Đại học đi về đâu?

Cao Huy ThuầnGiáo sư emeritus Đại Học Picardie (Pháp) - Tạp chí Thời đại mới
09:24' SA - Thứ sáu, 19/03/2010

II. Mô phỏng và khủng hoảng: Đại học Âu châu

Trong cuộc tranh đua toàn cầu, Hoa Kỳ áp đặt khuôn mẫu và Âu châu phải phản ứng nếu muốn còn tồn tại. Phản ứng bằng cách nào? Bắt chước. Dùng khí giới của kẻ mạnh để đánh lại nó. Kẻ mạnh đặt đại học dưới quy luật của thực dụng chủ nghĩa, ta cũng phải hướng đại học vào chủ nghĩa thực dụng. Để làm gì? Để phát triển kinh tế. Đó là cứu cánh của đại học nằm trong chương trình đồng nhất hóa tất cả các đại học trong Âu châu, gọi là "quá trình Bologne" thông qua năm 1998.[21] Quá trình đó nhắm hai mục tiêu: tranh giành sinh viên ngoại quốc với Mỹ, và thúc đẩy nghiên cứu để tranh với Mỹ về sáng chế ứng dụng. Quá trình Bologne tạo cơ hội để các nước Âu châu cải tổ đại học của mình.

Tất cả những cải tổ đó, tuy được vạch ra trong khuôn khổ riêng của mỗi nước, đều giống nhau trên đại thể, vì đều lấy hứng từ một nguồn. Tất cả đều hô to một khẩu hiệu, một mệnh lệnh, lặp đi lặp lại từ những năm 1990: đại học là dụng cụ để thực hiện "kinh tế tri thức", "xã hội tri thức". Tất cả đều hoan nghênh "tự trị" đại học. Tất cả đều nhắm đến cái bảng vàng "xuất sắc". Nhưng tất cả đều chưa bằng lòng. Riêng nước Pháp, cải tổ đưa đến khủng hoảng.

"Tự trị" là nguyên tắc được long trọng công nhận. Nhưng tự trị là thế nào? Để làm gì? Thực dụng chủ nghĩa trả lời: để thành công, để hiệu quả nhờ quản lý tốt, để tăng cường đẳng cấp trong nội bộ đại học. Bằng biện pháp gì? Luật cải tổ Pháp trả lời, và đây là một trong những đầu mối tranh cãi: tăng cường quyền hành của hiệu trưởng. Khái niệm "management" xuất hiện: những người có nhiệm vụ điều khiển đại học phải hoạt động như những "manager" và phải được xem như vậy. Họ không phải đội cái mũ giáo chức; họ đội cái mũ doanh nhân, làm việc như doanh nhân, đầu óc giống doanh nhân, dám liều, dám lấy sáng kiến, dám chịu chơi. Đại học nào không có những giáo chức-doanh nhân như vậy, đừng ngần ngại, cứ tuyển doanh nhân ở ngoài.

Được tổ chức lại, chặt chẽ hơn, đại học có thể "tự trị" hơn trong quan hệ với giáo chức: thay vì Nhà nước quản lý như trước, bây giờ Nhà nước trao quyền ấy cho đại học. Hơn thế nữa, đại học có thể quản lý cả những cái "ghế", "ghế" nào dành cho khoa nào, "ghế" nào dành để bổ nhiệm ai, thường xuyên hay có định kỳ, người nước ngoài danh tiếng hay người trong nước đang chờ chực, ôi, mấy cái chuyện tuyển chọn bổ báo này quan trọng khiếp lắm, liên hệ đến vận mạng của bao nhiêu sinh linh trong đại học, hiệu trưởng bây giờ quyền uy như ông trời.

Thế vẫn chưa phải là điều đáng nói nhất. Đáng nói hơn thế là tương quan giữa đại học và giáo chức. Trước, tương quan giữa ai với ai, dù là hiệu trưởng, cũng là tương quan giữa đồng nghiệp, ai cũng là ông bà giáo như ai; bây giờ tương quan mang một tinh thần khác, như giữa người thuê với người làm mướn, giữa hãng với nhân viên: dần dần, từ từ, đại học đang trở thành những thị trường lao động nội bộ.[22] Hôm qua, đại học là một không gian thở hít tự do, không cho gì nhiều nhưng cũng không đòi hỏi gì ráo về phía giáo sư: dạy xong 5 giờ là hoàn tất nhiệm vụ. 5 giờ đã là nhiều lắm rồi; cách đây ba mươi năm chỉ 3 giờ thôi. Ở Đức, sang hơn, giáo sư còn được cấp một ngân khoản và vài tiểu đồng trợ giáo để nghiên cứu và giảng dạy; nếu trời thương mà thưởng cho một Nobel thì đại học nhờ, nếu điện thoại chẳng reo từ kinh đô Thụy Điển thì cũng huề cả làng, chờ xem biết đâu. Không gian đó bây giờ khép lại rồi. Từ 2001, ông giáo sư được tuyển lần đầu ở Đức phải chịu quy luật hưởng lương theo xứng đáng, cho phép đại học "phạt" hoặc "thưởng" tùy theo hiệu quả trong công việc của ông, dở hoặc hay, và ngân khoản mà ông được hưởng lúc bổ nhiệm chẳng còn đi theo chân ông cho đến đầu bạc răng long, mà phải thương lượng lại cuối mỗi kỳ hạn. Ở Pháp, các phó giáo sư phải coi chừng: quy chế làm việc của anh chị có thể bị thay đổi nếu anh chị chỉ dạy cho xong số giờ quy định rồi xếp xó nghiên cứu qua một bên, tiêu diêu ngày tháng.

"Xuất sắc" là phương châm thứ hai trong mọi cải tổ. So với Mỹ, các đại học Âu châu không đến nỗi thấp, nhưng vẫn chỉ mới ngang vai. Phải nâng lên! Nhưng nâng ai bỏ ai? Nâng hết thì không đủ tiền, nên nguyên tắc công bằng buộc phải diễn dịch lại: công bằng là ai giỏi thì được thưởng, ai dở thì ráng chịu thiệt. Ở Đức, tiền được đổ vào một số nhỏ trường được chọn, tha hồ cạnh tranh. Ở Pháp, tha hồ cạnh tranh để đưa ra những dự án mà chỉ một số được chọn. Hoặc tập hợp nhau lại, nâng khả năng lên, để chiếm được danh hiệu "trục nghiên cứu và giảng dạy". Cái bảng vàng cứ ám ảnh hoài trước mắt là bảng sắp hạng Thượng Hải mà Sorbonne, nhục thế, đội sổ dưới những năm mươi mấy tên!

Trong bức tranh chung đượm màu sắc tân tự do như thế của Âu châu, đại học Pháp nổi bật năm nay với một cải cách đưa đến khủng hoảng chưa từng thấy, với xuống đường và bãi học, với sinh viên và giáo sư, với cả tả lẫn hữu, kéo dài đứt nguyên một nửa năm học. Cái gì đặc biệt? Có khá nhiều khúc mắc tâm lý và cá tính riêng của Pháp không nói hết được ở đây, tôi chỉ nêu vài điểm cụ thể trong luật cải cách đã gây nên sóng gió.

Trước hết, về "tự trị". Thay vì tăng quyền chung, như nhiều đại học khác ở Âu châu, cho tất cả các chức năng lãnh đạo, trưởng khoa cũng như trưởng Viện, có nơi trưởng Viện phải dựa lên trưởng khoa mới điều khiển nổi, luật cải cách của Pháp tăng quyền cho hiệu trưởng Viện và hội đồng quản trị. Hội đồng quản trị quyết định về đường lối tổng quát liên quan đến việc "quản lý nhân sự". "Quản lý nhân sự"! Gestion des ressources humaines! Đại học đã biến thành xí nghiệp? Ngôn ngữ của xí nghiệp đã nằm trên lưỡi của đại học? Đại học sẽ được "quản lý" như xí nghiệp? Thong thả. Xin đọc tiếp: Với quyền "tự trị" lớn hơn được công nhận, hiệu trưởng được tự do hơn để sắp xếp "nhân sự" trong việc tuyển chọn, thăng chức, tưởng thưởng (bằng tiền). Tất cả những vấn đề này đều đã được quy định trong quy chế đặc biệt dành cho giáo chức đại học, hiệu trưởng phải tôn trọng. Tuy vậy, giới chỉ trích thấy trước đe dọa của một quyền "hành pháp" được tăng cường: hiệu trưởng có thể sắp xếp "nhân sự" như ông muốn.

"Xuất sắc" là đặc điểm gay cấn thứ hai. Phương châm để đánh giá đại học theo tinh thần của Mỹ, "excellence" bây giờ cũng được đem vào áp dụng cho giáo chức. Giáo chức được đánh giá thường xuyên; công việc giao phó có thể thay đổi tùy theo thưởng phạt. Biện pháp này nhẹ hơn ở Đức (lương được trả tùy theo xứng đáng), nhẹ hơn ở Áo (các giáo sư được tuyển không phải là công chức), nhẹ hơn ở Anh (biên chế đã hủy từ 1988), nhưng tinh thần không khác: quy chế đặc biệt dành cho giáo chức dần dần mất bớt tính đặc biệt. Chưa kể quyền hạn dành cho hiệu trưởng có thể làm phát sinh hiện tượng chiêu tớ, quy tụ bề tôi dưới trướng hiệu trưởng, tuân thủ ý muốn của các vị điều hành, bây giờ là những manager chuyên nghiệp. Đào tạo một người manager dù khó, vẫn không khó bằng đào tạo một ông bà giáo sư suốt đời cặm cụi làm công việc của một nhà thông thái - nghiên cứu, giảng dạy - âm thầm. Một hình ảnh lý tưởng nhòa nhoẹt, một hình ảnh lý tưởng khác khai hoa: đâu phải chuyện nhỏ, cả tinh thần đại học thay đổi.

Bản thân kẻ viết bài này không phải là không thấy những điểm tích cực trong việc đánh giá thường xuyên các giáo chức. Tôi đã có quá nhiều kinh nghiệm với các cộng tác viên, khi tuyển thì ưu tú, sau đó, vì có quy chế đặc biệt đảm bảo, chẳng hề đẻ được một nghiên cứu gì, dù ở tuổi đang còn cường thịnh, làm tê liệt cả một cơ quan nghiên cứu. Ai đó đã nói một câu mà tôi quên ghi tác giả: người dạy đại học phải là những người trẻ và những người không già. Các cộng tác viên mà tôi vừa nói là những ông bà già tóc xanh. Âm thầm, tôi vẫn hằng mong muốn có biện pháp bắt họ làm việc. Thế nhưng, phải nhìn vấn đề một cách sâu hơn: cả một tinh thần làm việc đã sụp đổ. Quy chế đặc biệt có cái luận lý của nó, luận lý đó dựa trên tính chắc chắn. Giáo sư dại học phải được cái chắc chắn đảm bảo - như thẩm phán - để có đủ tự do làm một công việc mà xã hội nghĩ là đặc biệt và phải cần có tự do. Luận lý đó bây giờ được một luận lý khác thay thế, biến cái chắc chắn của quy chế thành cái không chắc chắn của hợp đồng định kỳ, đưa cạnh tranh sống chết giữa đồng nghiệp với nhau lên đỉnh cao chót vót của đạo đức mới. Mất cái chắc chắn, giáo sư đại học có mất tự do không? Bài thơ ngụ ngôn của La Fontaine "Chó sói và chó nhà", là câu trả lời của giới chỉ trích: Chó sói đói khát, chó nhà phè phởn, nhưng ô kìa, nơi cổ con chó nhà có cái gì thế kia, à, cái tróng cổ ấy mà, có sao đâu.[23]

Tôi động đến một vấn đề cốt tử, có thể người bên ngoài không hiểu hết, nhưng quả thực đây là một mũi kim chích đúng vào cột xương sống của đại học Pháp, giải thích tại sao khủng hoảng kéo dài đến thế. Khuyến khích giáo chức nghiên cứu, ai chẳng muốn. Nhưng toàn bộ đạo luật cải cách của Pháp được ướp với thứ hương tân tự do mà ai cũng thấy đậm mùi. Đánh giá? Đồng ý. Nhưng đánh giá bằng cách nào? Ai đánh giá? Đánh giá trên tiêu chuẩn gì? Trên giảng văn, trên nghiên cứu, hay trên lợi ích kinh tế? Đánh giá trên tiêu chuẩn lượng sản phẩm? Nếu thế thì là cái máy đánh giá, đâu phải đồng nghiệp đánh giá nhau như trước đây?

Vả chăng, đánh giá là biện pháp trái ngược với tinh hoa của đại học Pháp. "Đó không phải là giải pháp của nước Pháp: giải pháp của nước Pháp là xem lao động trí óc như là một hoạt động mà tự do là khí hậu phải có; giải pháp đó giao phó trọn vẹn cho lương tâm của mỗi giáo chức để người ấy đi đến tận cùng cố gắng của mình. Người giáo sư dại học tùy thuộc vào lương tâm của mình nhiều hơn là vào quyền uy của cấp trên, lấy lương tâm của mình để hoàn thành nhiệm vụ trong vòng tay bảo đảm của những quyền mà người ấy có. Dù đã là người thì ai cũng có khuyết điểm, chưa ai chứng minh được rằng giải pháp đó là dở, Ít ra, giải pháp ấy, khi giải phóng một số người ra khỏi những lệ thuộc bên ngoài, cũng đã làm cho những người đó thành những người tự do".[24]

Tôi trích mấy câu trên từ một giáo sư luật nổi tiếng, Jean Rivero, thầy của thế hệ chúng tôi. để cốt nói rằng muốn hiểu sự chống đối trong đại học Pháp đối với "chủ nghĩa đánh giá" đượm mùi tân tự do phải hiểu quy chế tự do truyền thống dành cho giáo sư đại học. Tự trị của đại học, trước hết là tự do của giáo sư, tự do trong giảng dạy về quan điểm phát biểu, tự do trong nghiên cứu về đề tài chọn lựa, không bị một áp lực từ quyền uy nào, tôn giáo, chính trị, hay thị trường kinh tế. Việc đánh giá được thực hiện lúc tuyển chọn, do chính các giáo sư đồng nghiệp đảm nhận, trên tiêu chuẩn duy nhất khoa học. Trong cộng đồng đại học, không ai đánh giá đồng nghiệp đúng đắn hơn là do chính đồng nghiệp. Đó là sự đánh giá dựa trên tự do, khác hẳn với sự đánh giá thường xuyên từ cấp cao, từ ông hiệu trưởng và hội đồng quản trị được nâng quyền hạn, coi rẻ hội đồng khoa học đáng lẽ phải là cơ quan thích ứng. Từ một không gian tự do, trong đó không có trên dưới, chỉ có đồng nghiệp, giáo chức bị đưa vào một không gian cơ xưởng, làm việc dưới sự giám sát thường xuyên của thượng cấp, ngay ngáy chăm chăm đạt cho được một "hiệu quả" mà tiêu chuẩn tùy ở sự thẩm định của các vị giáo chức đã biến thành manager, hoặc các manager từ bên ngoài nhảy vào đại học. Đó là quá trình biến giáo chức đại học thành "nhân viên của đại học", "employés de l'Université", theo ngôn ngữ mới của đạo luật.

Trở về lại với ngụ ngôn của La Fontaine. Con chó sói gầy lòi xương sườn, nhưng nó tự do. Nguẩy đuôi nịnh chủ không phải là nghề của nó. Bụng nó lép xẹp, nhưng cổ nó không có tróng. Giáo sư đại học cũng vậy. Lương tháng chẳng bao nhiêu. Nhưng tự do trên bục, tự do trong phòng thí nghiệm. "Và nếu có người chẳng làm gì ra hồn (về nghiên cứu), sự việc họ không bị trừng phạt chính là bằng chứng sống động cho biết rằng những người khác, đại đa số, làm việc cật lực mà chẳng cần ai thúc đẩy. Việc đánh giá không thiếu, nhưng cách thức thực hiện nhắm vào sự kính nể của đồng nghiệp mà ai cũng muốn có một cách tự nhiên, hơn là vào đầu óc tôi chúa. Hơn nữa, dù có được chút bổng lộc gì trong việc đánh giá, chút ấy quá bé nhỏ để cho người nào chẳng bận tâm không thấy đời sống của mình có gì bị quấy rối đáng kể".[25]

Con chó sói quay lại về rừng. Còn giáo sư đại học trong cải cách mới? Có còn giữ được tự do tư tưởng không? Hay là phải "be he với đàn cừu" dưới sự lãnh đạo anh minh của ngài hiệu trưởng?

III. Vài ý tưởng cũ cho thời đại mới

1. Về đại học

Tôi e rằng trên đây là hướng "đi vào thế kỷ 21" của mọi đại học trên thế giới. Nhưng không phải tất cả giáo sư đại học đều đồng ý. Cũng không phải đại học nào, kể cả Mỹ, đều lừng lững đi tới mà không cảnh giác. Đại học Mỹ đồng thời cũng biết thiên chức của giáo dục mà họ gìn giữ. Năm ngoái, tôi đã trích bài diễn văn nhậm chức của bà Drew G. Faust, hiệu trưởng trường đại học Harvard. Năm nay, tôi trích thêm một câu nữa để nhắc lại lý tưởng đó, luôn luôn sống động trong truyền thống đại học ở Mỹ, khiến họ mạnh về cả hai mặt, mặt thực dụng cũng như mặt văn hóa:

"Đại học, về bản chất, nuôi dưỡng một văn hóa luôn luôn động, có thể nói là không có kỷ luật […] Không dễ gì thuyết phục một dân tộc hay một thế giới phải tôn trọng, nói gì hậu thuẫn, những định chế mà chức năng là thách thức những định đề căn bản của xã hội […] Tôi tin rằng Harvard sẽ duy trì được những truyền thống tự do của đại học và đức tính khoan dung đối với những gì không phải là chính thống".[26]

Tôi không dám mơ ước một đại học như thế ở nước ta, nhưng tinh thần độc lập, tự trị của đại học là lý tưởng mà chúng ta có thể mơ ước, dù chỉ để làm phương hướng nhắm đến. Tôi cũng không mơ ước tự trị ở đâu xa, chỉ mong có "tự trị khoa học". Đại học đi về đâu cũng là tùy những người trong cộng đồng ấy có cái đầu óc gì. Dù là chỉ nghiên cứu mà thôi, không người nào có thể tự nhận mình là một người làm khoa học nếu không có trước tiên một đầu óc độc lập - độc lập với cả những chân lý mà mình đã thâu nhận. Vì tinh thần độc lập căn bản ấy, tôi xin được trở lui với nguồn gốc của đại học trong lịch sử phương Tây.

Đại học Âu châu sinh ra rất sớm, hồi thế kỷ 12, dưới tấm áo của Nhà thờ, nhưng được hưởng một quy chế tự trị tương đối, từ đó dần dần được xác nhận thêm do chính công sức của đại học. Trong một xã hội dần dần đi vào hiện đại với sự tách biệt giữa Nhà thờ và Nhà nước rồi giữa Nhà nước và xã hội công dân, đại học là nơi thích hợp nhất, chính nhờ quy chế tự trị ấy, để suy nghĩ về một tổng hợp văn hóa giữa truyền thống và tiến bộ khoa học, giữa những niềm tin cũ và việc "tự do đi tìm chân lý" mà kiến thức khoa học đòi hỏi. Chức năng suy tư ấy gắn liền với một ý tưởng được công nhận: có một thế giới siêu việt của tư tưởng, của khoa học, của văn hóa, và thế giới ấy cần được hiểu biết một cách thống nhất, thông suốt. Do đó, đại học ngày trước hoạt động dưới sự chỉ huy của một môn học thống soái, triết học, qua đó chức năng tổng hợp được thực hiện, và quanh đó các môn học khác được quy tụ để được hướng dẫn về tư tưởng như các hành tinh xoay quanh mặt trời. Cũng do đó, cũng từ ý tưởng có một sự thống nhất nguyên thủy giữa tất cả những kiến thức lý thuyết, nghĩa là những kiến thức liên quan đến chân lý, mà tên gọi của bằng cấp cao nhất trong đại học Mỹ là Ph.D, tiến sĩ triết học.[27]

Song song với chức năng làm tổng hợp các kiến thức với một cái nhìn phê phán như thế, nhờ một quy chế công nhận uy thế tự trị của một thế giới trí óc siêu việt như thế, đại học cũng đảm đương chức năng cụ thể hơn là đào tạo ngành nghề, khởi thủy là luật học và y học. Dần dần, với phát triển tư bản, đại học cũng quan tâm đến kinh tế, nhưng đây là quan tâm thứ yếu, gián tiếp. Quan tâm chính là đào tạo tầng lớp ưu tú trong lĩnh vực chính trị và hành chính cho Nhà nước và xây đắp, chuyển giao một cách có hệ thống và phê phán, một nền văn hóa chung - văn hóa "tư sản" và "nhân bản" đặc biệt của thời hiện đại. Đào tạo ngành nghề được giao phó cho các trường chuyên môn riêng. Đó là nguồn gốc của sự phân biệt giữa kiến thức "thuần túy", tổng hợp, lý thuyết, và kiến thức ứng dụng, thực hành, công cụ.

Chức năng trí óc đó, không ai nói rõ hơn Léon Bourgeois (1851-1925), một trong những nhân vật chính trị chủ chốt của Đệ Tam Cộng Hòa Pháp, nhiều lần bộ trưởng, thủ tướng, lý thuyết gia, và bộ trưởng giáo dục lúc ông trình bày dự án cải tổ đại học Pháp năm 1890. Trước ông, với kinh tế tư bản phát triển nhanh chóng, các trường ngành nghề đã được mở ra để giải quyết cấp bách việc cung cấp nhân sự, nhất là các trường kỷ sư, sư phạm mà điển hình là trường Polytechnique và Normale Supérieure. Nhưng đại học không phải chỉ thế:

"Điều làm cho đại học quan trọng đến vậy trong một quốc gia, không phải là vì đại học đào tạo luật sư, đào tạo bác sĩ, đào tạo thầm phán, đào tạo những nhà nhân bản, cũng không phải vì đại học nuôi dưỡng hay phát huy lòng yêu chuộng học thức vô vị lợi hay ham thích khoa học, cũng chẳng vì đại học nâng cao trình độ kiến thức của con người - tất nhiên đó là những lợi ích vô biên, nhưng dù sao cũng chỉ là lợi ích thứ yếu - điều làm cho đại học quan trọng đến thế, thiết yếu đến thế, là, hơn bất cứ gì khác, hơn tất cả những lý tưởng cộng lại, đại học góp phần tạo nên trí óc của giới mà ta gọi bằng một tên không đúng hẳn, là giai cấp trung lưu. Không đúng, bởi vì đó không phải là giai cấp, mà là quy tụ cùng khắp, trên cao, dưới thấp. Dù không phải là giai cấp, đó là một sức mạnh, một sức mạnh không gì phá hủy được; đó là gân cốt, là thần kinh, là vẻ đẹp lộng lẫy của một dân tộc, mà nếu chia rẽ thì các chính quyền sẽ gặp khó khăn và xã hội có khi rơi vào hiểm họa".[28]

Đó là mấy câu ông trích từ một nhân vật khác. Đây là mấy câu của ông:

"Đại học quan trọng, không phải vì chuẩn bị cho nghề nghiệp, mà vì ảnh hưởng dội lên trên trí óc, và chính vì ta tin rằng trong việc truyền bá những tư tưởng dần dần thành hình từ các giảng đường, chính vì ta tin rằng từ đó toát ra sức mạnh cốt tủy của toàn thể đất nước, chính vì vậy mà ta mong muốn đại học ấy phải được tổ chức toàn vẹn đến mức tối đa. Đại học, như ta hiểu, là nguồn suối của những tư tưởng tổng quát của toàn thể đất nước".[29]

Lãnh chức năng làm cái đầu suy tưởng cho cả nước, chẳng lẽ chính cái đầu đó không độc lập? Không suy tưởng một cách độc lập, nghĩa là phê phán?

Ví thử ngày nay đại học không thực hiện được toàn vẹn chức năng đó nữa, vì bây giờ đại học không còn là của một tầng lớp ưu tú mà đã thành của quần chúng rộng rãi rồi, chức năng đó có mất đi chăng? Hãy xem đại học Mỹ: "Giữa lòng hiện đại, đại học chiếm một vị thế trung tâm trong việc đào tạo công dân cho Nhà nước, song song với việc sản xuất một ý thức hệ cắt nghĩa mối liên hệ giữa những công dân đó với Nhà nước, dân tộc".[30] Nghĩa là chức năng văn hóa, bởi vì văn hóa luôn luôn gắn liền với thực thể dân tộc, quốc gia. Và văn hóa của nước Mỹ là gì? Là dân chủ. Đại học đào tạo công dân để làm vinh danh một nước dân chủ. Mà muốn vinh danh một nước dân chủ, trước hết phải vinh danh dân chủ trong lòng đại học, vinh danh dân chủ, tự do trong chính cái đầu của mình, của người dạy học.

Vì vẫn giữ niềm tin vững chắc rằng, tự trong thâm tâm mỗi người đi dạy, ai cũng nghĩ rằng cái đầu của mình phải độc lập, cho nên tôi mới đặt câu hỏi này cho đại học của ta: ta muốn đại học của mình là gì? Là một cấp cao hơn cấp trung học - trung học cấp bốn chẳng hạn - hay là một cấp khác, có thêm một chức năng khác, chức năng suy nghĩ?

Một câu hỏi tiếp theo: ta muốn đại học của mình là gì, là một trường dạy nghề? Ta muốn kiến thức trong đại học ta là gì? Kiến thức cục bộ, kiến thức chuyên môn, kiến thức thực dụng? Trước khi trả lời câu hỏi này một cách cụ thể, tôi xin được lược qua chút ít lý thuyết về tri thức.

Đại học đi về đâu?
ChúngTa.com @ Facebook
Thống kê truy cập
Số lượt truy cập: .
Tổng số người truy cập: .
Số người đang trực tuyến: .
.
Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,