó, không thể không bị quy luật sinh diệt chi phối. Ông nói: "Người thì có hình, có khí (chất), đã bị hạn chế ở trong hình và khí thì ai mà vô sinh được và ai mà vô diệt được?". Ngoài việc xem hình, khí tạo nên con người, ông còn chú ý tới ảnh hưởng của điều kiện sinh hoạt thường ngày, đặc biệt là yếu tố dinh dưỡng đối với cơ thể con người. Ông viết: "cái thân của mình ta là do tinh khí tụ hợp, còn cái bộ dạng là do sự nhiễm tập ở nơi ăn ở, hoặc do sự thay đổi trong cách bồi dưỡng tẩm bổ”. Ở đây, tuy quan điểm còn thô sơ, song cũng cho thấy đó là một cách nhìn thực tế.
Không chỉ lý giải về sự sinh thành con người, Ngô Thì Nhậm còn quan tâm giải thích mối quan hệ giữa tinh thần và thân thể trong con người. Từ quan điểm của Nho giáo: "Tinh khí cấu tạo ra vật”, ông cho rằng: “Tinh thần cất giấu ở trong thân thể, thân thể là đồng một chất với trời đất. Theo ông thân thể là cái có giới hạn, còn "tinh thần thì không tiêu tan”, có như thế, con người "mới giũ được cái chân tướng của mình”. Do quan niệm tinh thần là yếu tố đầu tiên có trước thân thể, tinh thần mới là đã tồn tại lâu dài nên Ngô Thì Nhậm khuyên con người hãy giữ gìn và coi trọng tinh thần: "Sống thì giữ trang trọng, chết thì giữ rất nghiêm túc". Ông nói tiếp: "Thân thể người ta đồng chất với trời đất, có tinh thần mới có cái thân thể này. Nếu biết giữ gìn trang nghiêm thì được cùng trời đất lâu dài vậy". Lý luận trên cho thấy ông đã bước sang lĩnh vực lẽ sống của con người, một lĩnh vực mà con người cần phải rèn luyện.
Như vậy, trong quan niệm về sự sinh thàn con người, Ngô Thì Nhậm đã thể hiện như một nhà triết học. Mặc dù vẫn chưa thể vượt khỏi khuôn mẫu truyền thống cũ, nhưng ông đã có những kiến giải sâu sắc, mới mẻ, đặc biệt là nhận định về ảnh hưởng của cách thức sinh sống và điều kiện dinh dưỡng đối với cơ thể con người.
Về bản tính con người
Bàn về bản tính con người, hầu hết các nhà tư tưởng Việt Nam ít nhiều đều chịu ảnh hưởng của các học thuyết triết học phương Đông truyền thống. Ngô Thì Nhậm cũng không phải là ngoại lệ. Xuất phát từ quan điểm Nho giáo về "thiên tính", "nhân tính", ông quan niệm "mệnh" - "thiên tính" là cái toàn thể, rộng lớn như biển cả, bao quát như đất trời còn "tính người" thì rất nhỏ. Tính người, (chỉ là một vốc nước con trong biển, được chứa đựng trong cái toàn thể - mệnh. Điều đáng chú ý là, trong tư tưởng của mình, ông đã nhấn mạnh sự tác động của các yếu tố xã hội đến việc thay đổi bản tính con người.
Khi bàn về bản tính con người, trước hết, Ngô Thì Nhậm tiếp cận trên cơ sở tự nhiên của.nó. Ông gọi đó là "Thiên tính tự nhiên". Từ quan điểm triết học "vạn vật đồng nhất thể”, ông cho rằng, con người cũng như vạn vật "đều có thiên tính tự nhiên của nó". Vậy thiên tính tự nhiên là gì? Ông trích dẫn Kinh Thư: "Trời sinh con người có Dục” và lý giải: với con người, "Dục là tính [tự nhiên], nó ở trong nhật dụng thường hành, như đời thì muốn ăn, khát thì muốn uống, không có không được. Theo đó, ngay từ khi sinh ra, con người được đã có tính tự nhiên - dục, mà dục được hiểu theo nghĩa là những nhu cầu tự nhiên của con người, do vậy việc đáp ứng những nhu cầu ấy là tất yếu trong quá trình tồn tại và phát triển của họ. Ở đây, khi nhìn nhận con người trong chính bản tính tự nhiên vốn có của nó, ông đã tuyệt đối hóa chỉ thiên tính tự nhiên đó. Ông cho rằng, "lòng người chẳng qua là lòng dục mà thôi”.
Chịu ảnh hưởng sâu sắc của Tống Nho, Ngô Thì Nhậm đã chỉ rõ mối quan hệ giữa "tính trời" và "tình người”. Ông nói: 'Trời cho người cái tâm có tính thường. Có cái tính của trời thì có cái tình của người". Cũng như Tống Nho chủ trương "Tồn thiên lý, diệt nhận dục", Ngô Thì Nhậm chủ trương xóa tất cả mọi dục vọng để "Tâm" được tuyệt đối trong sáng. Khi đề cao tuyệt đối cái thiên tính, ông còn yêu cầu con người phải diệt bỏ mọi dục vọng ngay cả trong ý nghĩ của mình. Theo ông, khi nhận thức,nếu "trong lòng chỉ một khối thiên lý, không hề có một mảy nhân dục riêng tây" thì có thể nhận thức đối tượng một cách "quang minh, chính đại", còn nếu "vọng tưởng quàng xiên, làm cho lòng dạ phiền nhiệt, càng tư tưởng càng bế tắc" thì không thể nhận thức được đối tượng. Chỉ khi con người diệt được "nhân dục” thì mới có thể nhận thức được "thiên lý” và noi theo nó.
Thứ hai, xuất phát từ tư tưởng triết học về sự vận động của vũ trụ: "trên đời chẳng cái gì mà chẳng lưu hành, những cái gì mà chẳng vận đông", Ngô Thì Nhậm cho rằng "bản tính của con người” vừa động, vừa tĩnh, tùy theo hoàn cảnh, hành động và sự hiểu biết của mỗi người. Như vậy, ông đã tiếp cận con người trong mối quan hệ xã hội phức tạp, thấy rõ được sự tác động của những nhân tố xã hội đến sự thay đổi bản tính con người.
Theo Ngô Thì Nhậm, con người vốn thiện, nhưng do hoàn cảnh mà thành ra bạc ác. Ông nói: "Ôi! Phàm đã làm người, ai chẳng muốn làm điều tốt, chỉ vì hoàn cảnh bắt buộc mới làm việc ác, để cho lương tâm mòn mỏi”. Điều đó theo ông, có nguyên nhân từ những điều kiện kinh tế và xã hội. Việc "tụ lập bè đảng, lấy việc cưỡng bức để sinh nhai cũng là chỗ bất đắc dĩ, hoặc vì đói rét mà bức bách, hoặc vì bạo ngược xua đuổi, mời đến nương thân nơi sóng gió, không có lối thoát ra”. Từ quan niệm coi hoàn cảnh xã hội tạo nên con người, ông cho rằng, cần phải tạo ra được hoàn cảnh và những quan hệ xã hội tốt đẹp để hoàn thiện con người. Với quan niệm này, ông chủ trương dùng đạo lý để chế ngư con người, dùng lẽ phải để thu phục lòng người, khiến cho những người tài cán giỏi giang, "những đứa giặc nước đều có thể thành những bầy tôi lương đống”. Điều đặc biệt là, Ngô Thì Nhậm đã đề cập đến việc cần chú trọng giáo dục con người ngay từ khi còn là bào thai. Ngoài ra, ông còn chỉ rõ sự tác động của mới trường, điều kiện, hoàn cảnh gia đình đến việc hình thành tư chất, diện mạo của trẻ. Ông viết: "Con trai con gái mà giống cha, mẹ là do sớm chiều ăn ở cùng nhau và cách thức bồi bổ dinh dưỡng thích hợp với nhau. Tuy nhiên, cũng ở đây, ông dã không thể vượt qua được hạn chế của Nho giáo về sự nhân chia thứ hạng người trong xã hội. Khi tuyệt đối hóa yếu tố trí tuệ bẩm sinh trong hai hạng người (thượng trí và hạ ngu) và phủ nhận cả những tư tưởng tiến bộ mà mình vừa khẳng định, ông cho rằng, "bậc thượng trí và kẻ hạ ngu là không thay đổi theo ngoại cảnh".
Như trên đã nói, trong con người, ngoài thiên tính tự nhiên do trời phú, còn có "Thiên lương” - cái đạo, tính tết mà trời phú cho người: Theo Ngô Thì Nhậm, người nào mà không "có đạo người", tức là "mất hết thiên lương, thì tính người tiêu diệt và "phải đi vào cái đạo của súc sinh". Muốn chặt đứt cái nghiệp căn, hay muốn không để mất thiên lương, tức là đạo người thì phải có một tia sáng - trí tuệ. Ở đây, ông đã có lý khi đề cập đến vai trò của trí tuệ như là ánh sáng soi rọi để con người giữ được đạo người, trở về với đức tính tốt trời phú cho.
Ngô Thì Nhậm đi từ sự khác nhau về thể chất để nhận ra sự khác nhau về bản chất của mỗi người. Theo ông, cần phải dùng giáo dục, mà chủ yếu là thông qua giáo dục đạo làm người để cho bản chất con người trở nên gần nhau, giống nhau, làm cho quan hệ xã hội trở nên hài hòa để từ đó, xây dựng một' xã hội có nền văn hóa, giáo dục hưng thịnh. Ông viết: "Người ta, mặt không giống nhau thì lòng cũng không giống nhau (...). Vậy thì ở chỗ không giống nhau đó, đem đạo lý bàn bạc với nhau để làm cho giống nhau, ở chỗ không thường tụ họp đó, ta lấy đức tính tất khuyên bảo nhau để thường tụ họp,thờ thần minh không lỗi đạo thành kính, thờ vua. Cha không mỗi đạo trung hiếu, ở gia đình thì làm người lương thiện, ở làng xóm thì làm người nết na, thẳng thắn nhưng không tranh giành nhau, hòa nhã để cư xử với nhau khiến cho vạn vật đời đời sáng láng, khoa mục ngày càng hưng thịnh”.
Như vậy, có thể nói, trong tư tưởng Ngô Thì Nhậm về bản tính con người có nhiều điểm hợp lý, kế thừa được những giá trị trong lịch sử tư tưởng dân tộc. Ông thấy được vai trò to lớn của điều kiện kinh tế và những quan hệ xã hội, đặc biệt là thấy được tầm quan trọng của giáo dục trong việc hình thành và thay đổi tính người. Những quan niệm tích cực đó cũng được thể hiện rõ nét khi ông bàn đến vai trò của giáo dục trong việc xây dựng con người, vai trò của hiền tài đối với quốc gia. Từ tư tưởng đó, ông đã đưa ra những chủ trương mới để dựng xây triều đại và chính những hành động thực tiễn của ông đã khẳng định tính đúng đắn, tiến bộ của nó ở một mức độ nhất định.
Về giáo dục và trọng dụng hiền tài
Hoạt động dưới lá cờ trọng dân, trọng nghĩa của triều đình Tây Sơn, Ngô Thì Nhậm sớm đưa ra chủ trương "xây nền, dựng nước": Xây nền bình trị của một quốc gia phải có "nhân chính tốt". Dựng nước của cả dân tộc phải dựa vào muôn dân, trông cậy vào bề tôi hiền tài. Để thực hiện chủ trương đó, trước hết, ông chú ý tới những vấn đề, như làm thế nào để có nền chính trị nhân nghĩa tất, làm gì để có những người hiền tài…? Trải nghiệm và suy ngẫm từ thực tế lịch sử, ông đã thấy được câu trả lời cho những vấn đề trên, đó chính là giáo dục. Với những tư tưởng sâu sắc, thể hiện 'trí tuệ của một trí thức dân tộc chân chính, Ngô Thì. Nhậm đã đưa ra một tầm nhìn chiến lược về giáo dục và trọng dụng hiền tài..
Giáo dục nền tảng của công cuộc dựng nước
Xây dựng đất nước văn hiến là đặc điểm lịch sử của dân tộc ta. Văn hiến - sự phát triển của văn. hóa, .giáo dục và sự phong phú về nhân tài là niềm tự hào, đích phấn đấu cội nguồn sức mạnh của dân tộc Việt Nam. Nguyễn Trãi đã từng khẳng định điều đó trong Đại cáo Bình Ngô: "Xét như nước Đại Việt ta, thật là một nước văn hiến”. Sau Nguyễn Trãi gần 400 năm, Ngô Thì Nhậm đã tự hào tuyên bố về nền văn hiến Đại Việt. Ông đã kế thừa và phát huy được cách đúc kết lịch sử hay nhất dựa vào "văn hiến” của tiền nhân khi cho rằng: "Nước Việt ta lấy văn hiến dựng nước".
Nhận thức rõ vai trò của văn hóa, giáo dục đối với sự ổn định chính trị xã hội, phục hưng đất nước, Ngô Thì Nhậm cho rằng: "Dựng nước lấy dạy học làm đầu và giải thích rõ, giáo dục có "quan hệ đến đại điển buổi ban đầu, phải nên mài dũa hưng khởi ý chí... cùng lên con đường rộng rãi, cùng giúp chính trị sáng trong”. Vì thế, theo ông, việc "lập giáo hoá, đặt khoa cử là quy mô lớn để chuyển loạn thành trị" và đạo trị nước có ba "cái mấu chốt” luôn hỗ trợ lẫn nhau, có vai trò quan trọng như nhau là "giáo' (giáo dục), “pháp” (hình pháp) và "chính" (chính trị).
Khảo sát lịch sử xã hội và từ sự nghiên cứu kinh sách, Ngô'Thì Nhậm nhận thấy mọi triều đại đều đề cập đến “giáo", "pháp" và "chính". Ông cho rằng, "nền nếp thịnh trị của các đế vương “đời trước" có ba điều lớn mà nhà vua phải chú ý, đó là '"chính đức” uốn nắn đức tốt cho dân (thông qua giáo hóa, giáo dục), "lợi dụng” - sinh lợi cho dân, "hậu sinh" - trông coi cho dân sống đầy đủ. Ông nhận định: “Đén đời sau, những người có quốc gia, không triều nào là không có "giáo", “pháp”, “chính”. Bởi vấn đề còn ở chỗ khác.
Phân tích mối quan hệ giữa “giáo”, “pháp”, “chính”, Ngô Thì Nhậm cho rằng, không phải thời nào cũng nhận thấy được "cái tinh thần của "giáo”, “pháp” và "chính’. Ông chỉ ra nguyên nhân của việc không thực hiện được những điều đó. Ông nói người đương thời "chỉ nhìn thấy cái bên ngoài của "giáo”, "pháp” và “chính” mà không thấy cái gốc của giáo, chính, pháp. Ông nói: "Sở dĩ giáo không phổ cập được là do học trò không được học, mà học trò không học là do thầy không tinh, sở dĩ "pháp" không được lập là do người giỏi không được dùng, mà người giỏi không được dùng lả dò thưởng phạt không công minh, sở dĩ chính không thi hành được là do kẻ lại không được liêm, mà kẻ lại không được liêm là do bổng lộc không được đủ. Song thầy giảng không tinh, thưởng phạt không công minh và bổng lộc không đủ, duyên cớ là đều do tình trạng thiếu thốn và sự thực thiếu thốn. Cho nên, dù có cấp bách lo việc này nhưng nếu không nắm được mấu chốt của nó, thì dù "trí” có thể biết được, nhưng "thế” vẫn không thể làm được".
Điều đó cho thấy, Ngô Thì Nhậm đã vượt xa nhận thức của nhiều bậc trí thức đương thời, tỏ rõ quan điểm duy vật khi giải thích "mấu chất" của "những điều mấu chốt" trong đạo trị nước chính là "do tình trạng thiếu thốn và sự thực thiếu thốn" về kinh tế. Có thể, ông đã vận dụng bài học trong đạo trị nước mà Khổng Tử từng dạy học trò - "Tiên phú hậu giáo" (trước tiên làm cho dân giàu, sau đó giáo đục cho dân) trong việc phân tích lịch sử và thực tế xã hội Việt Nam đương thời.
Ngô Thì Nhậm đã sáng suốt khi xác định "mấu chốt" của đạo trị nước, nhưng ông càng sáng suốt hơn khi biết phát huy sức mạnh của dân trong việc thực hiện "giáo”, "pháp" và ' "chính". Ông cho rằng, từ kẻ hèn mọn cho đến nhân dân trong nước, thường ngày phải được cung cấp, nuôi dưỡng. Phải bằng chính sự chăm lo đến đời sống nhân dân thì triều đình mới thuyết phục được lòng người, huy động được sức dân. Làm được như vậy, triều đình mới được đâu đấy hưởng ứng và đồng tình, như gió lướt ngọn cỏ, ức triệu lòng như một. Dựa vào đấy mà lập "giáo", lo gì không có người dạy dỗ uốn nắn, dựa vào đấy mà lập "pháp", lo gì không có người trông coi gìn giữ, dựa vào đây mà lập chính, lo gì không có giúp đỡ khích lệ?". Từ đó "Dân không cần phải dắt bảo từng người mà vẫn tốt, tục không phải thay đổi hàng loạt mà vẫn hay, nhân tài không phải tìm ở nội cỏ mà tự nhiên đến, quan không cần phải đặt nhiều mà tự nhiên trị, nước không cần phải lấy của dân mà vẫn giàu, binh không phải xua ra trận mà vẫn mạnh".
Nhắc lại kinh nghiệm trị quốc của Thánh tổ Quang Trung, Ngô Thì Nhậm cho rằng, trong sáu công việc phải quan tâm ("Hóa dân, thành tục, cầu hiền, thẩm quan, phú quốc, cường binh") thì "cả sáu việc ấy đồng thời cử hành, không cản trở nhau” và giáo dục phải được đặt lên hàng đầu. Nhưng mấu chất của giáo dục lại là kinh tế ông nói: "Điều mấu chất là phải đem cái tình trạng thiếu thốn và cái sự thực thiếu thốn mà nghiên cứu chỉnh đốn lại. Đó là cái tâm pháp làm chính trị của muôn đời”. Đồng thời, ông cũng đưa ra một số biện pháp góp phần củng cố thế nước vững bền, đó là: người trị nước phải biết lắng nghe dân chúng mà không sợ rườm tai, "hay hỏi và hay xét đến những lời nói gần gũi", phải coi thiên hạ là một nhà, coi cả nước là một người... phải nắm được điều mấu chốt. Sau đó, nếu lấy hiếu, đễ, trung, tín làm "giáo", lấy gốc, ngọn, độ số làm "pháp", lấy binh, tài, lễ, nhạc làm "chính", thì có thể thừa sức thi thố”.
Là người có đầu óc thực tế, khi coi cái mấu chất nhất của đạo trị nước là đời sống kinh tế, nhưng khi xét hoàn cảnh cụ thể của nước ta, thì ông cho rằng, sau kinh tế, quan trọng hơn cả chính là nhân tố con người, là hiền tài. Bởi thế, ông nói: "Vua muốn nước "trị”, tất phải có người bề tôi giúp "trị", sau đó "giáo”, "pháp" và "chính" mới có thể thực hiện được". Đây chính là tư tưởng về sự cần thiết phải trọng dụng hiền tài trong công cuộc kiến thiết quốc gia.
Nguồn:
Tạp chí Triết học Số lượt đọc:
3494
-
Cập nhật lần cuối:
04/02/2009 03:23:54 PM
Ý kiến của bạn về bài viết: |  |
Thông tin liên quan: Đường lối giáo dục cứu nước của Đông Kinh Nghĩa Thục03/08/2009 04:19' PM Giáo dục cứu nước (GDCN) là lựa chọn quan trọng nhất của các sĩ phu sáng lập Đông Kinh Nghĩa Thục (ĐKNT) khi họ quyết định đường lối đấu tranh giải phóng nước nhà của tổ chức cách mạng này. Trước đó, tất cả các cuộc đấu tranh chống Pháp đều theo đường lối bạo động vũ trang. Cái kiêu của nhà Nho23/06/2009 05:11' PM Nho giáo, với tư cách là một học thuyết đạo đức thường nhấn mạnh sự đòi hỏi về đức khiêm cung ở người quân tử. "Mãn chiêu tổn, khiêm thụ ích" - cái đầy gọi cái vơi, võng xuống thì được làm cho đầy trở lại - có thể nói, đây chính là một "lí do triết học" dẫn đến đòi hỏi đạo đức nói trên trong Nho giáo. Kant với vấn đề giáo dục05/03/2009 05:21' PM Bài viết nhằm giới thiệu một số ý kiến của triết gia thời Khai sáng, I. Kant, về vấn đề giáo dục mà không đưa ra phê phán hay hệ thống hoá, có mục đích cung cấp tài liệu tham khảo để thảo luận hay suy nghĩ tiếp. Mảnh đất tự do của những nhà giáo dục20/11/2008 12:26' AM Những vị ngồi đây hôm nay có đến quá nửa đang là những nhà giáo dục hoặc trong tương lai sẽ là những người tiến thân bằng con đường giáo dục. Tôi muốn nói với các bạn một chút về những ưu điểm mặc biệt của ngành giáo dục và những cách để làm sao cho mình được thông dụng... Bạn Bè13/10/2008 11:04' AM Người Anh có một câu thành ngữ nổi tiếng: "Cha mẹ là của cải. Anh em là chân tay. Bạn bè là tất cả". Còn với người Việt, dân gian cũng có câu nói: "Cuộc sống thiếu bạn bè như cuộc sống không có mặt trời". Như thế bạn bè là một nhhân tố quyết định đến các mối quan hệ xã hội của từng cá nhân... Giáo dục và sự phát triển văn hóa13/10/2008 10:24' AM Lại một năm học mới đã đến, trong cái không khí nao nức của buổi tựu trường, nơi trái tim mỗi nhà giáo dục, mỗi người dân vẫn còn những mối trăn trở về những bất cập của nền giáo dục nước nhà, Người Đô Thị xin giới thiệu một góc nhìn về giáo dục của cố GS, TS Dương Thiệu Tống như cách tưởng nhớ ông. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục04/06/2007 02:33' PM Chủ tịch Hồ Chí Minh là người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới, đồng thời cũng là nhà giáo. Suốt đời Bác nêu tấm gương sáng ngời về người thầy được toàn dân tộc và cả loài người tiến bộ noi theo. Những kiến giải của M. Gorki về con người27/01/2007 04:41' PM M.Gorki đã đưa ra một luận điểm hào sảng: Tất cả ở trong Con người, tất cả để cho Con người... Với cảm nhận của chúng tôi, Gorki là đồng nghĩa với nước Nga, với con sông Vônga, với con người Nga. ông yêu mến nước Nga quá đỗi và hiểu biết nước Nga tường tận, cho dù có lúc vì đau đớn mà ông chưa thật công bằng, thậm chí nặng lời với một bộ phận người Nga. Gorki không chỉ là nhà văn lớn, mà còn là nhà triết học, nhà văn hoá kiểu mới, nhà dân tộc học... Mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và đạo đức xã hội trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay28/11/2006 12:00' AM Nhu cầu là động lực hết sức quan trọng thúc đẩy con người hành động. Sự thoả mãn nhu cầu ấy, đối với chủ thê hành động, là lợi ích. Vì vậy, lợi ích là cái đáp ứng nhu cầu và nó chỉ có nghĩa là lợi ích khi được đặt trong quan hệ với nhu cầu. Ngoài mối quan hệ đó, cái được coi là lợi ích không còn là lợi ích nữa... Về tư tưởng giáo dục Arixtốt16/11/2006 05:56' PM Có lẽ còn ít người biết về ông với tư cách nhà giáo dục, người mà cách đây hơn hai nghìn năm, trong các tác phẩm Về giáo dục, Chính trị học và Đạo đức học... đã đưa ra những quan điểm hết sức sâu sắc về vai trò, mục đích của giáo dục, về hệ thống giáo dục và sư phạm học... Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục18/10/2006 04:59' PM Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng về giáo dục luôn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Trong sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thực hiện mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" ở nước ta, tư tưởng đó của Người càng có ý nghĩa thiết thực... Một trường hợp mở đất29/06/2006 09:27' PM Để đạt được thành quả trên, ông phải chịu khó ra công học hỏi kinh nghiệm qua những lần tiếp xúc với những người nước ngoài và quan trọng nhất là do ông có tính thanh liêm, công bằng... Tư tưởng Hồ Chí Minh sải bước cùng thời đại18/05/2006 07:09' AM “Tư tưởng Hồ Chí Minh” không khép kín, tự đủ, không nhất thành bất biến mà luôn luôn phát triển với dân tộc và thế giới... Những vấn đề con người và tu dưỡng trong Phật giáo12/05/2006 09:48' PM Đạo Phật không thừa nhận quan điểm thần quyền của kinh Veda, không quy phục sự bất bình đẳng tôn giáo trong đạo Balamôn. Thời đó, đạo Phật xuất hiện như một hệ tư tưởng tiến bộ, vô thần, bảo vệ quyền bình đẳng của con người trong xã hội đẳng cấp tôn giáo... Ảnh hưởng của Phật giáo với con người Việt Nam12/05/2006 07:47' PM Từ khi du nhập Việt Nam đến nay, Phật giáo đã tồn tại và gắn liền với lịch sử dân tộc, nó ngấm sâu vào tư duy và trở thành một bộ phận văn hoá, nếp sống của người Việt. Vậy nó ảnh hưởng đến con người Việt Nam như thế nào? Sự thông thái xem như mục đích của giáo dục Khai phóng09/04/2006 06:14' PM Ta gọi một người là thông thái hoặc bởi anh ta chứng tỏ biết xét đoán đúng đắn trong những vấn đề thực tiễn của cuộc sống, hoặc bởi anh ta có sự thấu thị sâu sắc về những nguyên lý cơ bản và nguồn cội của sự việc. Trong suốt truyền thống lịch sử phương Tây, thuật ngữ “thông thái” đã có cả hai ý nghĩa trí tuệ và đạo đức đối với chúng ta... Phong trào Đông Du, một trăm năm trước23/01/2006 09:01' PM Tuy tồn tại không được lâu, phong trào Đông Du cũng đã để lại một dấu ấn trong lịch sử Việt Nam thời hiện đại. Sự kiện đông đảo người dân trên gần khắp đất nước tiếp tay với phong trào cho thấy ý thức chung của người dân về sự cần thiết của cái học mới... Lê Thánh Tông - vị vua hiền tài, nhà Văn hóa lớn của dân tộc09/01/2006 09:27' PM Là người yêu dân yêu nước thiết tha, khi ở ngôi, Thánh Tông tỏ ra là nhà tổ chức vô cùng tài giỏi, có tinh thần cải cách táo bạo và một ý chí tự cường dân tộc hết sức mạnh mẽ. Nhu cầu về tri thức: vấn đề lớn ở Việt Nam03/01/2006 09:15' AM "Nếu là bạn tốt của VN thì phải phê phán VN. Tôi tin có rất ít sự phê bình mang tính xây dựng liên quan tới chính sách và thành tựu kinh tế xã hội của VN, cả ở trong nước lẫn nước ngoài", Trên tinh thần đó, ông Thomas Vallely, Giám đốc chương trình Việt Nam của ĐH Harvard đã "xin trình bày bài phê bình dưới đây" tại phiên thảo luận có nội dung "Giáo dục ĐH Việt Nam: Nguồn lực và cơ hội" trong khuôn khổ hội nghị khoa học của các nghiên cứu sinh VN tại Mỹ... Giáo dục và ý nghĩa cuộc sống28/12/2005 10:03' PM Các hệ thống dù là giáo dục hay chính trị, đã không được đổi thay một cách huyền diệu, chúng chỉ chuyển hóa khi nào có một sự thay đổi nền tảng trong chính chúng ta. Cá nhân là quan trọng trên hết, chứ không phải hệ thống và bao lâu cá nhân không hiểu biết toàn thể quá trình của mình, thì không có một hệ thống nào, dù là ở phe tả hay phe cánh hữu có thể mang đến trật tự và hòa bình cho thế giới... Đại học đi về đâu?19/03/2010 09:24' AM Đại học bất cứ ở đâu đều chịu ảnh hưởng của những biến chuyển ấy và dù muốn dù không đều sẽ bị lôi cuốn theo chiều hướng ấy. Đại học Việt Nam e cũng sẽ thế mà thôi. Tuy nhiên, đại học, văn hóa của một nước, không dễ gì để đánh mất bản sắc quốc gia của mình. Văn hóa Việt Nam, nếu nói theo Khổng thì là trung dung, nếu nói theo Phật thì là trung đạo. Tôi hy vọng tinh thần đó sẽ hướng chúng ta trả lời câu hỏi chung đặt ra cho mọi đại học: đại học là gì ? Từ câu trả lời đó, ta sẽ biết đi về đâu vào thế kỷ mới. Có giáo dục mà vẫn đáng ghét16/03/2010 11:25' AM Có những tài liệu in đã lâu, nhưng tính thời sự và đúng đắn của chúng vẫn còn thích hợp với ngày hôm nay. Nếu chúng ta đọc được, và đưa ra cho mọi người cùng đọc (thay vì giữ riêng làm tài liệu), thì đó là một cách tiết kiệm chất xám, của người đi trước, cho người đi sau... Câu hỏi độc ác từ những đứa trẻ16/03/2010 10:31' AM Rồi đến một ngày, chúng sẽ đứng trước xã hội một cách ngạo mạn, hống hách và ác độc cất tiếng đòi hỏi và đe dọa xã hội bằng bạo lực. Và nếu không được xã hội thỏa mãn những dục vọng của mình, chúng sẽ tàn phá xã hội một cách không thương tiếc... Triết lý giáo dục trong những cuốn sách kinh điển11/03/2010 07:20' AM Nền giáo dục Việt Nam nơi đào tạo ra rất nhiều đứa trẻ được nuông chiều nhưng không thực sự được tôn trọng, tự tin vì rất nhiều thứ khác ngoài nền tảng kiến thức và bản lĩnh cá nhân, chắc chắn cần có các thay đổi. Lời gợi ý đúng đắn rất có thể sẽ đến từ những cuốn sách như thế này. 'Bản nháp', 'lỗi kỹ thuật': Trách nhiệm xã hội của Bộ GD-ĐT09/03/2010 08:07' AM Dù là thực sự hay bao biện với "lỗi kỹ thuật" gửi "bản nháp" có điều cấm trường ngoài công lập đào tạo ngành luật, báo chí, sư phạm để đưa lên mạng lấy ý kiến dư luận, những người có trách nhiệm quản lý giáo dục đại học có lẽ phải giở lại "Vở bài tập Đạo đức lớp 1" để thực hành "bài tập số 4" (Em hãy cùng các bạn đóng vai về chủ đề "Cảm ơn, xin lỗi"). Nguồn cơn "lệnh suýt cấm" Xuân 10 tuổi và xuân 79 tuổi26/02/2010 11:00' AM Ngày xuân vui vẻ, mong bạn thêm vui vì được đọc hai bài văn, một bài của một ông già bẩy mươi chín tuổi nhưng vẫn hy vọng "có thể trở thành một nhà văn", và một bài của bạn tôi, em Hoàng Mai Thi, 10 tuổi tính cả tuổi mụ. Nhà giáo thời đại và cái nhìn vĩnh cửu05/02/2010 10:24' AM Khắp địa cầu, quốc gia nào cũng lấy giáo dục, tức đào tạo con người, là quốc sách hàng đầu. Bởi vì con người là tài sản quý giá nhất của mọi quốc gia. Mà con người chỉ có thể trở nên giá trị nhờ giáo dục... Thư gửi các nhà khoa học trẻ Việt Nam30/01/2010 07:35' AM GS Pierre Darriulat từng trong số những nhà khoa học hàng đầu ở trung tâm Nghiên cứu hạt nhân châu Âu CERN, nơi đang có máy gia tốc hạt lớn nhất thế giới LHC. Luôn bức xúc với tình trạng chảy máu chất xám mà bản thân ông đang chứng kiến ngay với những học trò do mình đào tạo ra, trước cơ hội xây dựng những đại học chất lượng quốc tế sắp đến, ông viết bài này đưa ra cách nhìn khách quan về giáo dục đại học Việt Nam và mong mỏi sự chung sức của giới khoa học trẻ để chấn hưng nền đại học nước nhà. Bài khác: Nghĩ về việc học01/01/1900 12:00' AM Đầu năm 2006, một người Mỹ nói thẳng là thanh niên Việt Nam không có nhu cầu hiểu biết mà chỉ lo học lấy bằng để kiếm sống. Thoạt nghe tôi cũng bị sốc. Một xã hội mà lớp trẻ chỉ lo kiếm sống và không có nhu cầu hiểu biết thì xã hội đó phát triển làm sao được! Giáo sư Trần Văn Giàu Huyền thoại về một con người01/01/1900 12:00' AM Giáo sư sử học, Nhà giáo Nhân dân, Anh hùng lao động Trần Văn Giàu sinh ngày 6/9/1911 tại xã An Lạc Long, huyện Châu Thành, tỉnh Long An. Cuộc đời hoạt động cách mạng, dạy học và nghiên cứu khoa học 'của ông là một tấm gương sáng về ý chí và bản lĩnh, về sự quả cảm và đức hy sinh, về tài năng và nhân cách. Ông là một nhà cách mạng tiêu biểu, là nhà giáo và nhà sử học lớn của Việt Nam trong thế kỷ XX. Hiện nay, tuy đã bước vào tuổi 94 nhưng ông vẫn rất minh mẫn và miệt mài làm việc với mong muốn đóng góp nhiều hơn nữa cho dân, cho nước trên các lĩnh vực khoa học và giáo đục. Hội chứng thi01/01/1900 12:00' AM Hiện nay việc thi - kiểm tra ở bậc học phổ thông đang diễn ra hết sức tùy tiện, bị lạm dụng quá mức, làm khổ người dạy và người học vô cùng. Còn kết quả những kỳ thi - kiểm tra đó lại không đủ độ tin cậy để đánh giá chất lượng học tập, không phản ánh đúng thực lực việc dạy & học, mà phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của người dạy và nhà quản lý giáo dục. Học tồi nhưng nếu muốn, người ta vẫn có cách thi để có điểm cao và ngược lại. Bài toán xã hội hóa03/05/2006 09:10' PM Xã hội hóa và đổi mới tư duy vẫn là hai thứ khác nhau. Mối quan hệ giữa chúng nhiều khi cũng tế nhị như mối quan hệ giữa bình và rượu... Thư viện thời Ebook30/03/2006 08:43' PM “Ngày nay ít người còn chịu đọc sách”, “Sách giờ ai đọc mấy đâu”, “Văn hóa nghe nhìn đang lấn lướt văn hóa đọc”, vân vân và vân vân, những tiếng thốt lên như một cám cảnh, và như một báo động. Nhưng có thật chăng văn hóa đọc đang đi xuống? Nhu cầu về tri thức: vấn đề lớn ở Việt Nam03/01/2006 09:15' AM "Nếu là bạn tốt của VN thì phải phê phán VN. Tôi tin có rất ít sự phê bình mang tính xây dựng liên quan tới chính sách và thành tựu kinh tế xã hội của VN, cả ở trong nước lẫn nước ngoài", Trên tinh thần đó, ông Thomas Vallely, Giám đốc chương trình Việt Nam của ĐH Harvard đã "xin trình bày bài phê bình dưới đây" tại phiên thảo luận có nội dung "Giáo dục ĐH Việt Nam: Nguồn lực và cơ hội" trong khuôn khổ hội nghị khoa học của các nghiên cứu sinh VN tại Mỹ... Giáo dục và ý nghĩa cuộc sống28/12/2005 10:03' PM Các hệ thống dù là giáo dục hay chính trị, đã không được đổi thay một cách huyền diệu, chúng chỉ chuyển hóa khi nào có một sự thay đổi nền tảng trong chính chúng ta. Cá nhân là quan trọng trên hết, chứ không phải hệ thống và bao lâu cá nhân không hiểu biết toàn thể quá trình của mình, thì không có một hệ thống nào, dù là ở phe tả hay phe cánh hữu có thể mang đến trật tự và hòa bình cho thế giới... 2005 - "Phải tiến nhanh lên mà thôi"23/07/2005 02:22' PM Bàn về văn minh nước ta, khuyết điểm còn nhiều nhưng không có gì phải lo, chỉ phải tiến nhanh lên mà thôi...”(1). Đó là câu nói mà 100 năm trước được ghi trong Quốc Dân Độc Bản của các sĩ phu yêu nước tiến bộ thời Đông Kinh Nghĩa Thục. |