Đang tải dữ liệu...
ChúngTa.com.NET CommunityHanoi Software JSCDoanh nhân 360
Home
 
Suy ngẫm
 
Giáo dục
 
Trải nghiệm Trưởng thành
 
Kinh doanh
 
CNTT
 
Góc Giải trí
 
Tác giả
   Bản chất thế giới    Nhận thức    Hệ giá trị    Thực tiễn-Hành động    Ngẫm nghĩ Việt Nam    Điểm sách hay
Tìm bài viết
Tìm kiếm nâng cao
Thống kê
Số lượt truy cập: 44.778.987
Số người trực tuyến: 942
Bạn đọc đến từ đâu?

Bạn đọc của ChúngTa.com đến từ đâu?

Các giới hạn khoa học

Jean Fourastié, Đặng Mộng Lân dịch
Cuốn Bên ngoài khoa học, Nxb Khoa học và Kỹ thuật
   
07:05' PM - Thứ hai, 12/12/2005

Bài của Jean Fourastié là phần thứ hai trong cuốn Les conditions de l’esprit scientifique (Các điều kiện của tinh thần khoa học) trong đó phần thứ nhất được dành cho vấn đề bản chất của khoa học với sự phân tích về các động tác cơ bản của sự vận động khoa học: quan sát, đề xuất giả thuyết và kiểm chứng giả thuyết (bằng thí nghiệm). Ở phần thứ hai trong tuyển tập này, bàn về các giới hạn của khoa học, tác giả đã chỉ ra các giới hạn kinh điển trong đó nêu rõ phần lớn thực tại cảm quan bị tuột khỏi lập luận thực nghiệm (bản chất của sự vận động khoa học) trước khi chuyển sang “Suy nghĩ về các giới hạn khác”. Trong nhiều vấn đề được trình bày, tác giả đã nhắc đến cuốn sách của Alexis Carrel (giải Nobel về sinh lý học và y học năm 1912) nói về một sự dị thường mà chính ông đã theo dõi: cô Marie Bailly bị lao phúc mạc sắp chết, tự nhiên khỏi bệnh trong cuộc hành hương tới Lourdes (Pháp), nơi mà nhiều người bệnh đến đó tin rằng họ sẽ được phép mầu cứu thoát.

Trình độ tầm thường của việc truyền bá tinh thần khoa học thực nghiệm trong trong quần chúng không chỉ có mặt thụ động; nó cũng có một mặt tích cực mà ta cần xem xét.

Mặt thụ động hay tiêu cực của vấn đề trước hết là trí óc con người không có tính tự phát trong việc thám sát thực tại, là những chấn thuuwong tâm thần. Trái lại, con người thường cảm thấy, thiên hướng thích mơ mộng của tự tưởng khi tiếp xúc với thực tại. Và chắc chắn cũng là sự thiếu sót trong thông tin của quần chúng, trong giáo dục ở nhà trường, con người giữ lại của phương pháp thực nghiệm những hình ảnh mơ hồ hoặc đơn giản đến mức dễ dàng cho rằng mình hiểu rõ nó. Và phần lớn mọi người tin chắc một cách ít nhiều có ý thức về sự đồng nhất tự nhiên và dễ chịu giữa sự phán đoán của riêng mình và tinh thần khoa học. Thế là tinh thần thực nghiệm bị lẫn với cái không phải là nó – với sự hiển nhiên, với lập luận duy lý, với lương tri, với lẽ thường. Nó được coi là dễ hoặc thậm chí là tự nhiên, trong khi nhiều người không thể đạt nổi và đối với mọi người lại là rất khó: not are at all but in a few; and in them, but of a few things...(không phải mọi người mà chỉ một số ít người; và trong số ấy, cũng chỉ một số ít vấn đề...)

Những điều kiện hiện nay về tinh thần khoa học cũng được đặc trưng bởi những thái độ nghiêm trọng hơn: một số đông người có những tình cảm nghi ngại, thậm chí thù địch đối với khoa học. Tất nhiên, những điều kỳ diệu của việc khám phá, những “cái thần kỳ” của kỹ thuật, những cải thiện trong sức sống, sự kéo dài tuổi thọ của con người,...đã được thừa nhận ngày nay gần như nhất trí là con đẻ của khoa học thực nghiệm. Nhưng mặt tích cực này của bản quyết toán khoa học, dù có kỳ diệu và lợi ích biết mấy trong tư tưởng của những con người đương đại, không phải bao giờ, cũng thắng được mặt tiêu cực, mà họ thường xét đoán thật là nặng nề, thật là khủng khiếp.

Người ta có thể gợi ra các giá trị của mặt tiêu cực này xuất phát từ hai ý tưởng trung tâm:

- Khoa học đã mở ra và đang mở ra nhiều giải pháp hữu hiệu nhưng sơ sài: khi đặt cho con người những mục tiêu trước mắt, thực hiện bằng những phương tiện mạnh mẽ, nó lại quên những hậu quả xa xôi của những hành vi mà nó phát động. Thế là một cách vô thức, nó đã làm biến dạng thiên nhiên và sản sinh ra, trong sự say sưa, một thế giới phi nhân tính.

- Tinh thần khoa học đã và đang không ngừng nuôi dưỡng những tham vọng quá khích về ưu thế và thậm chí về sự độc quyền của tư tưởng con người; Nó khinh miệt, làm giảm giá trị, làm sai lệch cảm quan bằng những phân tích gây bại hoại, sự nhạy cảm, trí tưởng tượng, tình cảm, là những thứ không chỉ làm nên vẻ quyến rũ của cuộc sống mà còn là động lực của cuộc sống. Nó muốn thủ tiêu mọi cái mà nó thấy bất lực không thể hiểu được, Nó đã và đang gây ra những sự không khoan dung những cuộc truy hại về chính trị và tôn giáo, không thể còn vin vào lý do là còn sơ khai được nữa, và lại thêm cho các thiên kiến cổ xưa cái hiệu lực thông thái của chính quyền và cảnh sát.

Ở đây chúng tôi không có ý định xem xét chi tiết hồ sơ này, cũng không có ý định phán xét xem các thành kiến ấy có căn cứ hay không. Tôi chỉ muốn lưu ý rằng những thái độ hoài nghi hoặc thù địch đối với kỹ thuật và tinh thần khoa học đều bắt nguồn từ các vấn đề về biên giới, về sự thiển cận. Sức mạnh và giá trị dù là đạo lý, dù là thẩm mỹ của khoa học là không còn phải tranh cãi trong phạm vi của khoa học. Nhưng người ta sợ thấy nó vượt ra ngoài phạm vi ấy, người ta tin vào các sự lạm dụng của nó và các tham vọng quá khích của nó.

Thật vậy, cần nhận xét rằng, đúng là ông bà chúng ta, suốt trong thế kỷ XIX và nửa đầu thế kỷ XX, với sự sảng khoái tự nhiên đối với những tín đồ mới, đã nhiều khi nghĩ hoặc ngụ ý rằng phương pháp khoa học đã lan rộng, hoặc sẽ nhanh chóng lan rộng ra toàn bộ hoạt động trí não của con người. Và rằng các kỹ thuật khoa học, cũng đúng như thế, sẽ có thể thoả mãn toàn bộ các nhu cầu thể lực và trí lực của con người. Dường như đó không chỉ là vấn đề của một phương thức nhận thức, mà là của mọi phương thức nhận thức. Dường như là cái gì mà nay còn chưa biết và do đó còn duy trì những sự mê tín và thiên kiến đặc thù của sự sự dốt nát, thì rồi sẽ biết, rất nhanh. Thế là thế giới tối tăm đã nhường chỗ cho thế giới ánh sáng; thế là con người mới đã ra đời...

Chúng tôi đang viết hôm nay là lúc mà năm mười năm đã trôi qua kể từ khi Đại chiến thứ nhất gióng hồi chuông khai tử đầu tiên cho những ảo tưởng như vậy. Ngày nay, nếu trong trong một số nhóm chính trị hoặc trong rất nhiều bộ óc ngây thơ còn rơi rớt lại những quan niệm sơ sài như vậy, thì không, một nhà khoa học nào còn tranh cãi dù về sự dai dẳng hay về tính thích đáng không chỉ của các tư tưởng và phương thức tư tưởng, mà còn về sự nhận thức và phương thức nhận thức phi khoa học. Bản thân khoa học cũng nhận ra rằng nó có giới hạn; khoa học đang thống kê các đường biên giới. Một số đã được vạch ra và được mô tả trong các cuốn sách triết học, chúng tôi sẽ tổng kết trong mục A. Những biên giới khác mới chỉ là linh cảm thấy, chúng tôi sẽ tập trung chú ý trong mục B, vào một vài cái mà chúng tôi thấy là có tầm quan trọng đặc biệt cho các hệ chúng ta.

  1. Những giới hạn kinh điển

Trong ba động tác kinh điển của sự vận động khoa học2) thì động tác thứ nhất và động tác thứ ba bao gồm những câu hỏi mà tư tưởng đặt ra cho thực tại và những câu trả lời mà tư tưởng thu nhận được. Chính những thí nghiệm ấy, những quan sát ấy và những thực nghiệm ấy mới đặc trưng cho lý luận khoa học.

Bất kỳ hoạt động trí tuệ nào, thậm chí tôi còn cho rằng nhất là hoạt động giải thích hoặc tổng hợp mà không có sự chuẩn y đó của thí nghiệm và chí ít cũng là của quan sát, đều là hoạt động phi khoa học. Chỉ có khoa học khi co gắn bó chặt chẽ giữa tư tưởng và thực tại inviolable correspondence between the Hand and the Brain (sự tương ứng bất khả vi phạm giữa Bàn tay và Khối óc), sự gắn bó được áp đặt và kiểm nghiệm bởi một sự đối chiếu thường xuyên giữa giả thuyết và các biên bản của sự quan sát cụ thể, bởi sự so sánh và sự làm gần đúng không ngừng chính xác hơn của chi tiết trong mỗi thông báo của giả thuyết với chi tiết của mỗi kết quả thí nghiệm.

Kết quả là lĩnh vực của khoa học chính là lĩnh vực của quan sát. Bất kỳ hoạt động trí não không thể đối chiếu được với thực tại vì không có những sự vận động cần thiết cho sự đối chiều mà chúng ta gọi là quan sát và thực nghiệm đều tuột khỏi lý luận khoa học. Như vậy, lý luận khoa học không những bao hàm khả năng quan sát mà còn bao hàm cả sự thực hiện các quan sát. Như vậy, có một lĩnh vực của tư tưởng trong đó khoa học còn chưa có lối để xâm nhập: đó là lĩnh vực trong đó sự phê chuẩn của thí nghiệm là khả dĩ, nhưng thực sự lại không có được một thí nghiệm nào. Ngoài ra, còn một lĩnh vực mà thí nghiệm thậm chí là không thể được, vì đối tượng của tư tưởng không phải là một thực tại cảm quan.

Một phần lớn của thực tại cảm quan tuột khỏi lý luận thực nghiệm

Một phần lớn của thực tại tuy quan sát được lại không thể là đối tượng của khoa học, vì lý do đơn giản là trong thực tế nó không phải là đối tượng quan sát. Xét ra thì giới hạn này của khoa học, thoạt đầu thuần tuý có tính tương đối và tính lịch sử, lại tự phân thành hai lĩnh vực chưa được thám sát; lĩnh vực thứ nhất sớm muộn gì rồi sẽ được thám sát, lĩnh vực thứ hai thì chẳng bao giờ thám sát được hoàn toàn. Lĩnh vực thứ nhất thuộc về những sự kiện này chưa được quan sát, nhưng ngày mai sẽ quan sát được; lĩnh vực thứ hai bao gồm mọi sự kiện dẫu quan sát được nhưng lại không và sẽ không bao giờ được quan sát hết.

  1. Chúng ta đã rõ là khoa học cần có thời gian để xây dựng nên nó; nếu ông bà chúng ta có thể rút ngắn hết sức các thời hạn ấy thì chúng ta lại không thể làm được thế nữa. Mặc dù số người làm khoa học không ngừng gia tăng, lĩnh vực những cái chưa được thăm dò vẫn còn rộng mênh mông.

Khoa học rõ ràng là đang phát triển rất nhanh, nhất là khi ta so sánh tốc độ phát triển hiện nay của nó với sự trì trệ hàng thiên niên kỷ. Chắc chắn là trong những năm và những thế kỷ sắp tới, hàng loạt hiện tượng sẽ được chinh phục, sát nhập, thuần phục bởi lý luận thực nghiệm. Nhưng trong lúc chờ đợi, con người vẫn sống và suy nghĩ; và không những họ có thể suy nghĩ về những cái đang tồn tại, dẫu không được quan sát ấy, một cách chính đáng mà nhiều khi họ phải làm thế, vì họ sống trong một môi trường còn được cấu tạo, và được cấu tạo một cách vượt trội, bởi những thực tại như vậy. Họ phải sống trong lòng những thực tại hầu như còn chưa biết. Để sống, họ phải có những quyết định, nhiều khi rất quan trọng đối với họ và với tập thể của họ trong vòng vây của những bóng tối hầu như hoàn toàn. Và họ không những phải quyết định mà họ còn phải hành động.

Ở giai đoạn hành động thì những thực tại sẽ được hiểu biết một cách khoa học hay chẳng bao giờ hiểu biết được. Điều đó không quan trọng; chỉ có điều là hôm nay khoa học của họ đã được hình thành hay chưa mới là điều quan trọng. Nếu nó chưa được hình thành thì con người, vì không thể học được gì ở nó, sẽ bị dồn đến những giải pháp muôn thuở của trực giác, của sự đánh cuộc, của thiên kiến, của sự suy ngẫm duy lý trí hoặc không.

Tóm lại là, của một quyết định phi khoa học.

Quang cảnh cuộc sống nghề nghiệp cho thấy rằng tình trạng đó là tình trạng bình thường của con người. Chỉ riêng có nhà thông thái trong phòng thí nghiệm của mình hoặc nhà triết học trừu tượng trong bộ óc của mình là không ngừng lý luận theo thí nghiệm hoặc để làm thí nghiệm theo sự hiểu biết đã thu thập được và nhằm vào kiến thức cần thu thập (vì vậy nhiều khi họ có những tâm tính trẻ thơ đối với tính tất định và đối với quyền lực của khoa học). Nhưng con người của hành động lại hành động theo những nhu cầu sinh tồn và nhằm thỏa mãn những nhu cầu này. Người chủ xí nghiệp trong hoạt động kinh doanh, người kỹ sư trong công xưởng, ông thày thuốc trong bệnh viện, người viên chức đang chuẩn bị một bản quy định, ông bộ trưởng sắp sửa ký văn bản đó, vị đứng đầu chính phủ đang thương lượng hoặc cắt đứt những thủ tục quốc tế, tất cả những người đó hành động và quyết định hầu như không bao giờ dựa vào khoa học thực nghiệm. Theo một cuộc điều tra của bà Catherine Peugeot thì ngay cả những người có một cuộc sống trí tuệ mạnh mẽ và đã xây dựng sự nghiệp của mình trên một quá trình học tập lâu dài và giỏi giang ở nhà trường, trong các hoạt động nghề nghiệp, cũng ít có dịp tham khảo kiến thức khoa học và mất rất nhanh thói quen thu thập kiến thức ấy. Mục đích của cuốn sách này là nhắc nhở họ trở lại với suy nghĩ khoa học; nhưng để đạt được điều đó' cần nhận thức rõ các vấn đề đặt ra: những trường hợp mà khoa học đã hình thành có thể đem lại cho con người hành động những yếu tố để quyết định đều là những trường hợp hiếm hoi và những trường hợp mà khoa học mang lại một giải pháp chắc chắn và hoàn toàn xác định lại còn hiếm hơn nữa.

Về mặt này, tôi có thể nói rằng đã xảy ra một hiện tượng sàng lọc, lắng gạn; những quyết định nào đã vào được trong lĩnh vực của khoa họe đều giải quyết các vấn đề một cách khiến cho ngay cả vấn đề cũng biến mất hoặc trở thành tầm cỡ của những nhiệm vụ thứ yếu. Những bệnh lao thông thường, những chứng xung huyết thường xuyên, trước đây là công việc thường ngày của người thầy thuốc khi mà khoa học chưa biết cách phòng chống và chữa trị chúng, thì nay đã nhường chỗ cho các bệnh ung thư, chứng nhồi máu và nhiều chứng bệnh khác còn chưa hiểu biết rõ. Chẳng còn phải người chủ xí nghiệp thậm chí người kỹ sư mà người quản đốc (hay đốc công) mới là người chăm lo thực hiện những điều tất định đơn giản. Người phụ trách bao giờ cũng làm việc ở giới hạn và quá giới hạn của tri thức khoa học.

2. Như vậy, sự việc một hiện tượng ở ngoài lĩnh vực của khoa học thực nghiệm là không đủ để nó phải ở ngoài các mối bận tâm của nhân loại. Thậm chí người ta có thể nói: trái lại, vì sụ xác thực khoa học ấn định hành động hiệu quả nhất nên nó thủ tiêu hoặc làm giảm mối bận tâm. Mối bận tâm này bắt nguồn từ các nhu cầu sống còn và thật không may, các nhu cầu ấy lại không phụ thuộc các kiến thức rõ ràng về thực tại mà ta có thể có: chúng ta đã không đợi phải đói mới biết tại sao phải nuôi sống mọi người và phải nuôi thế nào. Như đã nói ở trên, không có mối liên hệ giữa các nhu cầu của nhân loại và trật tự trong đó các khoa học đã được khai sinh, đang và sẽ khai sinh. Tư tưởng và sự quyết định phi khoa học phải lấp những chỗ trống, "lấp lỗ thủng" của tư tưởng và của sự hiểu biết khoa học.

3. Ít nhất người ta cũng có thể chắc chắn rằng việc thám sát hiện thực bởi khoa học sẽ lan rộng; lĩnh vực phi khoa học do đó sẽ giảm, ít nhất là về giá trị tuyệt đối. Tuy nhiên, ngày hôm nay, khó có thể cho rằng lý luận thực nghiệm sẽ mở rộng cho toàn bộ thực tại.

Nhưng đó là ở đây, đương nhiên, chúng ta đang nói về thực tại cảm quan, tức là thực tại có thể quan sát được.

Cho tới đây, chúng ta chưa chú ý tới sự kiện là khoa học còn trẻ, đã bắt đầu muộn mằn trong nhân loại, chỉ ít lâu trước khi chúng ta ra đời. Do đó, rõ ràng là có hàng loạt sự kiện quan sát được đã không được quan sát vì không có thời gian, nhưng sẽ được quan sát trong những thế kỷ sắp tới. Nhưng chúng ta sẽ sai lầm nếu nghĩ rằng toàn bộ các thực tại cảm quan đang chờ đợi để con người quan sát chúng. Rất nhiều thực tại đã tồn tại trong các thời kỳ địa chất, trong thời tiền sử và lịch sử, nay không còn nữa, và do đó không thể quan sát được nữa. Chắc chắn một số đã để lại vết tích nhưng đúng là chúng ta chỉ quan sát được các vết tích ấy. (Từ đó đã hình thành một hoạt động trí tuệ mà chúng ta gọi là môn lịch sử, bao gồm cái mà lẽ ra tôi có thể gọi là khoa học về các vết tích, mà dưới đây chúng ta sẽ còn nói đến).

Cũng vậy, hàng loạt thực tại hiện nay đang tồn tại sẽ không tồn tại nữa khi con người có ý định quan sát chúng.

Hiển nhiên là chính trong các khoa học về sự sống, các hiện tượng mới mỏng manh như vậy: hệ động vật và thảm thực vật ngày nay không những phải chịu đựng tác dụng suy tàn liên tục theo các thiên niên kỷ, mà còn phải chịu đựng sự tàn phá gây ra bởi kỹ thuật hùng mạnh của con người và bởi sự bành trướng của con người trên toàn bộ hành tinh. Các môi trường tự nhiên biến mất dần và chẳng bao lâu nữa con người chỉ còn biết được một thiên nhiên được bảo dưỡng.

Nhưng để hiểu được tầm rộng lớn của vấn đề này, phải vượt ra ngoài các xem xét tổng quát và đi vào cuộc sống hằng ngày. Điều làm cho một người trung bình quan tâm trước hết là các biến cố của cuộc sống thường nhật. Vậy mà phần lớn các biến cố ấy cho dù có thể quan sát được, nếu hôm nay chúng không được quan sát (ý tôi muốn nói, đúng vào lúc chúng xảy ra), thì sẽ không bao giờ quan sát được. Phần lớn chỉ xảy ra một lần độc nhất; ký ức về chúng bị xóa bỏ đống thời với sự tồn tại của chúng.

Nhưng liệu các sự kiện của tương lai sẽ có thể được quan sát hay không ? Một số thì chắc hẳn là có; nhưng tất cả: không.

Sự quan sát khoa học không phải là một sự chứng kiến tầm thường. Chúng ta đã nói rồi, nó đòi hỏi một kỹ thuật: quan sát là chĩa vào cùng một sự kiện tất cả mọi phương tiện tìm tòi nghiên cứu, theo những quy tắc càng ngày càng khắt khe mà khoa học xây dựng nên để loại trừ sai lầm, ảo tưởng, vẻ bề ngoài; để thống kê hết sức đầy đủ các nhân tố kèm theo, để giảm thiểu sự phỏng chừng. Sự quan sát này đòi hỏi nhiều công trình, nhiều dụng cụ, phương tiện, một tổ chức, các quyết định. Sự quan sát này chịu nhiều phí tổn.

Phần lớn những biến cố nghiêm trọng khiến con người quan tâm trong hoạt động nghề nghiệp và trong đời sống riêng tư của mình đều xảy ra một cách bất ngờ: rắc rối, tai nạn, lầm lẫn, quên lãng, tức giận, cãi cọ. Con người đã không có phương tiện, lại không có ý muốn quan sát chúng. Ít người không khó chịu khi thấy cuộc sống tình cảm, cuộc sống vợ chồng của mình bị các chuyên gia điều tra thường xuyên, liên tục. Những tin tức mà ta đọc trong các báo chí, bài tường thuật các cuộc xung đột vũ trang, những thảm họa của con người hoặc của thiên nhiên, những cuộc hội hè, đều là chuyện kể của các nhà báo là những thông tin, chỉ xứng đáng là chứng cứ một cách hiếm hoi, mà không bao giờ xứng danh là một quan sát.

Chắc chắn là có khi mọi phương tiện của sự quan sát khoa học đều thực sự chĩa vào một số biến cố ấy, chẳng hạn như sự xuất phát của một tên lửa phóng lên Mặt Trăng. Nhưng dù cho về nguyên tắc có thể làm điều đó cho toàn bộ thực tại cảm quan, thì rõ ràng là điều đó cũng không thể thực hiện được với mọi biến cố dù quan trọng của đời sống hằng ngày.

Đến giới hạn thì toàn bộ dân chúng trên thế giới sẽ tham gia quan sát; chí ít cũng là một nửa số chúng ta sẽ quan sát nửa kia.

Phải nói thêm rằng, do một hiện tượng tương tự với hiện tượng mà Dirac đã nhận thấy trong vật lý vi mô, sự quan sát các hiện tượng về con người và các sinh vật lại làm nhiễu loạn nghiêm trọng sự diễn biến của biến cố. Nếu có một cuộc nổi dậy thì truyền hình về cuộc nổi dậy chỉ có thể là lúc có lúc không; và nếu truyền hình không phải là lúc có lúc không nữa, thì tức là không có nổi dậy. Thành thử quan sát khoa học đòi hỏi những điều kiện hiếm có, những sự sắp đặt tinh tế, làm cho việc thực hiện thành đặc biệt.

Huống chi là nếu ta lại bận tâm (mà có người nào không bận tâm) tới hàng nghìn vấn đề cụ thể của cuộc sống nghề nghiệp và gia đình. Tôi thấy khó có thể, mặc dù điều đó có thể hình dung được, rằng mỗi người chúng ta lại có thể quan sát, ghi chép và mô tả tỉ mỉ và chính xác những biến cố mà ta đã dựa vào để lựa chọn một vị hôn thê, để chữa trị một căn bệnh, để hướng dẫn học tập và hướng nghiệp cho một đứa con, để thu xếp một cuộc gặp gỡ, giờ giấc bữa ăn, lịch nghỉ hè, ngân sách các nguồn thu nhập...

Những tri thức hoặc lý luận thực nghiệm xác định những quyết định và những hành động cụ thể của mọi người chỉ là rất hiếm hoi.

4. Điều kỳ lạ là nhận thấy rằng các quá trình phi khoa họe trong nghiên cứu, suy ngẫm và tìm hiểu lại đan xen một cách tất yếu vào sự thu thập vào truyền đạt bản thân các tri thức khoa học.

Thật thế, mỗi chúng ta không thể bằng các quan sát của chính mình hoặc bằng các thực nghiệm của chính mình mà thu thập ngay cả những kết quả của khoa học đã hình thành. Chúng ta không có cả thì giờ lẫn phương tiện vật chất để làm lại tất cả những thí nghiệm cần thiết để tự mình thu thập được niềm tin khoa học. Và như ta đã thấy, điều đó lại càng rõ, vì sự tin chắc thực nghiệm chỉ thu thập được sau những kỳ hạn nào đó, sau khi nhiều người quan sát và thực nghiệm khác nhau và độc lập với nhau đã sử dụng mọi phương sách của kỹ thuật của họ, sau những cuộc đối đầu và tranh luận kéo dài.

Rút cuộc là sự suy ngẫm về những thành quả của khoa học thậm chí đã hoàn thành, và ngay cả sự tán thành (sự chấp nhận) các kết quả của khoa học đã hình thành, lại giống nhiều hơn là ta tưởng với các kiểu suy nghĩ phi khoa học. Chính vì thế mà thí dụ như lập luận duy lý lại có một tác dụng rất lớn trong đó. Nhưng sự tin cậy vào một tổ chức do luật pháp quy định (các viện hàn lâm, trường đại học...), uy tín của những giải thưởng, hoặc của sự biểu lộ của quần chúng, cũng nhất thiết có tác dụng; đến giới hạn, ta thường thấy những sự chấp nhận rất giống với sụ tín ngưỡng và đều có nguồn gốc là sự tin tưởng, tức là lòng tin tự đáy lòng vào một số người hoặc một số nhóm người, và đến giới hạn, là vào toàn xã hội. Chính vì thế mà vào một vài thời kỳ, ta thấy những người mác-xít đã đặt thành vấn để nghi ngờ khoa học "tư sản". Rút cục, niềm tin của một người luôn luôn là một sự chấp nhận của cá nhân: những căn cứ của niềm tin, hãn hữu lắm mới là sự ghi nhận cụ thể những kết quả của nhiều thí nghiệm liên tiếp.

Vì vậy, ngay cả trong khoa học đã hình thành, chúng ta rút cục cũng buộc phải tin vào uy tín, hoặc vào những thẩm quyền mà chúng ta biết là dẫu sao cũng không phải là không lay chuyển được. Và nếu một phần đồ sộ của khoa học đã hình thành thực sự được coi là đã được kiểm tra bằng muôn vàn áp dụng trong các kỹ thuật thông dụng, công nghiệp, nông nghiệp hoặc hành chính, thì các thành tựu mới đây vẫn còn là phỏng đoán.

5. Khi xét tư tưởng của bản thân các nhà bác học thì quá trình phi khoa họe của sự thu thập kiến thức khoa học lại có những tính chất đặc biệt mà ảnh hưởng là to lớn.

Điều khẳng định rằng các nhà khoa học vẫn còn giữ những kiểu vận động phi khoa học của tư tưởng và thậm chí nhiều khi còn không hợp lý nữa, đã được minh chứng một cách dồi dào bởi những sai lầm và sự ngây thơ mà các nhà bác học thường biểu lộ ngoài phạm vi chuyên môn của họ (thí dụ, bằng sự chấp nhận các quan điểm chính trị, xã hội hoặc tôn giáo). Nhưng thậm chí trong lĩnh vực chuyên môn của họ, người ta nhiều khi cũng thấy họ chấp nhận, vì tình bạn, vì trường phái, tuy họ vẫn cho rằng họ đã làm thế theo tinh thần khoa học.

Nhưng vẫn phải nói lại, là khoa học được hình thành, đang hình thành, còn có những cái nhập nhằng mà khoa học đã hình thành dứt khoát gạt bỏ. Nhưng nếu một nhà nghiên cứu mới phát hiện được một sự kiện "mới" và đề nghị sửa đổi lại những tư tưởng đã có để giải thích sự kiện mới ấy thì đầu tiên là tranh cãi về "tính mới mẻ" của sụ kiện, rồi nghi ngờ rằng liệu có cần sửa đổi lại các lý thuyết đã được chấp nhận mới giải thích được nó, việc đó chẳng phải là chính đáng hay sao ? Tất nhiên, quy tắc của lập luận thực nghiệm là làm lại những thí nghiệm mà nhà nghiên cứu đề nghị, và xem xem sự kiện đã công bố có thực sự là thấy có hay không, là phải tự mình kiểm tra xem các thí nghiệm ấy có phải là chưa từng được làm bao giờ, sự kiện có đích thực là mới mẻ hay không, và cuối cùng có phải là nó không thể giải thích được bằng lý thuyết hiện hành hay không.

Nhưng ta thấy ngay rằng mọi chuyện đó là dài dòng, tốn kém, nhiều khi là không có phương tiện vật chất để làm. Nhà bác học thực tế là ở trong cùng một tình cảnh như con người trung bình. Điều khôn ngoan là không quả quyết. Bổn phận khoa học hẳn sẽ là, nếu ông quyết thì ông nhân danh một người bình thường chứ không nhân danh một nhà khoa học. Nhưng trong thực tế sự pha trộn không rõ ràng giữa những điều chắc chắn của thực nghiệm và những điều tin tưởng sâu sắc, có nguồn gốc khác nhau chợt đến trong suy nghĩ của ông về vấn đề, nhiều khi lại thúc đẩy nhà khoa học vượt ra khỏi khoa học của mình mà chấp nhận lập trường của bè bạn khoa học của ông.

6. Như vậy, có những khoảng ở bên lề trong đó sự nhập nhằng của các học thuyết, và nhiều khi cả sụ nhập nhằng trong các cách giải thích điều quan sát, thậm chí điều thực nghiệm, lại kéo theo những quan niệm, cứ tưởng là sự tin chắc.

Vậy lối thoát là ở trong sự thông tin, nó phải dần dần thu thập mọi kết quả thu được về cùng vấn đề ấy.

Trong muôn vàn cuộc thăm dò mới, người ta đã nói rằng sự thu thập tài liệu đã trở thành một trong những chỗ thắt cổ chai rõ rệt nhất của cuộc nghiên cứu. Tất nhiên, đó chỉ là một giới hạn tương đối của khoa học hiện nay, giống như các ngân sách và sự hiếm hoi về những nhà nghiên cứu có giá trị. Chắc chắn là nó chỉ làm cho thành tựu khoa học bị chậm lại; nhưng điều cũng không kém chắc chắn là nó đưa vào ngay cả trong lòng sự vận động khoa học những yếu tố phi khoa học khó khắc phục.

Một cách tổng quát hơn, các kỹ thuật quan sát và thu thập tài liệu đều là những trợ thủ cần thiết của sự lập luận thực nghiệm. Theo một nghĩa nào đó, ta có thể nói rằng chúng là những kỹ thuật thực nghiệm, không những vì chúng liên kết với sự vận động thực nghiệm, mà còn vì chúng có sự xác nhận của thục nghiệm (kỹ thuật phải thành công). Tuy nhiên, ở đây, sự xác nhận thường xa với hành động, và hơn nữa, hành động lại phần nhiều là ngẫu nhiên, tức là là khác nhau, tùy từng trường hợp. Thành thử người ta thường ở xa các đều đặn, các tất định, hoặc các bất thường hợp lý mà khoa học ưa thích. Vì vậy người ta có quyền nói đến sự tài tình, sự khôn khéo của trực giác, của người quan sát và của nhà thực nghiệm. Và điều này không chỉ có trong các khoa học vật lý, mà cả trong các khoa học nhân văn. Cũng vì thế mà hiếm có những người có đủ cả năng khiếu quan sát lẫn năng khiếu nêu giả thuyết.

Như vậy, ngay cả nhà bác học, trừ phi tự hạn chế trong lý thuyết (có thể có nội dung rất chính đáng là xét các quan sát do những người khác thực hiện chứ không tự mình quan sát), trong nghề nghiệp của mình, cũng ở trong những điều kiện không quá khác với những điều kiện thông thường của cuộc sống như ta vẫn tưởng. Như mọi người khác, chính ông cũng thường phải suy nghĩ và quyết định mà không dựa vào hoặc dựa không đầy đủ vào lập luận thực nghiệm, ngay cả khi đụng đến những vấn đề cụ thể.

Như vậy, ở biên giới của lĩnh vực khoa học, còn tồn tại nhiều vùng nhập nhằng rộng lớn. ở đó phương pháp thực nghiệm chỉ sử dụng được một phần và một cách lẻ tẻ; ở đó nó không đủ đảm bảo đưa ra giải pháp tốt nhất mà thậm chí còn không bảo đảm cả lập luận. Do đó nó phải hoặc liên minh với các phương pháp tư tưởng truyền thống, hoặc thậm chí do không có chỗ bấu víu, phải nhường quyền ưu tiên cho chúng dẫu chúng kém cỏi và không chắc chắn đến mức nào.

Những sự kiện này giúp ta hiểu rằng môi trường quen thuộc của trí não con người không phải là môi trường của tinh thần khoa học thực nghiệm. Nhưng tính chất phi thực nghiệm của môi trường tự nhiên này thể hiện càng rõ hơn nữa nếu ta chú ý rằng một phần lớn trong hoạt động trí tuệ của con người lại được áp dụng cho các thực thể phi cảm tính.

Trang:  1/3  1   2   3   »
Số lượt đọc:  3259  -  Cập nhật lần cuối:  12/12/2005 07:22:22 PM
Bài mới:  
Khoa học và huyền môn
14/10/2009 03:46' PM
Bài khác:
Làm khoa học
29/11/2005
Liên kết web
Trang chủGiới thiệuLiên hệ