Thông tin liên quan: Sửa chữa lỗi sai và phát triển Hệ thống16/07/2009 09:43' AM Thế giới chứa đựng các Quy luật, Cuộc sống luôn vận động, trong đó diễn ra sự liên tục thay đổi. Bởi vậy, chúng ta luôn có vận hội. Vấn đề là đặt được ra rõ ràng, đúng đắn, dũng cảm và đầy hào hứng đối với bài toán phát triển của chính mình... Khoa học, Lý trí và Nhân tình thế thái10/05/2009 04:45' PM Tự nhiên được chi phối bởi các qui luật phổ biến mà trí tuệ loài ngưới có thể lĩnh hội được. Niềm tin vào tính hợp lý của Thế giới, đã vượt cả ra ngoài lĩnh vực Vật lý và xâm nhập vào mọi địa hạt hoạt động của con người trong suốt nhiều Thế kỷ, bởi tin rằng, đó chính là hiện thực, là vĩnh cửu... Phạm trù “hệ thống” trong lịch sử triết học24/11/2006 05:37' PM Khái niệm "hệ thống” đã được các nhà triết học trong lịch sử quan tâm xem xét, song chỉ đến khi triết học Mác ra đời mới mang lại cho nó một quan niệm thật sự khoa học. Đặc biệt, hiện nay "hệ thống” được coi như một phạm trù triết học có nội dung phong phú, mang ý nghĩa phương pháp luận trong nhận thức và hoạt động thực tiễn... Vai trò của phương pháp hệ thống trong tổ chức và quản lý xã hội24/10/2006 06:06' PM Trong giai đoạn hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, kỹ thuật và thực tiễn xã hội, cùng với xu hướng toàn cầu hoá các quan hệ quốc tế thì việc tổ chức và quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp. Hơn nữa, bản thân phương thức tổ chức và quản lý cũng phải mang tính hệ thống. Trước nhu cầu ấy, phương pháp hệ thống có một tầm quan trọng đặc biệt... Nghiên cứu phức hợp về con người05/07/2006 09:26' PM Hình tượng con người bị vỡ ra hàng nghìn mảnh, cần phải được tập hợp sắp xếp lại (M. Scheler). Tiếp cận phức hợp về con người không phải là phương thức nghiên cứu hoàn toàn mới. Người ta biết tới lối nhận thức này ngay từ thời cổ đại... Về mối quan hệ giữa cái toàn thể và cái bộ phận trong triết học Hêgen04/01/2006 10:24' PM Vấn đề mối quan hệ giữa cái toàn thể và cái bộ phận đã được nhiều nhà triết học trước Mác xem xét, đặc biệt nó được nghiên cứu khá chi tiết trong triết học Hêgen... Tư duy hệ thống: Quản lý hỗn độn và phức hợp27/09/2005 10:42' AM Cái mới trong khoa học quản lý là quản lý tình thế hỗn độn và phức hợp, trên cơ sở quán triệt tư duy hệ thống. Nhà khoa học quản lý Jamshid Gharajedaghi cung cấp cho các nhà tổ chức và quản lý, cho giới kinh doanh và đông đảo độc giả những kiến thức cần thiết về tư duy hệ thống, bao gồm triết học hệ thống, các lý thuyết hệ thống và phương pháp luận hệ thống, đồng thời trình bày những ứng dụng cụ thể các lý thuyết nói trên vào việc nghiên cứu và thiết kế một số dự án ở các công ty và các cơ quan chính phủ nhiêu nước, mà bản thân tác giả đã tham gia và có vai trò tư vấn chủ chốt... |
Lý thuyết chung của các hệ thống là thuật ngữ được L. Fon Bertalarffy đưa vào vốn từ vựng khoa học dùng để mô tả lý thuyết các hệ thống mở và các trạng thái cân bằng động đề xuất năm 1933 tại trường đại học tổng hợp Chicago. Từ lĩnh vực sinh học các nguyên tắc của lý thuyết này được chuyển sang việc giải quyết những vấn đề kỹ thuật và quản lý.
Sự xuất hiện của "Lý thuyết chung của các hệ thống", một lý thuyết thuộc dạng những quan điểm khoa học chung mang tính hình thức và phổ quát, đã thúc đẩy mong muốn của công đồng khoa học muốn tiến tới phổ quát hoá các công cụ nhận thức khoa học và tiến tới sự nhận được đặc trưng mang tính luận điểm của toàn bộ các phổ quát. Một trong những nhiệm vụ chính của tiếp cận này là làm rõ và phân tích các quy luật, các quan hệ qua lại chung đối với các lĩnh vực khác nhau của hiện thực. Do vậy cách tiếp cận hệ thống đã được sử dụng trong lý thuyết đã nêu mang tính chất liên ngành, bởi vì nó tạo ra cơ hội đem những quy luật và những khái niệm từ một lĩnh vực nhận thức sang một lĩnh vực khác.
Trong chương trình xây dựng lý luận của mình ông đã chỉ ra những nhiệm vụ cơ bản của nó:
- Thứ nhất, làm sáng tỏ những nguyên tắc và quy luật chung hành vi của các hệ thống, không phụ thuộc vào bản chất của các thành tố và của các quan hệ giữa chúng; - Thứ hai, xác lập những quy luật tương tự của khoa học tự nhiên nhờ tiếp cận hệ thống đối với các khách thể sinh học, xã hội. - Thứ ba, tạo ra sự hợp thức khoa học hiện đại trên cơ sở làm rõ tính tương đồng của các quy luật trong các lĩnh vực hoạt động khác nhau.
Các nhiệm vụ này dẫn đến sự thay đổi nội dung trên cơ sở những quan niệm hệ thống (chỉnh thể), chức năng, cấu trúc. Chính điều này đã tạo ra những tiền đề phương pháp luận để hình thành hệ thống khái niệm mới với nội dung xác định và với quan hệ đã cho một cách rõ ràng với những chuyển đổi giữa chúng. Tổ hợp các khái niệm hệ thống là bộ khung khái niệm khởi điểm, tạo ra sơ đồ nguyên nguyên tắc của sự phân chia khách thể.
Hệ thống - khái niệm trung tâm biểu thị một tập hợp các phần tử trong sự tương tác qua lại thể hiện tính chỉnh thể và tính chung của mình.
Phần tử - đơn vị không thể chia nhỏ được nữa trong một phương thức phân chia đã cho, và nằm trong thành phần của hệ thống, việc có những mối liên hệ giữa các phần tử sẽ dẫn đến sự xuất hiện trong hệ thống chỉnh thể những tính chất mới mà không có ở phần tử trong trạng thái riêng biệt. Vi điều này,
Chỉnh thể - hình thức của tồn tại hệ thống với tư cách được xác định chặt chẽ, phản ánh sự độc lập của nó với các hệ thống khác.
Tính chỉnh thể là tính thống nhất của hệ thống như một chỉnh thể được các phần tử thể hiện trong sự tương tác qua lại thực tế của chúng. Nó là cơ sở ổn định của hệ thống.
Quan điểm toàn thể: là quan điểm nghiên cứu của lý thuyết hệ thống
1. Khi nghiên cứu các sự vật và hiện tượng phải tôn trọng mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và tinh thần: vật chất có trước tinh thần, tinh thần tác động trở lại vật chất
2. Các sự vật, hiện tượng luôn tồn tại trong mối liên hệ qua lại với nhau, luôn có sự tác động qua lại và chi phối lẫn nhau. Sự tác động giữa các sự vật bao giờ cũng mang tính đối ngẫu, tính nhân quả.
3. Các sự vật luôn vận động, không ngừng biến đổi cũng như môi trường xung quanh nó.
4. Động lực chủ yếu quyết định sự phát triển của các hệ thống nằm bên trong hệ thống, do phần điều khiển của sự vật quyết định.
Lý thuyết hệ thống [trích từ từ điển]:
Nhiên cứu đa ngành những Tổ chức (ORGANIZATION) trừu tượng từ các hiện tượng, theo quan điểm độc lập, kiểu, không gian hoặc thời gian của sự tồn tại. Nó nghiên cứu nguyên lý chung tới tất cả các thực thể phức tạp, và những mô hình –MODELs (thường là toán học) mà có thể sử dụng để mô tả chúng.
Lý thuyết hệ thống được đề xướng năm 1940 bởi nhà sinh vật học Ludwig von Bertalanffy (tên gọi: Lý thuyết những hệ thống Chung – General Systems Theory, 1968), và bắt nguồn từ Ross Ashby ( Giới thiệu tới Điều khiển học, 1956).
von Bertlanffy là phản ứng lại chống lại chủ nghĩa đơn giản hoá (REDUCTIONISM) lẫn đóng gói đối tượng của khoa học (UNITY OF SCIENCE). Anh ta nhấn mạnh những hệ thống thực tế là mở và có tương tác lẫn nhau và với môi trương, và chúng có thể có thêm những thuộc tính định tính mới thông qua biểu hiện mới (EMERGENCE), kết quả sự Tiến hóa liên tục (EVOLUTION). Hơn là chia nhỏ một thực thể ( như là cơ thể con người) tới những thuộc tính, những phần hoặc những phần tử của nó (như là các các bộ phận hay tế bào), lý thuyết hệ thống tập trung về sự sắp đặt và những quan hệ (RELATIONs) giữa những phần kết nối chúng trong một tổng thể (HOLISM). Tổ chức (ORGANIZATION) đặc biệt này xác định như một hệ thống (SYSTEM), gồm những phần tử độc lập cụ thể (như các tế bào, các phần, các tranzito, người...). Như vậy, những khái niệm và nguyên lý của tổ chức nằm dưới những ngành khoa học khác nhau (vật lý, sinh vật, công nghệ, xã hội học...), cung cấp một cơ sở cho sự thống nhất chúng. Những khái niệm hệ thống bao gồm: môi trường hệ thống bao quanh (system-environment BOUNDARY), đầu vào (INPUT), đầu ra (OUTPUT), quá trình (PROCESS), trạng thái (STATE), sự phân cấp (HIERARCHY), hướng mục đích (GOAL-DIRECTEDNESS) và thông tin (INFORMATION).
Sự phát triển của lý thuyết hệ thống là đa dạng ( Klir, Những khía cạnh của Khoa học hệ thống, 1991), bao gồm nhận thức những nền tảng và triết học (những triết học của Bunge, Bahm và Laszlo); Lý thuyết toán mô hình hoá và lý thuyết Thông tin INFORMATION THEORY (công việc của Mesarovic và Klir); và những ứng dụng thực tiễn. Lý thuyết những hệ thống toán học xuất hiện sự phát triển cô lập/độc lập (isomorphies) giữa những mô hình những mạch điện và những hệ thống khác. Áp dụng bao gồm kỹ nghệ, điện toán, sinh thái học, quản lý, và tâm lý trị liệu gia đình. Sự phân tích những hệ thống, phát triển độc lập lý thuyết hệ thống, áp dụng những nguyên lý hệ thống để trợ giúp ra quyết định - với những vấn đề xác định, tái xây dựng, tối ưu hóa và điều khiển hệ thống (thường là một tổ chức XH về kỹ thuật), trong khi hướng đến nhiều mục tiêu, ràng buộc và tài nguyên. Mục đích của nó chỉ rõ những hướng hoạt động có thể, tính đến độ rủi ro, giá thành và lợi ích thu được.
Lý thuyết hệ thống gắn chặt với Điều khiển học (CYBERNETICS) và cũng như Động học hệ thống (SYSTEM DYNAMICS), mô hình thay đổi trong Mạng (NETWORK) ghép lẫn nhau của những biến (như “thế giới thay đổi" mô hình của Jay Forrester và Câu lạc bộ Rome). Những ý tưởng liên quan được sử dụng bên trong ra đời những khoa học của sự Phức tạp (COMPLEXITY), nghiên cứu sự tổ chức (SELF-ORGANIZATION) và những mạng hỗn tạp các đối tượng tương tác, và những lĩnh vực khác nhau như FAR-FROM-EQUILIBRIUM THERMODYNAMICS, CHAOTIC DYNAMICS (động học hỗn loạn), ARTIFICIAL LIFE (cuộc sống nhân tạo), ARTIFICIAL INTELLIGENCE (trí tuệ nhân tạo), NEURAL NETWORKS (mạng nơron), and computer MODELING AND SIMULATION (mô hình hoá và mô phỏng bằng máy tính). Số lượt đọc:
8320
-
Cập nhật lần cuối:
14/10/2008 11:41:28 PM
Ý kiến của bạn về bài viết:Dự đoán về giải Fields năm 201029/07/2010 04:59' PM Rất khó dự đoán về các chủ nhân tương lai của giải Fields, vì trên mạng và trên báo không có nhiều thông tin về giới toán học, các chuyên gia toán cũng ít viết về giải này. Trong khi đó, giới toán học nói riêng và người Việt Nam nói chung đặc biệt quan tâm tới giải Fields 2010, bởi lẽ năm nay chúng ta hy vọng có một người Việt đoạt giải – đó là nhà toán học Ngô Bảo Châu - người có công trình được tạp chí Time tôn vinh là một trong 10 khám phá khoa học quan trọng nhất của năm qua. Cuộc chiến của các cỗ máy28/07/2010 10:47' AM Người anh hùng Ulysses, trong sử thi của Homer, ra trận, trải lưu lạc 10 năm mới trở về quê hương. Câu chuyện về người lính chiến đấu cho tới những năm gần đây không khác gì so với 5000 năm trước: rời xa quê hương, lao vào hiểm nguy mà không hẹn ngày trở lại. Tuy nhiên, với những thành tựu trong chế tạo robot chiến đấu, khái niệm của loài người về chiến tranh sẽ thay đổi sâu sắc. Những người “lính máy” sẽ thay thế những người lính bằng xương bằng thịt trong các trận chiến. Chỉ còn là vấn đề thời gian… Cái đẹp trong khoa học27/07/2010 11:22' AM Cái đẹp là gì? Chúng ta chưa có một ý niệm nào về cách thức mà bộ não của chúng ta nhận biết cái đẹp của tạo hóa. Chẳng những thế, chúng ta còn ít có khả năng hơn khi nói đến cái đẹp bằng từ ngữ thật chính xác. Thước đo năng lực nhà khoa học10/07/2010 05:17' PM Việc đánh giá năng lực của một nhà khoa học là việc hết sức cần thiết trong xây dựng và phát triển khoa học và giáo dục đại học. Nhưng đó là một việc làm khó khăn. Cái khó khăn lớn nhất là do năng lực của một cá nhân lúc nào cũng là một đặc tính đa chiều và có nhiều tiêu chí. Chẳng hạn như một nhà khoa học, ngoài “sản phẩm” chính là sáng tạo tri thức mới, còn có những khía cạnh khác như đào tạo nghiên cứu sinh, phục vụ cho chuyên ngành, hay phục vụ cộng đồng. Vì vậy cho đến nay, cộng đồng khoa học vẫn chưa nhất trí một công thức khách quan nhất để tổng hợp các tiêu chí này. 20 ý tưởng công nghệ giúp thế giới tốt đẹp hơn05/07/2010 01:40' PM Điều gì có thể xảy ra khi các tấm pin điện mặt trời được cho không? Và điều gì nữa sẽ xảy ra khi bạn có thể biết được tất cả mọi thứ trên thế giới theo thời gian thực-không phải là Internet nhé, mà biết bằng cách cảm nhận được, theo cách của vật lý? Và điều gì sẽ xảy ra khi các tiến sĩ y học/khoa học có thể dự báo được một đại dịch trước khi nó thực sự diễn ra? Đây là những điều hứa hẹn cho một thế giới đang đổi thay trong tương lai. Hợp tác trong khoa học27/06/2010 11:02' AM Bài viết này trình bày quan điểm của tôi về vai trò và vị trí của xu hướng hợp tác trong nghiên cứu khoa học, nhìn từ góc độ một nhà kinh tế học. Qua đó rút ra một số chính sách cần có để thúc đẩy hợp tác nghiên cứu khoa học ở các nước thu nhập thấp, nằm ở ngoại vi của trung tâm khoa học trên thế giới. Hành trình đi tìm những lời tự giải22/06/2010 03:23' PM Ông là người luôn cẩn trọng với nhiều thứ, kể cả với sự hiểu biết của chính mình. Với tầm nhìn rộng, những bài báo của ông đóng góp không nhỏ vào việc tìm hiểu tinh thần khoa học đích thực, kể cả việc phân tích nội tại của khoa học từ những tìm tòi và chiêm nghiệm bản thân. Đặc biệt, trên trang Khoa học – giáo dục báo Sài Gòn Tiếp Thị gần đây, những bài viết ký tên ông đều đặn xuất hiện để giúp đại bộ phận công chúng hiểu rõ hơn về những kiến thức tưởng như “chuyện trên trời”. Khoa học và Mô Thức Luận của Thomas Kuhn21/06/2010 08:22' AM Cuốn “Cấu trúc các cuộc cách mạng khoa học” của Thomas Kuhn năm 1962, một trong những tác phẩm khoa học được trích dẫn nhiều nhất của thế kỷ 20, đã đặt dấu chấm hết cho quan điểm thực chứng logic-nền tảng của khoa học hiện đại (chủ yếu của phương Tây). |