Đại học đi về đâu?

Cao Huy ThuầnGiáo sư emeritus Đại Học Picardie (Pháp) - Tạp chí Thời đại mới
09:24' SA - Thứ sáu, 19/03/2010

Năm ngoái, tôi đã có dịp trình bày về đề tài "Đại học là hàng hóa hay công ích".[1] Tôi đã nói nhiều về chủ nghĩa tân tự do, nguồn cội của những biến chuyển hiện nay trong đại học trên thế giới. Ở đây, tôi sẽ không trở lại với lý thuyết nữa, tôi chỉ triển khai những biến chuyển đó trong cụ thể. Đại học bất cứ ở đâu đều chịu ảnh hưởng của những biến chuyển ấy và dù muốn dù không đều sẽ bị lôi cuốn theo chiều hướng ấy. Đại học Việt Nam e cũng sẽ thế mà thôi. Tuy nhiên, đại học, văn hóa của một nước, không dễ gì để đánh mất bản sắc quốc gia của mình. Văn hóa Việt Nam, nếu nói theo Khổng thì là trung dung, nếu nói theo Phật thì là trung đạo. Tôi hy vọng tinh thần đó sẽ hướng chúng ta trả lời câu hỏi chung đặt ra cho mọi đại học: đại học là gì ? Từ câu trả lời đó, ta sẽ biết đi về đâu vào thế kỷ mới.

Với sức hiểu biết hạn hẹp của tôi, tôi chỉ có thể trình bày những biến chuyển trong đại học Mỹ và Âu châu. Đại học Mỹ, vì đó là mẫu mực của thời đại tân tự do, khuynh hướng của thế kỷ mới. Đại học Âu châu, vì ở đây, cây đang ngã theo gió nhưng lại gắng gượng không để quỵ. Tình trạng chưa cong nhưng không còn thẳng ấy đưa đến khủng hoảng chưa bao giờ thấy trong đại học Pháp từ đầu năm nay. Dù ở Mỹ hay ở Pháp, tôi lại hạn chế vấn đề vào những tranh luận diễn ra trong lòng các đại học đó. Qua các tranh luận ấy, hy vọng ta sẽ tìm được vài ý cho câu trả lời của chính ta.

I. Tri thức và tiền: đại học Mỹ

Từ lâu, kinh tế tư bản đã đưa thị trường vào đại học Mỹ với cốt lõi của nó là cạnh tranh. Trên lý thuyết, muốn cạnh tranh phải quản lý tốt, quản lý tốt đưa đến hiệu quả. Cạnh tranh, hiệu quả: châm ngôn đó của đại học Mỹ bây giờ đã trở thành kinh nhật tụng của mọi đại học trên thế giới. Dù đàng sau hậu trường của châm ngôn ấy là chủ thuyết tân tự do mà không phải ai cũng chấp nhận, khắp nơi trăm miệng một lời song song: phải cải thiện hiệu quả của đại học và nghiên cứu để đạt cho bằng được lý tưởng "kinh tế tri thức", "xã hội tri thức".

Từ lâu, đại học Mỹ đã cộng tác với giới kinh doanh, với business. Trong lòng kinh tế tư bản, đây cũng là chuyện hiển nhiên. Hiển nhiên như đại học có liên hệ với Nhà nước, có liên hệ với xã hội công dân, có liên hệ với tôn giáo. Nhưng liên hệ với business là một chuyện mà tự mình làm business lại là chuyện khác, và đây chính là chuyện mới. Từ "đại học" đến "đại học công ty", đại học Mỹ đã bước một bước quá đà, đưa đến những chỉ trích gắt gao, nào "University Inc." (Jennifer Washburn), nào "University in Ruins" (Bill Readings),[2] nhiều tiếng nói không ngần ngại báo động khủng hoảng. Nghiễm nhiên, đại học Mỹ tự xem mình như những tay chơi trong một thị trường thương mãi mà động lực là tri thức. Kinh tế tri thức là business của đại học. Tri thức trong thị trường đó nghiễm nhiên trở thành trục lợi, giá trị tính theo giá trị trao đổi. Kinh tế tri thức đó dựa trên thông tin, thông tin cho phép thực hiện những kết quả đo lường được, như lời lỗ tài chánh, lợi nhuận tạo ra do nghiên cứu, lợi tức thu vào nhờ một tiếng tăm. Hiện tượng công ty hóa đại học diễn ra dưới nhiều hình thức: vai trò quan trọng của những người quản lý, sách lược đầu tư, tiếp thị, kết toán, thu dụng nhân viên giảng huấn bán thời gian để đỡ tốn tiền, bán bằng sáng chế, nghiên cứu trục lợi …

Tiến triển đã diễn ra rất nhanh, từ cuối những năm 1970, nhưng đặc biệt nhanh từ khi đạo luật Bayh-Dole được ban hành, năm 1980, thúc các đại học chuyển đổi cấu trúc để đi đến cái mà ngày nay giới chỉ trích gọi là "chủ nghĩa tư bản đại học". Luật Bayh-Dole nói gì? Dưới sức ép của cạnh tranh với Nhật, và trong mối lo về giảm sút năng lực sản xuất tại Mỹ, Bayh-Dole là câu trả lời cho quan tâm của giới kinh doanh Mỹ và của một số lãnh đạo trong đại học: công nhận cho đại học quyền được bán bằng sáng chế trên những kết quả nghiên cứu do Nhà nước liên bang tài trợ. Trước đó, những sản phẩm nghiên cứu do tiền Nhà nước tài trợ thuộc về tài sản công. Bây giờ đạo luật biến đổi thành quyền tư hữu. Tưởng đại học và business chỉ giao du thân mật thôi: không, bây giờ là đám cưới.

"Kinh tế tri thức" phải hiểu theo cái nghĩa cụ thể ấy: là cái vòi của con ong business đã hút sâu vào nhụy hoa đại học. Ở xa nước Mỹ, có người nói: kinh tế tri thức là một khu vực trung tâm tích lũy mới trong lòng chủ nghĩa tư bản, thay thế cho khu vực công nghệ của thế kỷ 20. Có người lại nói: đây là một giai đoạn mới của chủ nghĩa tư bản, một biến đổi lớn lao mới đưa đến chủ nghĩa tư bản tri thức.[3] Dù hiểu cách này hay cách nọ, thông điệp gởi đến đại học thế giới qua đại học Mỹ là: chủ nghĩa tư bản đang biến đổi sâu sắc mà kết quả là đưa tri thức vào trọng tâm của tích lũy tư bản. Nói cho rõ hơn: biến đổi này đưa đến sự thành hình của một thể thức tích lũy mới mà đối tượng là tri thức, nhưng là tri thức được nâng giá trị một cách trực tiếp và được sản xuất ngoài xí nghiệp. Được nâng giá trị một cách trực tiếp, vì thể thức tích lũy này dựa trên một nhịp độ phát minh không ngừng, cái này đẻ ra cái kia. Được sản xuất không phải chỉ trong xí nghiệp, vì bây giờ đại học được vinh danh là nơi sản xuất tri thức ưu tiên. Hậu quả là gì? Là các xí nghiệp cạnh tranh nhau trên mãnh đất mới đó, tạo nên một sức đẩy chưa từng thấy để nới rộng đến tối đa lĩnh vực áp dụng quyền sở hữu cho những hoạt động sản xuất tri thức. Đầu tư như thế, xí nghiệp được miễn thuế. Và như thế, không những việc tổ chức sản xuất thay đổi sâu xa, mà cả tri thức cũng vậy, vì tri thức dần dần từ bỏ quy chế tài sản chung để biến thành hàng hóa, nghĩa là thành tài nguyên kinh tế trên đó ngự trị quyền tư hữu. Quá trình này đưa đến việc xóa bỏ biên giới giữa những sản phẩm tri thức có thể được bằng sáng chế và những tri thức khỏi hoài công nghĩ đến tấm bằng, giữa tài sản công và tài sản tư về mặt tri thức. Tri thức trở thành một tài sản kinh tế được khai thác để tích lũy tư bản tư.

Lẫn lộn giữa công và tư làm biến đổi cách nhìn về khoa học trong đại học: khoa học nào đưa đến ứng dụng có lợi, có tiền, thì chiếm ưu thắng, thì được biệt đãi. Đạo luật Bayh-Dole chắp thêm cánh cho quá trình đó bay nhanh hơn từ khoa học qua công nghệ, từ nghiên cứu khoa học vô tư qua nghiên cứu khoa học theo chiến lược tư bản. Con sâu làm hỏng trái cây từ trong ruột.

Tất nhiên, lý lẽ của những người bênh vực luật Bayh-Dole không thiếu. Họ nói: luật đó nhằm khuyến khích nghiên cứu khoa học, khuyến khích chuyển đổi nhanh chóng quá trình từ một khám phá khoa học qua ứng dụng công nghệ thực tiễn. Khi sản phẩm mới được tạo ra, còn ai tài giỏi hơn giới kinh doanh để khai thác cho có lợi, lợi đó không phải chỉ riêng xí nghiệp hưởng mà cả xã hội cũng hưởng theo và trước hết là đại học. Sự thực hiển nhiên là như vậy: từ 1980, tài trợ của các xí nghiệp cho nghiên cứu trong đại học tăng lên một cách chóng mặt, ít nhất 500%.[4] Vậy thì Bayh-Dole có gì tiêu cực?

Tiêu cực, các người chỉ trích trả lời, là thị trường đã xâm nhập vào ruột của giáo dục, khiến đại học Mỹ bây giờ ứng xử như một xí nghiệp, nghĩa là vị lợi. Mà lợi thật! Lợi to! Hai đại học, Stanford và California ở San Francisco, đã hưởng một món tiền khổng lồ khi bán một kỹ thuật then chốt về kết hợp gene. Chuyện bên lề: hai nghiên cứu viên có công trong công trình này (Stanley Cohen và Herbert Boyer) lúc đầu chỉ cặm cụi nghiên cứu, tiền bạc để ngoài tai, nhưng doanh nhân trong đại học đâu để cho yên, thuyết phục hai anh nộp đơn xin cấp môn bài. Vụ này gây khá nhiều xôn xao. Vì nhiều lẽ : một, là nhiều nhà nghiên cứu đã đóng góp vào công trình, đâu có phải chỉ hai anh kia mày mò trong tháp ngà từ đầu đến cuối; hai, phần lớn nghiên cứu đã được liên bang tài trợ; ba, khám phá có một tầm quan trọng rất lớn, có khả năng mở ra những khám phá mới, không phải chỉ là sản phẩm cuối cùng đến tay người tiêu thụ. Chính hai anh nghiên cứu kia cũng đâu ngờ mình được bằng sáng chế, tiền trên trời rơi xuống vào tay thì đành phải hốt thôi, có điều là Stanford và UCSF hốt hơi nhiều : 300 triệu Mỹ kim.[5]

Luật Bayh-Dole nhắm phát huy những thành công như thế. Nhưng nếu tất cả đều như thế thì chuyện kể đều thần tiên.Trên thực tế, những phát minh lớn không nhìều mà bằng sáng chế được cấp thì đến hàng ngàn. Nghĩa là xí nghiệp và đại học đua nhau săn bằng sáng chế, đại học xông xáo không thua gì xí nghiệp, có khi bán trước cả cái mình chưa có, chỉ mới có chắc chắn trong tiềm năng, y như chiến thuật đánh úp cú đầu trong quân sự. Chiến thuật ấy, doanh nhân đại học gọi là "hợp tác đánh trước" (preemptive partnership): bán cho xí nghiệp quyền khai thác đầu tiên những phát minh trong tương lai. Kẻ nào quen nghề Tú Bà thì gọi là bán trinh cũng được.

Ví dụ điển hình là hợp đồng giữa Đại học Berkeley và hãng bào chế dược phẩm Thụy Điển Novartis, ký năm 1998. Novartis hiến 25 triệu Mỹ kim trong 5 năm cho phân khoa vi sinh học của Berkeley - một phần ba ngân sách của phân khoa; ngược lại, Berkeley công nhận cho Novartis quyền khai thác hơn một phần ba những khám phá mới và quyền thương lượng về bằng sáng chế trên những khám phá đó (6).[6] Kiểu hợp đồng như vậy bây giờ không hiếm, từ khi nước Mỹ không thu thêm được thuế và phải cắt bớt ngân sách dành cho giáo dục.

Lại chuyện bên lề của hợp tác Berkeley-Novartis: tiền của Novartis được chia chác cho nhân viên của một ủy ban trong đại học; một giáo chức đã từng láng cháng công kích hợp đồng này không được biên chế tuy không ai chối cãi khả năng của anh. Từa tựa như chuyện bên lề của hợp tác với hãng Nike: Nike ngưng tài trợ cho ba trường đại học Michigan, Oregon và Brown, vì sinh viên chỉ trích cách làm việc của Nike trong các nước nghèo, nhất là khai thác lao động của trẻ em.[7]

Chuyện vặt chăng? Đâu phải. Sau khi giải phóng khỏi quyền uy của Nhà Thờ, quyền uy của chính trị, chẳng lẽ bây giờ đại học cúi đầu trước quyền uy của đống tiền? Chẳng lẽ đại học đánh mất cả tự do nghiên cứu, tự do ăn nói trên bục? Đâu rồi cái thuở vô tư trong trắng của một Jonas Salk, người khám phá thuốc chủng polio, khi người ta hỏi ông có kiếm môn bài chăng và ông hỏi lại - ôi, người khoa học sao mà thi sĩ thế: "Bộ quý vị muốn môn bài cả mặt trời hả?".[8]

Có nên kể thêm một chuyện vặt nữa chăng? Khi dư luận chất vấn về tài trợ của Nhà nước liên bang và về cái hợp đồng ấy với Novartis, Berkeley, một đại học công, trả lời: chúng tôi là "đại học được Nhà nước tài trợ". Danh hiệu "đại học công" bây giờ được thế bằng "đại học được Nhà nước tài trợ". Y chang, đại học công Michigan, đại học công Virginia nói cùng một giọng. Như nhiều đại học công khác. Tại sao? Tại vì tài trợ công không đủ để trang trải cho một đại học càng ngày càng bành trướng, càng ngày càng phải cầu viện đến tài trợ tư. Cho đến giữa những năm 1980, tiểu bang California tài trợ cho Berkeley 50% ngân sách; con số ấy trụt xuống 34% năm 1997.[9] Nói chung, 66% ngân quỹ của đại học công Mỹ là do tư nhân tài trợ.[10] Không những biên giới giữa công và tư trở nên nhập nhằng,[11] chuyện đáng nói hơn nữa là cuộc chạy đua của các đại học để săn môn bài không phải lúc nào cũng thành công. Stanford tóm được 80-90 môn bài mỗi năm, vài đại học khác thu được lợi tức khổng lồ, nhưng không hiếm đại học khai thác môn bài không lỗ là may. Jennifer Washburn tính: tất cả đại học thu được 1 tỷ Mỹ kim mỗi năm từ việc khai thác thương mãi dược phẩm, phần mềm vv… nhưng 2/3 của số tiền đó đi vào tay một nhúm nhỏ 13 đại học. Mà ngay cả trong những đại học may mắn này, không phải môn bài nào cũng đem lại xu hào rủng rỉnh, có khi chỉ một hai sản phẩm hái ra tiền. Vậy mà đại học nào cũng lấy hết gân cốt chạy đua trong việc nghiên cứu để kiếm môn bài. Chuyện đáng nói ở đây không phải là thành công hay thất bại, chuyện đáng nói là đại học có cơ nguy đánh mất linh hồn, nghiên cứu khoa học căn bản có cơ nguy thiếu phương tiện phát triển, tri thức nói chung có cơ nguy mất những nghiên cứu nhằm thúc đẩy nghiên cứu trong tương lai, khoa học nói chung có cơ nguy đánh mất đạo đức. Washburn đưa ra trường hợp đại học Wisconsin: các nhà nghiên cứu ở đây lấy ra được tế bào gốc từ con khỉ, thành công đó giúp ích bao nhiêu cho giới khoa học trong việc phát triển nghiên cứu y khoa, nhưng không, Wisconsin bán đứt bằng sáng chế ngay tức khắc cho công ty Geron độc quyền khai thác. Từ nghiên cứu với tinh thần khoa học qua nghiên cứu với tinh thần của kinh tế tư bản, đại học đánh mất lúc nào không hay tư thế tự trị, vốn là giá trị nền tảng của đại học trong lịch sử. Đã đành, đại học Mỹ vẫn làm ăn như thế tự bao giờ, nhưng những biến chuyển gần đây quá sâu, quá rộng, có tầm cỡ quá lớn, tưởng như đại học đã biến đổi.[12] "Biến đổi xảy ra, như có tác giả giải thích, vì sức đòi hỏi sản phẩm mới của xí nghiệp trùng phùng với sự kiếm tìm tài trợ mỗi ngày mỗi lớn của đại học".[13] Từ đó, thị trường trở thành tiêu chuẩn đánh giá thành công của đại học. Và đại học hân hoan chấp nhận thị trường hóa.

Ấy là nghiên cứu. Giảng dạy thì sao? Lại cũng thị trường! Tại sao anh nghiên cứu thì có bằng sáng chế, có tiền, còn tôi giảng dạy thì không? Tôi phải kiếm cách và cách của tôi là đại học ảo. Doanh nhân trong đại học tổ chức đại học ảo cho tôi. Và tiền vào như nước! Thị trường đại học trên mạng mang lại từ 97 triệu Mỹ kim năm 1996 đến 3,9 tỷ năm 2002.[14] Ngay cả hai trường danh tiếng của Anh, Oxford và Cambridge, cũng phải tổ chức thành tổ hợp để phản công đại học ảo do Michigan, Columbia và Berkeley tổ chức, hợp tác với Công ty Time Warner và Walt Disney.[15] Anh nhà giáo xưa nay bán cháo phổi trên bục bây giờ khỏi phải mở miệng, chỉ mất cái tự do. Trở thành cộng tác viên của một bộ phận làm ra tiền, anh phải làm việc với một tinh thần khác do xí nghiệp định đoạt, kiểm soát, gò bó. Ở tầm mức nhỏ bé, anh cũng trở thành "đồng-tư bản" như đại học của anh, lấy giá trị của thị trường làm giá trị của mình - chuyện mà trước đây anh không tưởng tượng ra được.[16] Từ nhà giáo, anh trở thành nhà giáo-doanh nhân, và giáo trình trên mạng của anh, anh cũng phải viết thế nào, về hình thức lẫn nội dung, cho hợp với đòi hỏi của thị trường, qua nhận xét của chuyên viên trong bộ máy quản lý của đại học.

Vấn đề không phải là chỉ trích một sự kiện mới: kiến thức vô vị lợi của đại học cổ truyền đã bị một quá trình thương mãi hóa thay đổi bản chất. Vấn đề là kiến thức, và tất cả sự sản xuất kiến thức, bị uốn nắn trong cái lò kiến thức mà ta đã gọi ở trên là "tư bản đại học". Tương tự như câu nói nổi tiếng ngày xưa của Clemenceau ("chiến tranh là chuyện quá quan trọng để giao cho bọn quân sự"), "đại học ngày nay, đứng trên quan điểm của tư bản, đã trở thành quá quan trọng để giao cho các ông nhà giáo".[17]

Ấy là giảng dạy ảo và tiền. Giảng dạy thật thì tiền đâu? Đây cũng là chuyện không mới mà mới. Ai cũng biết, học ở Mỹ không rẻ. Chuyện ấy không mới. Nhưng học phí ngày nay tăng lên khủng khiếp, đến mức báo động, đó là mới. Giữa 1986-87 và 1996-97, học phí trường công cấp dưới tăng 20%, học phí trường tư cấp dưới tăng 31%. Đó là tính theo một thống kê chính thức. Một thống kê khác, cũng của Nhà nước, làm giật mình hơn: giữa năm học 1980-81 và 1994-95, học phí tăng 234% trong khi lợi tức tăng 82% và giá hàng hóa 74%. Từ 1996-97 đến 2000-2001, nghĩa là chỉ trong khoảng 5 năm, học phí tăng thêm 18% nữa ở trường công và 27% nữa ở trường tư. Tính cùng một trị giá đô la, mức tăng học phí ở cấp 4 năm trong 15 năm qua ở trường công là 69% và ở trường tư là 82%. "Hậu quả xã hội, văn hóa và kinh tế là vô cùng to lớn, và những gì mà ta nói là quan tâm về nội dung của một nền giáo dục tự do sẽ mờ nhạt trước vấn đề giá học phí phải trả".[18] Giữa lúc mà ai cũng nói mức học thức cần thiết để kiếm việc làm đang tăng lên, hàng triệu người trẻ Mỹ, nghèo và trung lưu, bị gạt ra khỏi các trường có chất lượng.

Còn thêm một cái mới nữa: giá trả đắt không phải vì chất lượng của giảng dạy mà vì cạnh tranh, cạnh tranh trên tiếng tăm, trên quan hệ. Đây là cạnh tranh ở cấp cao, càng leo lên nấc thang để vào được những đại học danh tiếng, giá phải trả không liên quan trực tiếp đến chất lượng của giảng dạy mà đến những hoạt động khác, nhất là nghiên cứu. Sinh viên trả học phí rất cao để được tiếng là sinh viên của một đại học nghiên cứu. Vấn đề là: đại học trở thành một thị trường xây dựng trên cạnh tranh để chiếm thương hiệu trong đó người tiêu thụ, nghĩa là sinh viên, phải trả một giá rất đắt để mua một sản phẩm mà giá trị có thể không tương xứng nếu không vì thương hiệu. Mà thương hiệu ở đây căn cứ trước hết trên nghiên cứu. Bao nhiêu thành tích. Bao nhiêu phát minh. Bao nhiêu tên tuổi. Bao nhiêu Nobel… Nhưng những tên tuổi này có dạy thực sự không? Bao nhiêu sinh viên undergraduate hưởng được lời vàng tiếng ngọc của họ? Nhưng thế đấy: đại học đầu tư vào nghiên cứu để tiếp thị tiếng tăm, tiếng tăm là sản phẩm được thặng dư giá trị. Tôi trích lời một tác giả: "Điều mà đại học và giáo sư ở cả trường công lẫn tư đã học được là rốt cuộc, đứng về mặt thị trường, chẳng có lợi ích gì thực sự dành cho những đại học nào cặm cụi dạy cho có phẩm chất đặc biệt… Trên thị trường đó, điều gì xảy ra không phải là cạnh tranh về phẩm chất mà là cạnh tranh về đặc lợi do tăm tiếng mà có".[19] Nhà xã hội học danh tiếng của Pháp, Pierre Bourdieu, đã viết nhiều sách để nói về nhu cầu xác nhận đẳng cấp này.

Ai đánh gíá tiếng tăm? Sáng giá nhất là tên nằm trên US News and World Report. Nằm trên một hàng hay nằm dưới một hàng trong bảng sắp hạng của tạp chí này là túi sẽ đầy thêm hay lưng bớt. Nằm trên thì Nhà nước cấp tiền đầu tư nhiều hơn, xí nghiệp ưu ái hơn, Mạnh Thường Quân rót tiền róc rách hơn (tiền ấy được miễn thuế). Quà ấy (endowment), vào tay Harvard, ngày nay vượt trên 25 tỷ Mỹ kim. Tính theo đầu sinh viên, Princeton còn chơi trội hơn cả Harvard. Cả hai càng ngày càng giàu. Khoảng trên dưới 20% đại học Mỹ cũng càng ngày càng giàu như thế. Điều này có nghĩa là những đại học ấy có khả năng lấy học phí cao và ban trợ cấp cao để lấy những sinh viên nào mà họ muốn.

Tất nhiên, ai bênh vực cạnh tranh có đủ lý lẽ để bênh vực: cạnh tranh là chuyện đương nhiên, "ngựa có bạn cùng đua nước đua mới mạnh". Ai chống đối sẽ nói: cái nhìn ấy thiếu chiều sâu. Trước hết là bất bình đẳng. Đại học là nơi thăng tiến xã hội, vậy mà bây giờ bất bình đẳng xảy ra trầm trọng hơn bao giờ cả giữa các đại học và giữa các sinh viên. Khoảng cách giữa các đại học danh tiếng và các đại học tầm thường càng lớn thì bất bình đẳng xã hội giữa các sinh viên càng tăng. Thứ hai, thế giới đại học và thế giới sinh viên đã không đồng nhất, có ai nghĩ ra được một phương hướng gì thích hợp hơn cho tình trạng thiếu đồng nhất đó chăng? Không! Ngược lại, ai cũng rập khuôn, nghĩa là làm y hệt như người sắp hàng trước mình. Đây là hiện tượng mà các nhà xã hội học ở Stanford gọi là "isomorphism": cả thế giới rập theo những khuôn mẫu lớn đến từ Tây phương về giá trị, về nguyên tắc, về khái niệm, về cách tổ chức xã hội để "hiện đại". Họ nói "hiện đại", ta cũng nói hiện đại. Họ nói "hậu hiện đại", ta cũng nói hậu hiện đại, tuy chẳng biết hậu ở cái chỗ nào. Đại học là một ví dụ tiêu biểu của hiện tượng "isomorphism" ở Mỹ. Bắt chước. Bắt chước nhau. Bắt chước như thế, "các đại học danh tiếng cạnh tranh nhau trình bày cùng một món hàng, ăn cỏ trên cùng một cánh đồng, uống nước cùng trong một giếng".[20] Cũng vậy, các đại học cấp dưới cũng rướn mình lên bằng cách mô phỏng cấp trên, ít nhất để giống kẻ đứng ngay trước mặt. Nghĩa là gì? Là học phí cứ tăng lên, bất bình đẳng tăng theo.

Chấp nhận quy luật của thị trường như một tiến hóa không cưỡng được, hay dù gì đi nữa cũng phải bảo vệ những giá trị không thể để mất của đại học cổ truyền: đó là vấn đề đặt ra cho đại học Âu châu, đặc biệt là đại học Pháp, nơi mà tranh luận đang diễn ra suốt cả năm nay, đưa đến khủng hoảng chưa từng thấy.

Đại học đi về đâu?
ChúngTa.com @ Facebook
Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: .
Tổng số người truy cập: .
Số người đang trực tuyến: .
.
Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,